Roger Canfield’s Americong #2

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copy right holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

***** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 2

 

Các Lãnh tụ phản đối chiến tranh: Cổ xúy, Điệp viên và Phản bội

 Các Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến: Cổ Xúy, Điệp Viên và Phản Bội

Trong Thế Chiến thứ II, các kẻ thù của Mỹ và các cộng sự viên của chúng đã sử dụng các chủ đề tuyên truyền chung nhằm chống lại quân đội Mỹ: Tổng thống Roosevelt đã nói láo, chiến tranh là bất hợp pháp và không thể nào thắng được. Trong số các sứ giả đã có “Bông Hồng Đông Kinh”, Iva Toguri, người gốc Nhật sinh ra ở Mỹ mà đã bị bị kết án về tội phản quốc sau chiến tranh.  Chiến dịch tuyên truyền tâm lý của Nhật Bản rất là thô sơ, thô lỗ và không hiệu quả. Hoàn toàn ngược lại, Việt Bắc, sau kinh nghiệm với đầy đủ thực hành từ bọn quan thày Bolsheviki và Mao-ít của mình và cũng từ kinh nghiệm bản thân về Pháp 443, đã hoàn thiện nghệ thuật và khoa học tuyên truyền.

Hình: Roger Canfield. Người Pháp biểu tình chống đối treo ở “Hà-nội Hilton”, Bảo tàng Hỏa Lò ở Hà-nội, tháng 3, 2008

Các chủ đề tuyên truyền của Việt Nam đã được khuếch đại, và được phát đi từ các phòng chuyển tiếng cực mạnh ngay trong căn cứ địch, – từ hậu phương và từ Mặt trận thứ hai ở Mỹ. Jane Fonda, Tom Hayden, Cora Weiss, David Dellinger, Eldridge Cleaver, Stokely Carmichael cùng những tên khác sẽ đã vượt xa Bà Toguri và các đối tác ở châu Âu trong việc phát thanh tuyên truyền cho kẻ thù như Axis Sally, Lord Haw Haw.

Cũng không thua gì Hà Nội Hannah, một chương trình phát thanh cộng sản nhằm tới quân đội Mỹ tại ViệtNam, mà đã cho biết:

Chúng tôi truyền thanh các băng được gửi cho chúng tôi bởi những người Mỹ phản chiến. Tôi tin rằng  những việc này có hiệu quả nhất . … Chúng tôi nghĩ rằng các chương trình phát sóng đã có một số hiệu quả,  bởi vì chúng tôi thấy được là  phong trào phản chiến ở Mỹ đã bắt đầu, rối  phát triển và vì vậy chúng tôi nghĩ rằng chương trình  truyền thanh của chúng tôi là một hỗ trợ cho phong trào phản chiến. 444  … Nhà báo Úc Wilfred Burchett đã giúp chúng tôi … và một phụ nữ Pháp, Madelaine Riffaud. … Chúng tôi đã  phỏng vấn nhiều lần  Cora Weiss với Jane Fonda. … Chúng tôi đã rút các nhận xét của các nhà báo Mỹ và dùng chúng  trong chương trình phát sóng của chúng tôi, đặc biệt là các nhận xét về con số  thương vong …  thương vong cao. … Vâng, vâng, chúng tôi đã mua  nhạc của những người Mỹ tiến bộ mà đã  đến thăm Hà Nội. … Chúng tôi khuyên họ nên  làm những gì họ nghĩ rằng thích hợp để  chống lại chiến tranh. …. Đó không phải là một ý tưởng mới. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, chúng tôi cũng đã từng  có loại phát sóng tương tự cho các người lính Pháp. 445

Vẫn Những Tên Từng Bị Tình Nghi và Nhiều Tên Khác Nữa

Ngoài những tên từng bị nghi ngờ thì cũng có nhiều nhân vật ít nổi tiếng hơn mà đã hợp tác với địch. Với một vài ngoại lệ, thì cũng không lợi lộc gì mà chuyên chú vào những kỷ niệm đã phai mờ với thời gian và những bộ hồi ký có tính cách tự phục vụ của các tên chiến sĩ vì hòa bình rất hạnh phúc này – các thư viện đều có đầy kệ loại tài liệu này. Tốt hơn thì ta nên chuyên chú vào các chương trình phát thanh , tạp chí, truyền đơn, tài liệu và các ấn phẩm ngày nay của phong trào phản chiến và của Bắc Việt cùng các mặt trận của chúng, kể cả Việt Cộng (Mặt trận giải phóng quốc gia, Chính phủ Cách mạng Lâm Thời của Việt Nam) và các tài liệu đã được giải mật của FBI, NSA, DIA và CIA.

Phong trào phản chiến đã không phải hoàn toàn chỉ gồm những tên hippies lấy hoa gắn vô nòng súng và chủ trương làm tình thay vì đánh nhau. Chúng tôi muốn nhấn mạnh vì sợ rằng sẽ bị chóng quên, phong trào phản chiến thời Việt Nam đã vu cáo là việc chính phủ Mỹ từng phạm tội ác chiến tranh chính là ngay  chính sách quốc gia – cố tình tàn sát phụ nữ và trẻ em, phá hủy các bệnh viện, nghĩa trang, và chùa chiền, bằng cách sử dụng loại khí độc đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và tiến hành nạn diệt chủng. Các cáo buộc về nạn diệt chủng – giết chết hay bầm xác 8 triệu người miền Nam Việt Nam(57% toàn bộ dân số ) … đã phần lớn không được đối đáp lại. 446 Phong trào phản chiến đã giúp tuyên truyền chiến tranh của địch một cách nhiệt tình, không hề suy nghĩ … không hề kiểm soát. Ngược lại hoàn toàn thì như Robert Elegant đã nhớ, Mỹ rất tự chế, ví dụ như một cấp chỉ huy Mỹ đã ra lệnh cho binh sĩ không được tấn công 100 tên Việt Cộng – Chúng đã đang sử dụng phụ nữ và trẻ em làm lá chắn – thì lại là một sự kiện không đáng lưu ý để mà phải tường thuật lại. 447  Để sửa chữa các  sai lầm về không thông tin và về những mệnh lệnh như vậy thì cần phải so sánh giữa các sự kiện được biết đến với những thông điệp có tính cách tuyên truyền. Khi làm khác hơn thì chỉ là đơn giản lặp lại và tiếp diễn những gian dối củ mà đã từng được dùng để đánh bại chúng ta tại Việt Nam và vẫn còn đang đầu độc cuộc tranh luận toàn quốc của chúng ta về chiến tranh, hòa bình, về giới quân sự, các chính trị gia và các vấn đề ngoại giao.

Phong trào phản chiến bắt chước y hệt rất chính xác các thông điệp tuyên truyền và chủ đề của địch, – các điểm tranh luận, tường thuật, các khuôn mẫu – thường y hệt từng danh từ cùng với các con số và cả các bức ảnh chụp. Trong thế giới của ngôn ngữ trung thực, điều này sẽ là một điều đáng xấu hổ, gọi là đạo văn.  Bắc Việt đã chở sách báo tới Mỹ, ví dụ như Seattle, Berkeley. Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Hà Nội thi hành việc tuyên truyền này: làm suy yếu tinh thần của bộ binh, hải quân và không quân đang phục vụ tại Việt Nam, lừa dối công luận, làm suy yếu ý chí của các chính trị gia và gây bối rối cho số người chuyên chỉ bàn tán mà thôi. Hà Nội đã dùng phong trào phản chiến để mớm lời cho giới truyền thông báo chí Mỹ, – bọn phóng viên trẻ tuổi, lười biếng và cả tin – bằng tiêu đề, văn bản, số, hình ảnh, và phim ảnh. Dùng số tiền đã được ‘rửa’ thông qua các tổ chức do KGB của Liên Xô kiểm soát  448 như là Soviet Russian Orthodox Church, the World Council of Churches, the Christian Peace Conference, 449 hay số nhà thờ chính thống Mỹ, Hội đồng Hòa bình thế giới, các mặt trận hòa bình, và các hội nghị hòa bình nhằm cung cấp vũ khí cho Hà Nội , Liên Xô và các chư hầu Đông Âu cùng Đảng Cộng sản Mỹ đã tìm nhiều cách để che dấu sự kiện họ đã trang trải cả giấy, mực in và phim chụp cho phong trào hòa bình và cả luôn cả việc cung cấp thực phẩm, vé máy bay, phòng khách sạn, điện thoại và nơi đặt văn phòng.

Việc tuyên truyền ở hậu phương – ở Mặt trận thứ hai tại Mỹ đã được tính toán hầu đem lại cho đối phương một chiến thắng về chính trị, mà bất chấp tất cả những thiệt hại khủng khiếp trên chiến trường và luôn cả sự kiện các cán bộ Việt Cộng trong nông thôn Nam Việt đều đã bị loại sạch. Trong đa số của thời Việt Nam, việc phản đối chiến tranh, đôi khi đầy tính bạo lực, cùng các đợt tuyên truyền gần giống hệt như nhau đã thành công trong việc biến các chiến thắng trên chiến trường tại Việt Nam thành những thất bại chính trị ở quốc nội, và cuối cùng đã đưa đến việc phản bội các đồng minh của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam và tới một chiến thắng của Cộng sản . Phong trào phản chiến đã đóng một vai trò chính yếu trong việc làm xói mòn sự ủng hộ của công chúng đối với chiến tranh, làm loãng ý chí chính trị của các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự và trong cố gắng làm tan rã tinh thần chiến đấu của quân đội tại ViệtNam.

Từ 1975, cứ mỗi 30 tháng 4 thì đám tướng lãnh và viên chức ngoại giao Bắc Việt đều luôn luôn ghi nhận và mang ơn phong trào phản chiến ở Mỹ là đã đóng góp rất lớn lao vào chiến thắng của chúng. Y như trong chiến tranh với Pháp, từ ban đầu, Cộng sản Bắc ViệtNamđã chủ trương chính trị cùng việc phản kháng như là một phần không thể tách rời của chiến lược chiến tranh của chúng. Việc  ca ngợi và tôn vinh – bao gồm luôn cả  Jane Fonda, Tom Hayden, John Kerry, Cora Weiss, Rennie Davis, Ramsey Clark, Bertram Russell, Al Hubbard và các tên khác – không phải chỉ là những hình thức trống rổng.

Số lớn các lãnh tụ chóp bu của  Peoples Coalition for Peace and Justice, Students for a Democratic Society, May Day Tribe, Women‘s Strike for Peace, Weather Underground, Mobilization (Student, National, New), Committee of Liaison with Families of Servicemen Detained in North Vietnam, Clergy and Laity Concerned 451, American Friends Service Committee, Fellowship of Reconciliation, American Deserters Committee, và Vietnam Veterans Against the War đã đi Hà Nội, Paris, Bratislava, Stockholm, Copenhagen, Oslo, Havana, Toronto, Windsor, Budapest, Moscow và Bắc Kinh để gặp kẻ thù – các tên đại diện của Bắc Việt và con đở đầu của chúng là bọn Việt Cộng. Chúng thường gặp nhau trong nhiều ngày và nhiều tuần trong các thời gian trước , trong và sau các cuộc hội nghị. Các tên lãnh tụ công khai tự nhận bênh vực cho hòa bình, cho lòng nhân đạo và cho tôn giáo đã khoác lên bộ áo hợp pháp cho các nhóm tiền phong Cộng sản mà đã hỗ trợ kẻ thù. Chính quyền Mỹ hiếm khi đối xử đúng với các tên tình nguyện cộng tác này theo tầm mức gian dối và phản quốc của chúng.

Các tên lãnh tụ phản chiến tranh thảo luận trước về chiến lược chống đối và sau đó phối hợp các các hoạt động chống chiến tranh cùng các chủ đề tuyên truyền 452 với kẻ địch, mà thường thì đã ra chỉ thị trước về các hành động và theo sau đó là các điện tín chúc mừng nếu những chỉ thị của chúng đã được tuân hành. Như chúng ta sẽ thấy sau này theo các chi tiết được phương pháp hóa, các chủ đề tuyên truyền của địch và của – phong trào hòa bình thường giống nhau đến từng chữ. Và trong khi chiến tranh cứ tiếp diễn thì những chủ đề chung phổ biến đã bao gồm: tín đồ Phật giáo bị đàn áp , các mặt trận đoàn kết, các hành vi chống đối, tội phạm chiến tranh, tù binh chiến tranh, ném bom đê điều, quyết định cả về ngày tháng, Hiệp định Hòa bình của Nhân dân, Các Bảy điểm, Các Chín điểm, hơi độc, tù nhân chính trị , các hành vi  bạo tàn, không tập, chuồng cọp, chế độ Thiệu, chính sách về bầu cử.

 Vài cá nhân đã nổi bật ra. Bên cạnh tên cơ hội chủ nghĩa quen thuộc John Kerry, trong  phong trào phản chiến thì có Tom Hayden, tay chồng thứ nhì của Jane Fonda và cũng là tên sáng lập Students for a Democratic Society, SDS , môt tên lãnh tụ cao cấp mà các hoạt  động đã rất tiêu biểu cho sinh hoạt của các tên khác không nổi tiếng bằng mà chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu trong suốt câu chuyện về tội phản quốc và phản bội. David Dellinger, tên tự mô tả là cộng sản nhưng không theo Liên Xô, như Hayden, đã là lãnh tụ trong một số tổ chức chống chiến tranh quốc gia như National Mobilization, People‘s Coalition for Peace and Justice (PCPJ), and Committee of Liaison with Families of Servicemen Detained in North Vietnam (COLIFAM). Cora Rubin Weiss thì dẫn đầu Women Strike for Peace (WSP), một chi nhánh của mặt trận Women‘s International Democratic Federation, 453 WIDF thuộc Liên Xô, và y thị cũng phụ trách COLIFAM, một mặt trận tuyên truyền mà Hà Nội dùng để khai thác tù binh chiến tranh Mỹ và cũng là một khuôn mặt chính trong nhiều sự kiện lịch sử, kể cả việc giữ bản quyền tiếng Anh của sách tường trình cuộc chiến thắng của tên Tướng của Hà-nội, Đại thắng mùa Xuân của Chúng tôi.

 Một cách nhân đạo thì có thể gọi chúng là Nhóm Dành Ảnh Hưởng Hành Lang cho Hà-nội (Hà Nội Lobby). Chính xác hơn, thì chúng là những chuyên viên tâm lý không đăng ký của Hà Nội. Đóng vai trò chủ yếu đã là: Jane Fonda, Vietnam Veterans Against the War/Winter Soldier, United States Servicemen’s Fund (USSF); Rennard Gordon ‘Rennie’  Davis, National and Spring and New Mobilizations, Chicago 7 defendant: Douglas Dowd, Mobilizations; Stewart Meacham, American Friends Service Committee, AFSC; 454  Cũng chính là Richard Fernandez, Clergy and Laity Concerned (CALC); Sidney Peck, trước là  CPUSA, Chicago Peace Council, World Peace Council  455; Noam Chomsky, tên Mác-xít Howard Zinn, Eldridge Cleaver. Và nhiều tên khác liệt kê dưới đây. Chúng tôi xin lỗi với có quá nhiều cá nhân, nhóm, hội họp và sự kiện đã được tường thuật, nhưng quả thật đã xảy ra như vậy. Các miếng quảng cáo dán vô cản xe hơi và các tiểu luận không thể thay thế được cho hàng đống dữ kiện đủ để bác bỏ những huyền thoại chủ yếu về lịch sử của phong trào hòa bình trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và để làm sống lại những ký ức của tính cách đáng kính của di sản Việt Nam, thiết yếu biết bao nhiêu cho ý nguyện của chúng ta rằng sự tồn tại của nước Mỹ quả thật vô giá với các chiến tranh trong tương lai. Vụ ViệtNam không thể được kể lại được chỉ trong một tiểu luận, một đoãn thiên, hoặc một kịch bản dài vỏn vẹn 90 phút. Chúng tôi đã quyết định dùng gần cho tới ba bộ.

Bọn Điệp Viên, Bọn Cổ Xúy, Bọn Gián Điệp hay Bọn Phản quốc?

Đóng vai người cổ xúy cho một thân chủ trong thời bình quả là một nghề hợp pháp đối về luật hoặc ngoại giao, nhưng khi là một tác nhân gây ảnh hưởng hoặc một gián điệp làm việc cho địch trong chiến tranh thì là tội phản quốc. Tội phản quốc không phải chỉ là những phát ngôn về những quan điểm trái ngược, nhưng chính là những hành vi do sự sai bảo của kẻ thù nhằm giúp đở và an ủi kẻ thù cùng phản bội và gây tổn hại cho đất nước của chính mình trong thời chiến tranh.

Sau sự kiện ViệtNamthì tội phản quốc có thể xem như không còn về luật pháp, nhưng Hiến pháp Hoa Kỳ vẫn không hề bị sửa đổi:

Điều III, Mục 3: Phản quốc chống lại Hoa Kỳ, chỉ có nghĩa là động binh để đánh Hoa kỳ, hay nhập cuộc với các kẻ thù, giúp đở chúng và nâng đở chúng. Không bất kỳ ai lại có thể bị kết án về tội phản quốc nếu mà không có lời khai của cùng hai người cùng liên quan đến chỉ cùng một hành động công khai, hoặc theo lời cung khai trong một phiên tòa công khai.

Peter Collier, cựu biên tập viên của tờ Ramparts, nói rằng rất nhiều tên lãnh tụ phản chiến  nổi tiếng nhất trong thời chiến tranh Việt Nam đã phạm – loại tội  phản quốc ‘mà không chịu trách nhiệm’ . David Horowitz, biên tập viên tại tờ Ramparts của Hayden, cho biết là không còn nghi ngờ gì nữa về việc Hayden đã  rao giảng tuyên truyền cho Bắc Việt trong các bài viết của y ở Ramparts và việc phân tích cẩn thận của chúng tôi sẽ chứng minh điều đó. Henry Mark Holzer và Erica Holzer đưa ra những luận cứ pháp lý rất thuyết phục là đáng lý Jane Fonda đã phải bị truy tố về tội phản quốc. 456 Việc tường thuật theo chi tiết của chúng tôi về ngay những lời phát ngôn trong nhiều chương trình truyền thanh và nhân các hoạt động chính trị của y thị sẽ cho phép người đọc tự quyết định. Chúng tôi tin rằng chúng tôi chứng minh được rằng Fonda và nhiều tên khác đã – động viên để đánh lại Hoa Kỳ. Chúng đã – tham gia hoạt động chung theo với các kẻ thù và – còn trợ giúp và yểm trợ họ. Xuyên qua những tuyên bố trên Đài phát thanh Hà Nội và trong những bài phát biểu tại các cuộc biểu tình, đã có hàng ngàn nhân chứng đối với các hành vi công khai này.

Ở mức tối thiểu nào đó, đã có rất nhiều lãnh tụ phản chiến từng hoạt động như những điệp viên tuyên truyền cho chính phủ Bắc Việt. Theo Bộ Tư pháp: Điệp viên là một người hay một tổ chức nào đó mà hành động theo lệnh, đòi hỏi, hoặc dưới sự chỉ đạo hay kiểm soát của một kẻ chỉ huy nước ngoài. Chắc chắn, Việt Nam thường xuyên đòi hỏi, và phong trào phản chiến thì nhiệt tình tham gia vào những hoạt động có đặc tính của điệp viên: tổ chức và hành động chính trị, quan hệ công cộng, quyên tiền – tất cả đều nhằm vận động thay mặt cho lợi ích của một kẻ chỉ huy ngoại quốc. Chúng vận động cho lợi ích của địch trong một thời chiến.

Đạo luật Logan ( Chương 18, Luật Hoa Kỳ, đoạn 953) nghiêm cấm các công dân Mỹ trong việc, hoặc giao tiếp (hay liên lạc thơ từ) mà không có sự chấp thuận của thẩm quyền Mỹ, với một chính phủ ngoại quốc về bất kỳ tranh chấp hay tranh cãi cũng như là  ủng hộ nhằm khiến cho một phương sách của Hoa Kỳ phải bị thất bại .

Một chính phủ ngoại quốc có thể có những người ủng hộ, nhưng họ phải đăng ký, phải tiết lộ khã năng tài chính của mình và nhiệm vụ của họ chiếu theo Foreign Agents Registration Act, FARA. Thật vậy, cũng vì những người vận động hành lang vì lợi ích của các nông dân, các doanh nghiệp, các đoàn thể và các tôn giáo phải đăng ký với chính quyền phủ Mỹ, – thì tại sao những người làm việc cho các cường quốc nước ngoài, đặc biệt là trong một thời chiến lại không phải làm vậy? Ít ra thì bọn Mỹ phản chiến trong vai trò ủng hộ viên đáng lý đã phải đăng ký là làm việc cho một thế lực nước ngoài, Bắc Việt Nam, và đã phải bị trừng phạt nếu không làm vậy. Cựu thành viên CPUSA Leonard Boudin, cha của Kathy Boudin, một kẻ được nuôi dưởng theo lý thuyết cộng sản từ khi lọt lòng và đã từng đi Havana, Moscow, với Prague và đã tham dự các buổi liên hoan thanh niên cũng như tới các tòa đại sứ Liên Xô, 457 đã tự đăng ký như một nhân viên của Cuba, một luật sư làm cho chính phủ của Fidel Castro. 458  Các hội viên của National Lawyers Guild đã từng làm như vậy, như Victor Rabinovich, Mike Krinsky, Alan Dranitkze, Hal Myerson, Bill Schaap và Ellen Chapnick. 459 Một kẻ trong tư cách này mà không thông báo cho Chưởng lý thì sẽ bị phạt tiền và bị tuyên án đến mười năm tù. 460 Theo Barton Meyers – Phong trào phản chiến Mỹ đã trở thanh một trở ngại đáng kể cho việc tiến hành chiến tranh, … (hỗ trợ nước Cộng hoà Dân chủ  Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Quốc gia) … và, do đó, một cách khách quan khác, cũng yểm trợ cho các ngoại quốc đồng minh của Cộng hoà Dân chủ Việt Nam và Mặt trận Giải phóng Quốc gia. 461 Đạo luật  Foreign Agents Registration Act (Đăng Ký các Nhân Viên của Ngoại Quốc) cũng đã không còn về phương diện pháp luật.

Bằng cách hô hào hòa bình và nhục mạ Mỹ và quân đội của mình, Jane Fonda, Tom Hayden và đồng bọn đã tham gia loại chiến tranh tâm lý nhằm tiêu diệt tinh thần của quân đội Mỹ và do đó, đã khuyến khích cho việc bất tuân lệnh, đào ngũ, đào tẩu, và thậm chí giết các sĩ quan. 462 Chúng cũng đã thực hiện những chương trình truyền thanh để tuyên truyền cho phù hợp và thường xuyên được phối hợp lớp lang với các chiến lược gia của Hà Nội. Chúng đóng vai trò “mặt trận thứ hai” của Bắc Việt , để giúp cuộc đấu tranh chính trị của Hà Nội hầu chống lại kẻ thù ở nước ngoài (Hoa Kỳ), và chống lại quân đội Mỹ (Binh Vận). Các đồng chí Mỹ này đã không mưu tìm hòa bình, mà lại nhắm vào một chiến thắng cho địch trong một thời chiến.

Việc hợp tác với các kẻ thù của quốc gia đã khởi đầu sớm trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tổng thống John Fitzgerald Kennedy từng cam kết chấp nhận bất cứ mọi gánh nặng và sẳn sàng trả bất cứ giá nào cũng được cho nền tự do của toàn thế giới trong diển văn nhậm chức của ông vào năm 1961. Tháng 10 năm 1962 cuộc Khủng hoảng về Hỏa tiển Cuba đã khiến toàn dân ngở ngàng, làm bất ngờ CIA và cùng lúc huy động tả phái. Hai mươi lăm ngày trước đó, CIA cho thấy là họ hoàn toàn sai lầm không biết gì khi các phân tích gia của họ đã không tìm thấy được bằng chứng về hỏa tiển Liên Xô tại Cuba và lập luận rằng Liên Xô sẽ không bao giờ làm một điều như vậy. 463 Vậy mà Tom Hayden và những tên khác lại sẽ cho rằng chính JFK, chứ không phải là thủ tướng Nga Nikita Khrushchev mới là người nguy hiểm. Chính sách sống chung hòa bình của Khrushchev không nhằm mục đích hòa bình như ở phương Tây phỏng đoán, nhưng là để đánh bại đế quốc Mỹ. 464 Phe tả đã nói chính Kennedy là một kẻ “buôn bán mạng sống con người” trong cuộc Khủng hoảng Hỏa tiển Cuba tháng 10 năm 1962, khi Tổng thống đã lên tiếng phản đối hành động của Liên Xô. Tổ chức Student for a Democratic Society của Hayden , SDS, phản đối JFK khi ông chống lại việc Liên Xô giao hỏa tiển hạt nhân tầm trung vào tay của Fidel Castro. Những hỏa tiển này chỉ cách xa Mỹ có chín mươi dặm và chỉ cần ít hơn là mười lăm phút để bay đi đốt cháyNew York vàWashington.

 Trong khi quân đội Mỹ đang được đặt trong tình trạng báo động thời chiến 465, thì Hayden, SDS và sau đó là Student Peace Union , SPU, tổ chức các cuộc biểu tình chống lại Hoa Kỳ. Kể từ cuối những năm 1960 David Tyre Dellinger đã chuẩn bị trước, bằng cách đi Cuba và trên tạp chí Liberation (Giải phóng) của mình, y đã mô tả lịch sử của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở Cuba, cùng ca ngợi những tiến bộ của Cuba về chương trình chăm sóc sức khỏe, giáo dục và cải cách ruộng đất, cũng như xin lỗi dùm cuộc cách mạng đấy bạo lực của Cuba cùng với các vụ chà đạp nhân quyền và đã nhập cuộc với ủy ban Fair Play for Cuba Committee 467 được Cuba tài trợ. 466 Những tên khác có dính líu với Fair Play for Cuba mà sau này đã trở thành lãnh tụ hay chuyên sinh hoạt trong phong trào phản chiến nhằm ủng hộ Hà Nội là Jerry Clyde Rubin, Robert Collier, Luke Tripp, Sidney Lens và Jerry Gordon. 468 Ngày 24 tháng 10 năm 1962, Giáo sư Howard Zinn đã tham gia một cuộc biểu tình gồm hai mươi người để phản đối Kennedy – vì đã ngăn chận tàu  Liên Xô không cho cập bến để mang hỏa tiển lên bờ cùng việc  Kennedy đòi hỏi Liên Xô phải gở bỏ các hỏa tiển tại Cuba. Phản ứng của Tổng thống đã – quá hốp tốp và đầy tính  khiêu khích.  Chúng kêu gọi nên thay vào đó là các biện pháp hòa bình ngoại giao. Cùng đồng hành với Zinn đã có các hội viên của CPUSA là Dorothy Miller, Harry C. Steinmetz và Herbert Shapiro 469 với Staughton Lynd.

Ngày 28 tháng 10 năm 1962 Khrushchev gởi thư cho Kennedy là các hỏa tiển sẽ được  thu hồi với điều kiện là Cuba sẽ không bao giờ bị xâm lược. Khrushchev đả khoe với Uy ban Trung ương của y là cam kết không xâm lược hòn đảo Cuba quả đúng là một chiến thắng công khai vĩ đại. 470 Ngày hôm sau, Harold W. Rood đã viết, bởi một sự trùng hợp ngẫu nhiên tuyệt đẹp … các quy định để chấm dứt cuộc khủng hoảng … (những) tương tự như những đề nghị của Thủ tướng Khrushchev đã được công bố trong – Lời Kêu Gọi Gởi Đến Tổng thống Kennedy và Đồng chí Khrushchev, có chữ ký của khoảng 500 giáo sư đại học. 471 Sự trùng hợp ngẫu nhiên tốt đẹp như vậy giữa các lời tuyên bố của cộng sản với các tên phản chiến và hoạt động hòa bình sẽ trở nên rất phổ biến trong thời chiến tranh Việt Nam nhưng phần lớn đã sẽ không được chú ý và không được nêu ra. Các giáo sư khi dùng danh từ – đồng chí để gọi Khrushchev, nguyên thủ của một quốc gia thù địch trong thời Chiến tranh Lạnh, quả thật đã cung cấp thêm một đầu mối nhỏ về lòng trung thành của các giáo sư mà đã cùng ký tên.

Hayden và đồng bọn đã phản đối nhiều nhất việc Kennedy từ chối rút ra khỏi Việt Nam. Thật vậy, Kennedy đã tăng quân đội Mỹ từ 500 đến 17.000. Nikita Khrushchev đã gọi vụ Hoa Kỳ tại Việt Nam là – phiêu lưu giết người và giao nhiệm vụ cho KGB và Phân bộ Quốc Tế của Đảng Cộng sản Liên Xô để ra lệnh cho hội đồng World Peace Council  đặt trụ sở tại Helsinki bắt đầu các cuộc biểu tình toàn thế giới. 472 Noam Chomsky, tay giáo sư và ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới, biết rỏ sức mạnh của các từ ngữ, đã mô tả hành động của Kennedy tại Việt Nam như – thuần túy xâm lược. Y nói, Kennedy đã áp đặt một – nhà nước khủng bố ở miền Nam Việt Nam và đã sử dụng – vũ khí hóa học cùng xây dựng các trại tập trung.  473 Tất cả các cáo buộc này đều là láo toét. Có lẻ Chomsky đã là  một tên tuyên truyền hùng biện hay tranh luận giỏi – hơn là một tên ngôn ngữ học, một kẻ mà đã phải đi tìm ý nghĩa thực sự của danh từ. Giáo sư Chomsky, kẻ đã tìm thấy được  thiên đường chỉ trong các chế độ Cộng sản, ngày nay vẫn cương quyết chống lại Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống khủng bố của Phát xít Hồi .

Tổng thống Kennedy đã biết là không phải các chiến sĩ tự do của Nam Việt mà chính là  miền Bắc Việt Nam đã gửi “vũ khí, các tên kích động, viện trợ, chuyên viên và tuyên truyền đến mọi khu vực đang gặp khó khăn.” Chính Hà Nội đã áp đặt một nhà nước khủng bố, đã dùng vũ khí hóa học và đã xây dựng các trại tập trung. Ngày 27 tháng 10, 1963, một tháng trước vụ ám sát Tổng thống Kennedy, FBI đã đột nhập vào văn phòng New York của Fair Play for Cuba – phòng 329, số 799 Broadway – và lấy được bằng chứng cùng chụp ảnh 14 tài liệu cho thấy  Cộng sản Cuba tài trợ cho nhóm Mỹ này 474 và sau đó  475, sáu bức thư của Vincent T. Lee liên lạc giữa ủy ban và Lee Harvey Oswald 476, sát thủ của JFK. Bọn Cộng sản Cuba, giống như tất cả các nước cộng sản khác là những kẻ thù tích cực của Hoa Kỳ. Đặc biệt, các thành phần thuộc phe tả Mỹ đã giữ một vai trò tích cực và thiết yếu trong đại chiến lược của Hà Nội nhằm chinh phục Đông Dương để đặt nó dưới sự kiểm soát của cộng sản.

********

443 Chế độ hiện hành đã phô diễn khắp nơi hình ảnh cùng chú thích về các người biểu tình chống chiến tranh Pháp trong những năm 1950 tại cái – Hà Nội Hilton, nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội và tại các Bảo tàng viện về Tội phạm chiến tranh (sau thì được đổi tên thành Chứng tích chiến tranh)  ở Sài Gòn (cũng bị đổii tên, nhưng hiếm khi được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh). Các ảnh của Tác giả, Việt I 182, 185187, 190 của tháng 3 năm 2008.

444 Don North, ―Voices from the Past: The Search for Hanoi Hannah, Vietnam Generation, A Journal of Recent History and Contemporary Culture, Bộ 3, Số 3, tháng giêng, 1995  tại  http:/25thaviation.org/Facts/id429.htm; cũng tại Hanoi Hannah  http://www.brainyquote.com/quotes/quotes/h/hanoihanna224073.html

445 Don North, ―Voices from the Past: The Search for Hanoi Hannah, Vietnam Generation, A Journal of Recent History and Contemporary Culture, Bộ 3, Số 3, tháng giêng, 1995 tại  http:/25thaviation.org/Facts/id429.htm;  cũng tại  http://www.brainyquote.com/quotes/quotes/h/hanoihanna224073.html

446 May Day Committee, Seattle, ―Kêu gọi 2 cuộc biểu tình tại Seattle… truyền đơn công bố các cuộc biểu tình ngày 12-13, 1971, Vietnam War Era Ephemera Collection, Thư viện University of Washington , Special Collections Division, Hộp 1/5.

447 Robert Elegant, ―How to Lose a War: The Press and Vietnam, Encounter, (London), bộ LVII, tháng 8, 1981, 73-9- tại   Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm 

 448 Clare Lopez, điểm sách của Konstantin Preobrazhensky, FSB‘s New Trojan Horse: Americans of Russian Descent, Gerard Group Publishing, 2009; ― Phụ lục: Recent Revelations About Soviet Active Measures,‘ tại intellit.muskingum.edu/Russia_folder/pcw_era/sect_16e.htmp.

 449 Phụ lục: Recent Revelations About Soviet Active Measures, tại intellit.muskingum.edu/Russia_folder/pcw_era/sect_16e.htmp

450 Roger B. Canfield, ―Democratic Legitimacy and American Political Violence, 1964-1970, luận án tiến sĩ, Claremont Graduate School, Claremont, California 1972, 5-11. Roger B. Canfield (1973). Black Ghetto Riots and Campus Disorders: A Subculture and Philosophical Study of Democratic Legitimacy and American Political Violence.San Francisco: R & E Research Associates; Samuel Chapman, et al., Eds. (1974).

451 Vào năm 1965, Cộng sản xâm nhập Clergy And Laity Concerned CALC, thành lập bởi National Council of Churches , mà đã kiên trì ủng hộ Hà-nội. Information Digest, Bộ  XIII, #6,  21 tháng 3, 1980, 86. 

452 Khai trình của Edward Hunter, ―Analysis of Jane Fonda Activities in North Vietnam, Hạ Viện, Committee on Internal Security, Điều tra liên quan đến H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Quốc Hội Nhiệm Kỳ 92, Khóa 2, 19 tháng 9, 1972, 7585.

453 Larry McDonald, ―World Peace Council on Congress: Soviets Lobby for U.S. Disarmament,Cong. Record, 8 tháng 10, 1975, E-5330. 

 454 Max Phillip Friedman, ―JOHN KERRY: AMBITION AND OPPORTUNISM, http:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry

 455 Liên Xô đã tài trợ và trang bị cho cái nhà thờ ngoan ngoãn Russian Orthodox Church và World Peace Council, WPC mà chúng đã kiểm soát kiểm soát và đã có nhiều công ty con ở Mỹ với một số nhóm độc lập tại Hoa Kỳ mà đã tích cực và công khai hợp tác với WPC, ví dụ như Women Strike for Peace, Women‘s International League for Peace and Freedom and American Friends Service Committee, AFSC. Information Digest, Bộ XIII, #6, 21 tháng 3, 1980, 86. 

456 Henry Mark Holzer và Erica Holzer, Aid and Comfort: Jane Fonda in North Vietnam, McFarland & Company:Jefferson,North Carolina. 

457 Nhập đề – Giải mật tài liệu tin tức tình báo về các liên hệ với cộng sản và với ngoại quốc của Weather Underground. Được xuất trình như là bằng chứng, theo thỏa thuận giữa công tố và bên luật sư bào chữa, trong vụ xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller, tại http://www.usasurvival.org

458 Information Digest, 13 tháng 11, 1981, 348; Herbert Romerstein, ―What Was the Weather Underground, America‘s Survival, 13.

459 National Lawyers League, Đại hội Toàn quốc, 15-19 tháng 2, 1979, Information Digest.

460 Luật Hoa kỳ, Mục 18, Phần I, Chương 45, § 951

461 Barton Meyers, ―Vietnamese Defense against Aerial Attack, tài liệu xuất trình tại   Vietnam Symposium năm 1996, Center for the Study of the Vietnam Conflict,Lubbock,Texas, 19 tháng 4, 1996.

462 Khai chứng của Edward Hunter, Francis M. Watson và Chuẩn tướng S.L. A. Marshall, ―Psychological Warfare Analyses, Hạ viện, ủy ban Committee on Internal Security, các buổi điều trần về H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Quốc hội Nhiệm kỳ 92, Khóa họp thứ 2, 19 tháng 9, 1972, 7581-7602. 

463 Ước lượng của Special National Intelligence 85-3-62, 19 tháng 9, 1962 nêu ra trong  Bret Stevens, ―The NIE Fantasy: The intelligence community failed to anticipate the Cuban Missile Crisis, Wall Street Journal, 11 tháng chạp, 2007; Tim Weiner, Legacy of Ashes: the History of the CIA, New York: Doubleday, 2007, 195-197.

464 Jan Sejna, We Will Bury You, London: Sidgwick & Jacgson, 1982, 26.

465 Phi đội của tác giả tại Miramar gần San Diego, cách xa Cuba tới 3,000 dặm, đã được đặt trong tình trạng báo động.

466 Tiểu ban Internal Security Subcommittee Thượng viện, 10 tháng giêng, 1961.

467 Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary,New York:New YorkUniversity Press, 2006,118-122.

 468 Max Friedman, ―Behind Terrorism in the U.S.: Castro‘s Cuba, Washington Intelligence Report, Washington: the U.S. Anti-Communist Congress, Inc. Bộ III, Số 10, tháng 11, 1970, 4,5.

 469 FBI, FOIA, Howard Zinn, Robert R. Nichols, phúc trình Howard Zinn Security Matter 100-360217, Atlanta, GA 31 tháng 7, 1963.

470 Jan Sejna, We Will Bury You, London: Sidgwick & Jackson, 1982, 53.

471 Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer xuất bản, 2005, 104-105N20N22. Nguyện thủy xuất bản năm 1980 bởiUniversity ofNorth Carolina.

472 Chỉ huy trưỏng công an mật Ru-ma-ni , Tướng Ion Pacepa, National Review, 18 tháng 3, 2003. 

473 Kevin Hewison, ―Noam Chomsky về Đông Dương và Iraq: Phỏng vấn, Journal of Contemporary Asia, Bộ 37, Số  4, tháng 11,  2007, 4.

474 FBI, FOIA, Giám đốc gởi cho Phó Chưởng Lý Phân Bộ Quyền Công Dân (Civil Rights Division) , ― Những Đề mục Gian dối (Surreptious Entries) , tháng 6, 1 tháng chạp, 1975; FBI, FOIA, Giám đốc gởi cho Phó Chưởng Lý Phân Bộ Quyền Công Dân (Civil Rights Division) , ― Những Đề mục Gian dối (Surreptious Entries) , tháng giêng (không đọc được), 1976, 2.

475 FBI, FOIA, Giám đốc gởi cho Phó Chưởng Lý Phân Bộ Quyền Công Dân (Civil Rights Division) , ― Những Đề mục Gian dối (Surreptious Entries) , tháng 6, 22 tháng 3, 1976.

476 FBI, FOIA, Phúc trình, W.R. Wannell gởi W.C. Sullivan, ―Fair Play for Cuba Committee, Luật về Đăng ký Cuba, 11 tháng 11, 1963; FBI, FOIA, ADIC, New York gởi Giám đốc , 66-8170, tháng 6, ― Những Đề mục Gian dối (Surreptitious Entries) , 2 tháng 3, 1976.

********

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #2”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #2 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: