Tái Xác Định Các Căn Nguyên

Reassessing the causes

http://www.washingtontimes.com/news/2009/aug/02/reassessing-the-causes/

By – The Washington Times – Sunday, August 2, 2009

 

Tái Xác Định Các Căn Nguyên

Đăng trên báo Washington Times, Chủ nhật 2 Tháng 8 Năm 2009

 

Hôm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 45 của vụ các tàu ngư lôi P-4 của Bắc Việt Nam tấn công vào năm 1964 vào khu trục hạm Mỹ USS Maddox ở vùng biển quốc tế tại Vịnh Bắc Việt. Biến cố này hiện vẫn còn đầy lộn xộn cùng thông tin sai lạc và vẫn tiếp tục được phiên diễn một cách sai lầm bởi nhiều người như chính là lý do mà Hoa Kỳ đã dấn thân vào cuộc Chiến Việt Nam. Có thể hôm nay chính là một thời gian thuận tiện để nói đúng lên sự thật.

Trước hết, không như mọi người vẫn tin, cuộc tấn công trong ngày 2 Tháng Tám chắc chắn quả thực đã từng có xảy ra. Đã không có ai khác hơn là Tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng quốc phòng của Bắc Việt Nam vào thời điểm đó – cũng đã thừa nhận như vậy trong một cuộc họp năm 1995 với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Robert S. McNamara.

Mà cũng không có một chút chứng cớ nào khả dĩ có thể cho thấy Tổng thống Johnson đã tìm cách khiêu khích Bắc Việt Nam để có thể đưa nước Mỹ lâm chiến. Ngược lại, lúc đó thì Johnson chỉ đang lo các chương trình xã hội quốc nội của ông mà thôi. Mối quan tâm chính của ông về vụ Việt Nam chỉ là cần Mỹ không thất trận trong khi ông ta vẫn đang còn cầm quyền mà thôi. Thật vậy, ông đã bị những áp lực đáng kể từ phía Quốc hội và công luận là cần phải đáp ứng một cách cứng rắn hơn với tình hình cộng sản ở miền Nam Việt Nam vẫn cứ đang tăng gia gây hấn xâm lược.

Ngày nay, hiện vẫn còn có thắc mắc là tại sao cuộc tấn công vào ngày 2 tháng 8 đã phải xẩy ra – Hà Nội có thể đã xem sự hiện diện của tàu Maddox ngoài khơi bờ biển của mình như là có liên hệ với một loạt các điệp vụ hải quân bí mật của CIA, xa tận mãi về phía Nam và có liên hệ đến những lực lượng Nam Việt. Nếu vậy, thì đó đã rõ ràng không phải là ý định của chính quyền Johnson hay của quân đội Mỹ luôn.

Bây giờ thì rõ ràng là các báo cáo về một cuộc tấn công thứ nhì, vào ngày 4 tháng 8 năm 1964, đã chỉ là một sự hiểu lầm mà thôi – phần lớn là do hậu quả của “những hiệu ứng thời tiết kỳ quái trên màn hình ‘radar’ và ‘overeager sonarmen ~ các chuyên viên về ‘sonar’ quá ư là mẫn cán’, đúng như vị thuyền trưởng của chiến sẽ đã kết luận về sau này. Cũng có vẻ rất ư là rõ ràng đã có một “coverup ~ che dấu” ở cấp trung của giới chức tại Cơ quan An ninh Quốc gia, khi được phát giác ra là các thông tin liên lạc chận nghe được vào ngày 4 tháng 8 đã bị diễn dịch sai lầm chăng – mà cũng đã có thể góp phần vào sự nhầm lẫn rối răm về một cuộc tấn công thứ hai.

Một trong những đại huyền thoại về Cuộc Chiến Việt Nam vẫn từng là Hoa Kỳ đã phải lâm chiến vì những báo cáo về “các đụng độ” trong Vịnh Bắc Việt vào đầu tháng 8 năm 1964. Quả có đúng là vào ngày 7 tháng 8 thì Quốc hội đã có chuẩn phê một đạo luật với số phiếu 504 chống 2 (tức là có tới 99,6 % đồng ý) là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện J. William Fulbright, khi trả lời một câu chất vấn của một thượng nghị sĩ khác trong tiến trình thảo luận, đã đồng ý sẽ cho phép Tổng Thống “sử dụng vũ lực khả dĩ có thể đưa đến chiến tranh”. Nhưng nghị quyết cũng quy định là “các cuộc tấn công đó phải thuộc một chiến dịch có chủ ý và có hệ thống mà chế độ cộng sản ở miền Bắc Việt Nam đã đang tiến hành đối với các nước láng giềng”, và đạo luật cũng cho phép Tổng Thống “thi hành mọi biện pháp thích nghi, kể cả sử dụng quân đội, để hỗ trợ cho bất kỳ . . . mọi quốc gia liên hệ thuộc Southeast Asia Collective Defense Treaty ~ Hiệp Ước Phòng Thủ Chung Đông Nam Á nào mà lên tiếng yêu cầu cần được trợ giúp trong việc bảo vệ tự do của chính họ”.

Các “protocol states ~ quốc gia thuộc Hiệp Ước thì đã gồm có Việt Nam Cộng Hòa, Lào và Campuchia – những nước mà chúng ta đã từng long trọng cam kết sẽ bảo vệ qua việc ký kết hiệp ước và chính là Tổng thống đã được cho phép để bảo vệ họ bởi một Quốc hội gần như là hoàn toàn nhất trí. Ấy vậy, khi Tổng thống Nixon đưa quân đội Mỹ vượt qua biên giới với Campuchia vào năm 1970 để tấn công các khu vực hậu cần tiếp liệu của Bắc Việt và Việt Cộng, thì số dân biểu tự do tại quốc hội cùng bọn “chủ hòa” đã lại khẳng định là việc sử dụng vũ lực ở Campuchia không hề có căn bản pháp lý nào cả.

Mãi cho đến tháng 5 năm 1984 thì Hà Nội nới chịu công khai xác nhận quyết định của chúng nhằm phát động Cuộc Chiến Việt Nam. Một bài trên trang bìa của nguyệt san bằng Anh ngữ tên gọi là Vietnam Courier đã tường thuật trong chi tiết cái quyết định “tuyệt mật” của Đảng Lao Động vào ngày 19 tháng 5 năm 1959 – cả 5 năm trước khi cả vụ Vịnh Bắc Việt lại sẽ xẩy ra – nhằm khai trương con Đường mòn Hồ Chí Minh và bắt đầu gửi cả hàng chục ngàn bộ đội cùng vô số là vũ khí xuống miền Nam Việt Nam, trong mục tiêu chỉ để lật đổ chính phủ VNCH. Hoa Kỳ đã chỉ phải tham chiến hầu ngăn chặn cộng sản đánh chiếm được miền Nam Việt Nam bằng vũ lực, cũng như chúng ta đã từng xử sự vào năm 1950 để bảo vệ Hàn Quốc mà thôi.

Khi ngăn chận được một chiến thắng của quân cộng sản ở miền Nam Việt Nam trong hơn cả một thập niên qua, chúng ta quả đã giúp cho Thái Lan, Indonesia và các mục tiêu có tiềm năng khác đủ thì giờ để trở nên đủ mạnh mà tự lo. Trong khi chúng ta đang thực hiện điều đó, thì Trung Cộng  – mà mãi năm 1965 vẫn đã đang hỗ trợ cho các phong trào du kích ở Đông Dương, Thái Lan, Indonesia, Philippines và ngay tận nhữny nơi xa xôi như là xứ Mozambique ở châu Phi – đã phải trải qua một cuộc biến động nội bộ gọi là Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại. Tới năm 1971 thì  Trung Cộng đã không còn khả năng để có thể xuất cảng cách mạng nữa rồi. Nếu mà Hoa Kỳ đã quyết định phủi tay ra đi khỏi Đông Dương vào năm 1965, thì chắc là mọi việc đã rồi sẽ xẩy ra hoàn toàn khác hẳn mà thôi.

Ngày nay, nhiều học giả đã chứng minh cho thấy là dưới quyền chỉ huy của Tướng Creighton Abrams Jr, cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đã gần như đã được thắng vào dạo có cuộc tấn công mùa xuân năm 1972, khi quân đội miền Nam Việt Nam đã tự đứng vững trước mọi cuộc tấn công của Hà Nội mà chỉ còn Mỹ yểm trợ về không quân mà thôi. Việt Cộng đã bị tan nát, không còn là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu ở Nam Việt Nam nữa, với tất cả mọi trận đánh lớn đều hoàn toàn do bộ đội chính quy của Bắc Việt đãm trách mà thôi.

Nhưng Quốc hội và người dân Mỹ đã quá mệt mỏi của cuộc chiến mất rồi, và vào tháng 5 năm 1973, Quốc hội đã ban hành một đạo luật mới nhằm cấm không cho tổng thống được quyến chi tiêu cho mọi hoạt động chiến đấu của Mỹ bất cứ nơi nào ở Đông Dương.

Mỹ đã quyết định bỏ cuộc và, trong mắt của nhiều chuyên gia, đã tự đón nhận lấy sự thất bại thay vì là cái chiến thắng đang nắm trong tay. Hà Nội bèn đưa coi như là toàn bộ quân đội của chúng tùng thiết sau hàng đoàn tăng của Liên Xô sản xuất để xuống cưởng chiếm các nước láng giềng, và trong ba năm đầu tiên sau khi cộng sản chiến thắng, con số người đã thiệt mạng ở Đông Dương đã hơn cả con số của trong suốt 14 năm chinh chiến trước đó nữa.

Dự án Cambodia Genocide Project ~ Diệt Chủng Tại Kampuchia của Đại học Yale đã có ước tính là chỉ riêng tại xứ Kampuchia nhỏ bé thì cũng đã có cho tới cả 1 triệu 8  người – tức là hơn 20 % tổng dân số của nước này – đã bị tàn sát bởi bọn cộng sản chiến thắng.

Như vật thì nay, khi hồi tưởng lại, liệu quyết định tham chiến tại Việt Nam có đã là một quyết định khôn ngoan hay không? Nó quả có đáng giá không? Những người liêm chính thì cũng có quan niệm khác nhau. Nhưng có một điều thật là rõ ràng đối với Cuộc Chiến Việt Nam. Nó không hề chỉ là một hệ quả của một sự hiểu lầm nhỏ không đáng gì cả mà đã từng xẩy ra trong Vịnh Bắc Việt cách 45 năm trước đây.

******

%d bloggers like this: