Roger Canfield’s Americong #8

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copy right holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

  Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

***** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 8

Bung Ra: Vói tới Marx, Từ Hà Nội – Tháng 6-7 năm 1965

 Hiểu Marx

Tuy vậy vẫn có những nhà văn  Mác-xít như Paul Jacobs và Saul Landau, sau Đại Hội  Tháng Sáu của SDS, đã thất vọng, “Đa số các thành viên mới của SDS đã không đọc nhiều về chủ nghĩa Mác hay các tài liệu căn bản khác.”  1070 Với tư cách là một trong những thành viên kỳ cựu, đối với kiến thức của Hayden  về Marx, thì chúng tôi đã có một số đầu mối trong các bài hùng biện chính trị của y. Khi nói về tân Đại Hội Xuyên Lục Địa của y, Hayden cho biết là nó sẽ đại diện cho “tất cả mọi người … mà đã từng bị loại trừ khỏi các nhóm thượng tầng và sẽ giúp đỡ để bi thảm hóa hoàn cảnh của tất cả các nhóm đang bị Hệ Thống Mỹ đày đọa.”  1071

Tại Đại Hội Tháng 6 của SDS, Tom Hayden đã nói:

Quyền lực ở Mỹ đã bị các cá nhân nhường lại cho những đơn vị tổ chức theo hàng dọc , và chính nhờ phục hồi lại  quyền lực này mà phong trào trở nên khác biệt … và một loại con người mới đã xuất hiện.   1072

Trong một cuộc tranh luận sau đó với Jeff Shero, Hayden lập luận rằng những người nghèo, giai cấp công nhân, chớ không phải là tầng lớp trung lưu, là nguồn gốc của những thay đổi căn bản. 1073  “Các nhóm thượng tầng  … một loại con người mới … giai cấp công nhân” – kiểu Hayden đã sử dụng ngôn ngữ Mác-xít như vậy trong năm 1965 chứng minh rằng Paul Jacobs và Saul Landau đã không nói về những thiếu sót “cũ” của Hayden trong việc hiểu biết chủ nghĩa Mác. Sau sự kiện này, Phillip Abbott Luce đã nói, “Trước khi tôi đào tẩu khỏi đảng Lao Động Cấp Tiến siêu Cộng Sản vào năm 1965, tôi đã biết đồng chí Hayden là một người Mác-xít rất dấn thân về chính trị, và là một kẻ thời cơ chủ nghĩa. ”  1074

Trong số tháng 7 năm 1965 của Tạp chí Các Vấn đề Xã hội (Journal of Social Issues)  Tom Hayden và Marc Pilisuk đã đặt câu hỏi, “Đã có chăng một tổ hợp  quân sự-công nghiệp nào đó nhằm ngăn chặn hòa bình?”  Họ đã trả lời, “Xã hội Mỹ (chính họ nhấn mạnh) tổ hợp quân sự – công nghiệp … [bởi vì] câu trả lời không thể tách rời được ra khỏi các định chế chính thống của Hoa Kỳ và nhiều thứ khác.” Hayden và Pilisuk đã viết rằng “cốt lõi” của các tin tưởng  và giả định của  Mỹ mà đã “ngăn cản hòa bình”, là:

Bạo lực thích hợp hơn là phi bạo lực khi là một phương sách phòng vệ; … sở hữu tư nhân thích hợp hơn sở hữu tập thể; … và dân chủ nghị viện [sic] hạn chế  thích hợp hơn bất kỳ hệ thống chính phủ nào khác  .

Về phương diện quốc tế thì Hayden và Pilisuk đã viết một cách ác độc:

Dùng vũ khí tối tân [để] bảo tồn … các thị trường thuộc địa ; [a] tình trạng liên tục của cuộc khủng hoảng do chiến tranh lạnh … [biện minh bởi] một mối nguy hiểm triền miên; … một lý tưởng về lòng yêu nước quá khích để trừ ma quỷ cho nước  Mỹ Thần Thánh … [và] một ý niệm về lòng ái quốc chân chính trong bọn binh sĩ  lạnh lùng và điên dại.

Các phương tiện mà Hayden và Pilisuk sử dụng để đạt hòa bình đã là sự hủy diệt chủ nghĩa tự do cổ điển của Mỹ,  loại chủ nghĩa tư bản theo nghĩa Mác-xít :

Việc loại bỏ tình trạng ứng trực về quân sự; … [một]  kế hoạch Mỹ hầu giải giới toàn thể và hoàn toàn; … hoàn thành việc quốc tế kiểm soát vũ khí ; … [một] kỹ nghệ chuyển  … [qua] một nền kinh tế phi-quốc phòng; … [và] những kế hoạch với nhu cầu di chuyển công nhân trên một quy mô lớn … [Tất cả] sẽ đòi hỏi một mức độ tập trung kiểm soát vượt quá … tính ưu việt của sở hữu tư nhân.

Hayden và Pilisuk tin rằng “vấn đề chính là doanh nghiệp tư nhân so với chủ nghĩa xã hội nhà nước”, và điều cần thiết đã là  “những quyết định về tái phân phối .” 1075

Kiểu phân tích của Hayden / Pilisuk rất là Mác-xít. Tuy nhiên cách hành văn thì đã được điều chỉnh cho thuận lổ tai người Mỹ.

Các Hoạt Động Chống Quân Dịch

Trong năm 1965, SDS đã tổ chức những cộng đồng tại các khuôn viên đại học và tại các đô thị. Chẳng hạn tại West Oakland, Paul Booth đã tổ chức những hoạt động tranh đấu có tính cấp cấp tiến: Y đề nghị “làm tắc nghẽn hệ thống quân dịch” với những người nộp đơn được gọi là người phản đối có lương tâm (Conscientious Objector, CO) . Tên chống chiến tranh David Miller đã đốt lệnh gọi quân dịch trong năm 1965 và hình ảnh của y đang làm như vậy vẫn còn trong Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) trong năm 2008. 1076

Ngày 31 tháng 8 năm 1965, Tổng thống Johnson đã ký một đạo luật về hình tội do hành vi đốt thẻ quân dịch với mức quy định án tù 5 năm và phạt tiền 1.000 $. Việc đốt thẻ quân dịch tại các nơi công cộng vẫn tiếp diễn. Việc quân dịch đã là một vấn đề chính trị hữu ích để tổ chức lại các sinh viên đại học trẻ mà khã dỉ có thể sợ bị cưởng bách phục vụ trong quân đội vào thời chiến. Một quân đội mà không đáp ứng được nhu cầu nhân lực sẽ bị suy yếu trên chiến trường chống Việt Cộng. Các chính sách về chiến tranh có nhiều khía cạnh.

Tuy nhiên hậu quả thực tế của phong trào chống quân dịch đối với vấn đề nhân lực quân sự chỉ có tính cách nhỏ nhoi. Chỉ có 2 triệu (22%) trong số 9.000.000 quân nhân phục vụ trong thời kỳ Việt Nam là thi hành quân dịch. Hai phần ba của tất cả những người phục vụ tại Việt Nam là quân tình nguyện (1/3  đã tình nguyện trong Thế chiến II) và quân nhân tình nguyện chiếm tới 77% của những người thiệt mạng.  1077  Gần 80% của lính tình nguyện tại Việt Nam là những sinh viên tốt nghiệp trung học so với 65% của số dân sự trong lứa tuổi động viên.  1078    Hơn nữa, trong suốt cuộc chiến, những người trẻ tuổi đã ủng hộ cuộc chiến tranh nhiều hơn là nhóm  lớn tuổi.

Ngoài việc chỉ đơn giản từ chối đi quân dịch, cánh tả còn muốn gây xáo trộn cho các việc chuẩn bị và các hoạt động quân sự . Ngày 12 tháng 8 tại bến tàu số 39 San Francisco , “Hơn 150 công nhân … đã biểu tình, không chịu cất hàng tiếp liệu quân sự để chở qua Việt Nam …”, một chú thích cho một ảnh trong bảo tàng “Hà Nội Hilton”  ở Hà Nội. 1079 Ngoài ra còn có một bức ảnh của ngày Ủy ban Việt Nam, VDC, hành hung xe của Tướng Maxwell Taylor tại San Francisco.  1080 Viên Tướng mà đám đông đã gọi là “kẻ sát nhâni” và là một tên phát-xít, đã phải chạy trốn vào một khách sạn.  1081  Do đó, đám trẻ yên hùng đã một lần nữa làm bọn áp bức sợ chúng.

Hình: Bọn quá khích đã bắt giữ được Tướng Maxwell Taylor trong xe ông ta. Canfield, Bảo Tàng Viện “Hà-nội Hilton” tháng 3 năm 2008

Chận Xe Lữa Lại

Ngoài ra, Bill Vandercock đã ủng hộ và Jerry Rubin cùng với Ủy ban Ngày Việt Nam  (Vietnam Day Committee)  đã tổ chức những  “đội cảm tử vì hòa bình” để ngăn chặn các chuyến xe lửa  chuyên chở quân nhân và quân cụ rời  khỏi khu vực Berkeley và Emeryville trong tháng 8 năm 1965.  1082  Marilyn Milligan đã nói , “Tôi muốn … nằm trên đường rày ở phía trước chổ họ sẽ mang hỏa tiển ra khỏi các nhà máy.”  1083 Việc chận đứng các đoàn xe lữa đã là một hành vi oai hùng từng được SDS cùng bọn hoạt động chung và đồng bọn làm cách mạng ca ngợi .  1084

Marion Delgado, một đứa trẻ từng được ca tụng là đã chận lại được một đoàn  tàu bằng một viên gạch, đã trở thành một huyền thoại dân gian trong số tự phong  là cán bộ cách mạng  Mỹ. Bill Ayers (hay còn gọi là Michael Joseph Rafferty, Jr., Taylor Jules Michael, Hank Anderson)  có viết, “trong thời gian 24 tiếng FBI đã ghi nhận 124 lần gọi của Marion Delgado từ 57 số điện thoại khác nhau mà đã bị thu băng nghe trộm . Marion Delgado quả ở khắp mọi nơi .”  1085  FBI đã không thể nào có khã năng kỹ thuật gắn được để theo dỏi tới 57 số điện thọai của SDS hay Weathermen , nhưng họ lại đã vẫn nói vậy.

Việt Nam Chiêu Dụ Các Điệp Viên Tạo Ảnh Hưởng, Women Strike for Peace, SDS, Fellowship for Reconciliation

Được khuyến khích do các biến chuyển ở Mỹ vào năm 1965, Bắc Việt bèn mở rộng cuộc đấu tranh chính trị chống lại kẻ thù (Địch Vận) ở nước ngoài về ngoại giao và trong các phong trào phản chiến bên ngoài châu Á và bên ngoài  khối Cộng sản.

Để chương trình Địch Vận thành công ở ngoại quốc, Việt Nam đã cần và đã có được các điệp viên nhằm gây ảnh hưởng đáng tin cậy . Cần phải có  những kẻ để tuyên bố là Bắc Việt không có quân đội hoặc các điệp viên ở miền Nam Việt Nam, trong khi họ vẫn đã làm điều này. Dành những chiến thắng quân sự (Ia Drang, Tết Mậu Thân 1968, lễ Phục sinh năm 1972) trong khi thực sự chỉ là những thất bại về quân sự. Cứ lặp đi lặp lại các thông điệp tuyên truyền về tội ác chiến tranh, về những hành vi bạo tàn, và về diệt chủng. Phối hợp để phổ biến tuyên truyền của Bắc Việt và khuấy động, cùng thi hành chiến tranh tâm lý chống lại quân đội Mỹ. Và đòi hỏi các mục tiêu hòa bình, hợp lý và dân chủ theo các lập trường ngoại giao của Hà Nội.

Để tìm các tên điệp viên như vậy, Mặt Trận Giải Phóng đã cử ba đoàn đại biểu đi Châu Mỹ La Tinh, hai đoàn đi các quốc gia Ả Rập, và năm đoàn đi Tây Âu.  1086

Năm 1965, các địa chỉ liên lạc của Việt Nam với phong trào phản chiến Mỹ đã gia tăng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1965 ở Moscow, Helsinki và Jakarta. FBI cho biết, năm 1965, “bọn cấp tiến Mỹ đã gặp Bắc Việt … để nhận những đề xuất về các hoạt động phản chiến ở Hoa Kỳ.”  1087

 Đại Hội Thế Giới về Hòa Bình – Helsinki, 10 tới 15 tháng 7, 1965

Việt Nam đã trở thành một trọng tâm chính  1088  để Liên Xô tài trợ  1089 qua tổ chức Hội đồng Hòa bình Thế giới  (World Congress for Peace WPC), để bảo trợ Đại hội Thế giới vì Hòa bình, Độc lập Quốc gia và Tổng Giải trừ Quân bị được tổ chức tại Helsinki, Phần Lan vào ngày 10 tới 15 tháng 7, năm 1965. Đến năm 1982, chiếu  theo  điều trần của FBI trước Quốc hội, WPC đã

 Là tổ chức mặt trận quốc tế lớn nhất và năng động nhất của Liên Xô, với các chi nhánh tại 135 quốc gia, WPC là một trong những công cụ chính của Liên Xô về  hoạt động chính trị và tuyên truyền trong phong trào hòa bình [bao gồm] … tổ chức và vận động phong trào hòa bình Mỹ. 1090

Trong suốt thời chiến tranh Việt Nam, những tên Mỹ tham gia vào các biến cố của  WPC, sẽ bành trướng ngoài cả những tên trung kiên với Liên Xô, cả đảng Cộng sản Hoa Kỳ CPUSA và các Câu lạc bộ DuBois của nó,  cùng cả YWLL, để rối bao gồm nhiều nhóm với danh nghĩa là đại diện cho các cựu chiến binh, cho tôn giáo, cho luật sư, phụ nữ  v.v. . .

Các tổ chức  Vietnam Veterans Against the War, People’s Coalition for Peace and Justice, United Church for Christ,  1091 Ủy ban Quaker American Friend Services Committee, Women Strike for Peace, the Women’s International League for Peace and Freedom, National Lawyers Guild, National Mobe, American Deserters Committee, Venceremos Brigades, and the Lawyers Committee on American Policy Towards Vietnam.

Tại Helsinki năm 1965 WPC vẫn đã còn cần nước cộng sản Cộng hòa Dân chủ Đức rất đáng tin cậy và hữu ích ngõ hầu hèn hạ tố cáo Mỹ tại Việt Nam:

 miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ đang cố gắng để nhận chìm ý chí bản năng của nhân dân nhằm đòi hỏi tự do và tự quyết.

Khi  điên cuồng vì tuyệt vọng, Washington thậm chí còn cho phóng pháo cơ vượt biên giới  xâm nhập nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam. …

[Thủ Tướng Ludwig] Erhard, tay đứng đầu chính phủ tại Bonn [Tây Đức] … đang  hỗ trợ … hành vi tội phạm tại Việt Nam …

Chính phủ Erhard muốn mang lại phương pháp hãm hiếp tàn bạo [sử dụng] ở Đông Nam Á đến Trung Âu … Đây là … các  chiến thuật phiêu lưu của bọn bá đồ  thế giới mà đã không bao giờ được sửa đổi.  1092

Khi kết thúc Đại Bước Tiến Nhảy Vọt và bắt đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, Mao Trạch Đông của Trung Quốc đã tìm cách để khẳng định vai trò lãnh đạo của cuộc cách mạng cộng sản thế giới tại Đại hội. Bọn Liên Xô và bọn khách đi theo của chúng, đặc biệt là bọn Mỹ, 1093  CPUSA, đã dễ dàng chế ngự bọn Maoist, bởi vì, đúng ra WPC chỉ lệ thuộc chủ của chúng, là  Alexander Berkov, 1094  của Sở quốc tế Đảng Cộng sản Liên Xô, kẻ luôn luôn có quyền phủ quyết đối với tất cả mọi hành động của WPC.

Theo tờ New York Times thì đã có độ 98 người Mỹ từng tham dự . 1095  Tất cả đều đồng ý về Việt Nam. Các thành viên  Câu lạc bộ Dubois – Michael Myerson, Jon Christopher Koch, Harold Supriano và Richard Ward – đã gặp các đại biểu của Bắc Việt – Nguyễn Trung Hiếu và Đỗ Xuân Oanh, một thông dịch viên của Huckleberry Finn – tại cuộc mạn đàm ở Helsinki của bọn cộng sản cùng bè bạn. Tại đó, bọn trẻ Dubois, Myerson, Koch, Supriano và Ward đã được mời đi Hà Nội.

Tuy đơn giản chỉ là “những nhóm sinh viên Mác-xít  cùng thảo luận  …  tự gọi là Dubois”,  trong thực tế, đảng Cộng sản Mỹ CPUSA đã thành lập, tổ chức và tài trợ cho các Câu lạc bộ Dubois. Bọn Việt Nam cũng đã mời Herbert Aptheker, tay phụ trách canh chừng  cho ý thức hệ của chủ nghĩa Stalin của Đảng Cộng sản Mỹ luôn luôn trung thực  , để dẫn đầu một đoàn  các đại biểu Mỹ mà đã được lựa chọn cẩn thận để đến Hà Nội vào cuối năm 1965. Hội nghị Helsinki vẫn còn được tưởng nhớ tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở Sài Gòn. 1096 Bọn Mỹ mà có lý lịch hồng thì  cũng thấy rất thoải mái với bọn Cộng sản.

Phụ Nữ Đình Công vì Hòa Bình  WPS . . . tại Moscow, Hà-nội và Jakarta, tháng 5-6 năm 1965

WPS- Moscow

Trong tháng năm 1965 Mary Clarke và Lorraine Gordon của Phụ Nữ Đình Công vì Hòa Bình  WPS đã gặp đại diện của Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Quốc gia tại Moscow mà đang được Ủy ban Phụ nữ của Liên Xô tiếp đón .

Sau khi gặp Bắc Việt và Mặt Trận Giải phóng ở Moscow, Clarke và Gordon đã được bọn  giáo sư Berkeley là Frances Herring, Margaret Russell, Phyllis Schmidt, Shirley Lens, có thể luôn cả Ruth-Gage Colby  1097  và hai tên khác.

WPS- Hà nội

Toán này bay đi ở Hà Nội trong ba ngày với tư cách là khách mời của Hội Liên hiệp Phụ nữ  Bắc Việt. WSP đã báo cáo những vụ đánh bom “trải thãm”, trẻ em bị thương vì bom lữa và những bệnh viện ở Việt Nam bị dội bom. Bọn ủng hộ chúng đã xác nhận là Thủ tướng Phạm Văn Đồng có gặp gỡ chúng và đã đề nghị một cuộc họp tiếp theo với WSP tại Jakarta, Indonesia vào cuối năm đó.  1098

WPS- Jakarta

Ngày 12 tháng 7 năm 1965 Clarke và Gordon đến Jakarta dẫn đầu chín người khác – Esther Jackson, Phyllis Schmidt, Arlene Berman, Margaret Russell, Bernice Steele, Shirley Lens, Frances Herring, Nanci Gitlin và Beverly Axelrod, để gặp chín phụ nữ thuộc Liên hiệp phụ nữ Bắc Việt – Võ Thị Thế, Nguyễn Thị Định (cấp tướng cao cấp và ủy viên chính trị  của Quân Đội Nhân dân PAVN / Mặt Trận Giải Phóng NLF) và những kẻ khác – trong năm ngày,  tám tiếng mổi ngày, mãi cho tới ngày 18 tháng 7.

 Đoàn đại biểu WSP đã nói với bọn Việt Nam là người Mỹ vẫn còn hỗ trợ chiến tranh, nhưng nếu được tiếp xúc với “thực tế của chiến tranh …, rồi thì sẽ bớt ủng hộ nó. ” Zaroulis và Sullivan đã tường thuật cuộc họp như chỉ là một cuộc gặp gỡ xã giao.  1099

Bọn Việt đã nói với WSP hãy sử dụng “chiến thuật vận động quần chúng” ở Mỹ. Hòa bình đòi hỏi phải có ngừng ném bom và rút quân Mỹ. Đó là một “chủ đề mà người Mỹ tại Hà Nội đã sẽ nghe liên tục trong những năm tới. 1100 ”  Tự cho là  “để thăm dò mọi khã năng,” một thông cáo chung đã lên án vai trò của Mỹ tại Việt Nam. ”  1101

Không phải tất cả bọn Mỹ mà đã nhập cuộc đùa giỡn với kẻ thù đã không quá lộ liễu như WSP ở chốn Jakarta xa xôi.

AFSC, Bọn Bênh Vực Chế Độ Độc Tài? – AFSC Phân Phối Sản Phẫn Hà-nội

Kể từ khi bọn cộng sản đã nhiệt tình phân phối các tài liệu của Ủy ban Dịch vụ Bạn bè  Mỹ (American Friends Service Committee , AFSC), vào ngày 15 tháng 7, 1965, một tiểu ban của Ủy ban Thượng viện về An ninh Nội bộ đã mô tả AFSC như là  “một dây cu-roa hộp số của guồng máy Cộng sản.”  1102   Bây giờ thì AFSC cứ việc chỉ lập đi lập lại các từ ngữ và các con số của Bắc Việt.

AFSC đã từng đùa giỡn luôn luôn và sẳn sàng phản quốc từ nhiều thập niên qua.

Lịch sử của AFSC là chống đối chiến tranh và ưu tiên tuyệt đối cho hòa bình ở khắp mọi nơi, trong bất kỳ hoàn cảnh nào và với bất kỳ đối thủ nào -Thế chiến I, Thế chiến II, Hitler  1103 và Stalin 1104 . Nó luôn luôn chấp nhận thương lưọng  trên các nghĩa địa và các quốc gia cảnh sát trị mà không đếm xuể gì tới sinh mạng  con người và sự tự do.

Bọn Bạn bè (Friends) đã chứng tỏ rỏ ràng là chúng  không hề để ý tới sự cần thiết cho nền an ninh quốc gia Mỹ hầu chống lại độc tài và gián điệp. Cuối thập niên bốn mươi, AFSC đã góp tiền cho quỹ lệ phí luật sư biện hộ cho tên gián điệp nguyen tử Morton Sobel  1106  và điệp viên gián điệp Liên Xô Steve Nelson.  1107  Trong cuộc chiến tranh Việt Nam cuối cùng thì AFSC cũng sẽ hỗ trợ kẻ thù Cộng Sản, nhưng Hà Nội đã không hề cấp ngay lập tức cho AFSC một chúng minh thư .

Tới năm 1965 thì các bộ phận của phong trào phản chiến đã tham gia sát với  mạng lưới tuyên truyền của Bắc Việt. WSP, và sau đó là Tom Hayden và SDS, đã lãnh đạo chương trình tuyên truyền tại Tây phương của Hà nội. Rỏ ràng là  bọn lãnh đạo của WSP và SDS đã thi hành nhiệm vụ cán bộ tuyên truyền cho Bắc Việt.

Sau khi đi họp về, WSP Đã Dương Cờ Hà Nội tại Mỹ

Theo yêu cầu của Hà Nội , sau khi trở về từ Jakarta, bọn phụ nữ WSP gởi phá phách Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, và các dân cử Quốc hội quan điểm của chúng: gọi Việt Nam là một cuộc chiến thuộc địa, thách thức quan niệm Chiến tranh Lạnh và gán cho chế độ Sài Gòn ” là ” những tên cộng tác Thiên chúa giáo trong một quốc gia Phật giáo [sic].” 1108  Số 19 tháng 7 của tờ New York Times đã đăng tin chính  ” 10 người Mỹ đã đi theo bọn Việt Nam Đỏ. ” WSP đã “nối tiếp tuyên  truyền của Hà Nội, 1109  Times đã cho biết như vậy. Tờ Times rồi cũng  sẽ chấp nhận kiểu tuyên truyền của Hà Nội theo ý chúng qua sự cộng tác của các phóng viên trẻ tại Việt Nam và một cộng tác viên nổi bật tại Hà Nội.

WSP/SDS Phổ Biến Lập Luận Hà Nội Về Các Tội Ác

Bằng chứng liên hệ cha con với kẻ thù thật rỏ ràng. Nanci Gitlin của WSP , và là vợ của Todd Gitlin thuộc SDS , đã viết báo cáo về cuộc họp tại Jakarta trong tờ Bulletin SDS. 1110 Ghi xuống một cách rất cụ thể những ngày tháng , địa điểm và số thương vong, Gitlin đã tường thuật về những bệnh viện , trường học, nhà thờ và làng xã bị phá hủy cùng việc tra tấn và tử vong của thường dân tại Việt Nam.

Lẻ dĩ nhiên, chính Bắc Việt đã đưa thường dân vào chổ chết choc khi dung phụ nữ và trẻ em như là bộ đội. Tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng, “Mỗi công dân đều là một chiến binh để giết địch. Mỗi căn nhà đều là một đơn vị chiến đấu; mỗi thôn làng hay hảng xưởng đầu là một pháo đài. ” 1111 Tại Hà Nội trong tháng 4 năm 1975, Bill Bell đã chứng kiến những nhà thờ  Công giáo được sử dụng như là những kho đạn dược. 1112

Đẩy Dân Thường Vô Chổ Hiểm Nguy

“Khi ôm người dân vào lòng”, và sử dụng “nhân dân như cây lá để ngụy trang chúng ta”  1113  bọn cộng sản đã biến các thôn làng Nam Việt thành những trận địa và các người dân thành lá chắn sống và bia đỡ đạn.

Không như VC, quân lực Mỹ đã không hề nhận được lệnh phải giết thường dân.

Ngược lại, đã từng có đợt này qua đợt khác các lệnh đưa ra nhằm tránh thương vong dân sự. Một chỉ thị từ Bộ Chỉ Huy Quân Sự Hoa Kỳ, Việt Nam, đã quy định, “Nếu khai hỏa vào những vị trí không được bảo vệ và không có tính cách quân sự thì là một tội phạm chiến tranh.”  1114  Một quy tắc chung  cho quân nhân thường được trích dẫn là: “Cấm khai hỏa cho đến khi bị bắn ” Điều này đặc biệt áp dụng cho các vị trí SAM và các phi trường đang được xây dựng. 1115

Toàn bộ bí mật về Nguyên Tắc Giao Chiến (Rules of Engagement)  được xuất bản sau chiến tranh đã chiếm tới 26 trang của Văn Khố Hạ Viện1116

Tuy nhiên, ngay cả Công ước Geneva năm 1949 cũng đã quy định rõ ràng, “sự hiện diện của một người [thường dân] cần bảo vệ không thể được sử dụng như một lá chắn để làm … vô hiệu hóa các hoạt động quân sự .” Các lực lượng Hoa Kỳ có toàn quyền chiếu theo các quy tắc về chiến tranh bắn trả lại – sau khi bị bắn vào. Điều này có thể là trường hợp của Trung Úy và sau đó là Thượng nghị sĩ Bob Kerrey mà đơn vị đã bắn trả lại vào đêm 25 tháng 2 năm 1969 tại Thanh Phong để rồi giết chết 24 người, kể cả 13 phụ nữ và trẻ em và một người đàn ông lớn tuổi.  1117

Trong khi đó, sau khi về lại thì Nanci Gitlen  của WSP được đón tiếp tốt đẹp  trong các cộng đồng đại học New Haven, nhưng đối với giới lao động tại Cleveland  thì “chiến tranh là một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản,” và đó là điều “rất khó” cho Nanci Gitlen, 1118 người mà nay có rất nhiều bạn bè  cộng sản mới.

Bên cạnh các thành viên WSP, đã có rất nhiều người Mỹ sẵn sàng tin vào tính cách vô đạo đức của cuộc chiến tranh của chính phủ họ tại Việt Nam.

Hiệp Hội Hòa-Giải (Fellowship of Reconciliation FOR) và Phật Tử tại Nam Việt, tháng 7 năm 1965

Trong tháng 4 năm 1965, Hiệp Hội Hòa-Giải (Fellowship of Reconciliation FOR)   1119 của Alfred Hassler đã thu xếp thuê đăng nguyên trang trên tờ New York Times  nhằm phản đối chiến dịch dội bom Rolling Thunder trong tháng 2 của Johnson tại Bắc Việt sau khi  chúng xâm lược miền Nam . Các tổ chức chính thống của giáo hội đã ký trong bài đăng có trả tiền này.

Trong tháng 7 năm 1965, Hassler đã dẫn đầu một nhóm 13 thành viên đi Sài Gòn, gọi là Ủy ban Khẩn cấp của Giáo sĩ  (Clergymen’s Emergency Committee) 1120 . Hassler là kẻ có cảm tình với Phật Giáo đối lập và các nạn nhân dân sự của cuộc chiến Mỹ.  Allan Brick 1121  chú tâm vào các “tù nhân chính trị” bị bắt trong thời chiến tranh của Nam Việt . Edwin Dahlberg đã là một cựu chủ tịch của Hội Đồng Quốc Gia các Nhà Thờ  (National Council of Churches)  được hưởng quy chế miển thuế  và một kẻ tích cực tổ chức liên kết hoạt động của 27 mặt trận cộng sản. 1122  Cũng trong năm 1965, Cộng sản đã thâm nhập vào Tổ chức Giáo hội và Người Dân Quan Tâm (Clergy And Laity Concerned, CALC)  do Hội đồng Quốc gia các Nhà Thờ thành lập mà do đó sau này đã liên tục hỗ trợ Hà Nội. 1123 Số thuế được miễn trừ cho NCC , ví dụ: Hiệp Hội DBJ , đã được dùng cho CALC,  1124  nói một cách tóm tắt, rửa tiền trong ngắn hạn để tài trợ cho các hoạt động chính trị của một điệp viên của Hà Nội.

Martin Niemoeller đã là một chủ tịch đương thời của Hội đồng Thế giới các Nhà Thờ (Council of Churches) có thiện cảm với Liên Xô. Các thành viên còn lại của nhóm FOR đã là AnnaLee Stewart, James Lawson, Robert Browne, Harold Bosley, William Crittenden, Dana McLean Greeley, Elmira Kendricks, Edward Murray, Elsie Schomer, Schomer Howard, Jacob Weinstein, và Andre Trocme.

Chuyến Trình Diễn Vở Tuồng Hamlet: Trại Bình Định hay Trại Tỵ Nạn?

Các giáo sĩ đã nói chuyện với nhiều người dân và đến thăm một làng  Nam Việt đã được “bình định” mà họ đã mô tả như là một trại tị nạn. Với người Tây phương thì trại rất bẩn thỉu, quá đông đúc và đầy tham nhũng. Trong thực tế, ở các ruộng lúa, ở những thôn ấp ruộng đồng, tình trạng nghèo đói và sức khỏe còn tồi tệ hơn là trong các ấp tái định cư được bình định xong. Chính phủ Việt Nam đã cung cấp và cải thiện về vệ sinh môi trường cùng an ninh, với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID Hoa Kỳ , và các tổ chức tư nhân kể cả Hội Hồng Thập Tự Mỹ.  1125

Hầu như không ai chạy bỏ các “trại” Nam Việt để đi về các cánh đồng  xanh lúa tốt hơn ở miền Bắc .

 Các thôn ấp đã được bình định tại Miền Nam Việt Nam sẽ không bao giờ trở thành chốn địa ngục như các trại cải tạo sau chiến tranh khi mà bọn cộng sản cưởng bức tái định cư hàng triệu người đi lao động khổ sai ở những vùng đất khô cằn tại những địa phương đầy bệnh tật và côn trùng và cũng là nơi có đến 250,000 người đã bỏ mạng trong các trại tập trung rất đúng nghĩa của chúng.

Hiệp Hội Hòa-Giải (Fellowship of Reconciliation FOR) đi gặp các Phật Tử Bất  Đồng Chính Kiến

Thành tựu lớn nhất của phái đoàn FOR đã là “các tiếp xúc của chúng tôi với các nhà lãnh đạo  của Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất …” mà đang lãnh đạo “cuộc chiến của nhân dân cho hòa bình”.  Đặc biệt họ đã gặp Thượng Tọa Thích Trí Quang  đầy tham vọng, kẻ đã nói về nạn tham nhũng và về tình trạng chia rẽ mà người Mỹ đã mang lại cho người dân Việt Nam.

Bọn Mỹ đã tới để dạy cho người Việt Nam vô tội làm thế nào để ăn cắp, để sa đọa và để giết nhau. Điều này rất là sai lầm vì mặc nhiên xem như người Việt Nam chưa bao giờ có kinh nghiệm – nói theo thời gian hàng thế kỷ – về tham nhũng hay là xung đột nội bộ. Bọn tân tòng FOR cùng đám hướng dẫn viên du lịch cùng đi gặp Thích Nhấtt Hạnh, một nhà văn từng tổ chức đối thoại giữa Công giáo và Phật giáo trong việc tìm kiếm một con đường thứ ba, một chính phủ liên minh để thay thế chính quyền Sài Gòn.  1126

Thích Trí  Quang

Không phải tất cả các nhân vật Phật giáo đều đúng như ta thấy. Margarite Higgins đã từng gán cho một người là  một Machiavelli sử dụng trầm hương.

Năm 1963, Thích Trí Quang đã dẫn đầu một cuộc nổi dậy đầy bạo động của  Phật giáo để lật đổ chính phủ do Công giáo thống trị của Diệm . Trong tháng 8 năm 1963, Ngô Đình Diệm đã tuyên bố thiết quân luật và bố ráp các ngôi chùa Phật giáo mà trước đó đã được xem như là những  “khu đặc quyền nhằm  lật đổ chính quyền” – . Sau một cuộc xung đột rất vất vả mà đã gây ra nhiều thương vong, chính phủ đã phát hiện ra được vũ khí và tài liệu của Việt Cộng ở một số nhà chùa.  1127

Ngày naycác chuyền ‘tua’ du lịch Ngũ Hành Sơn cho thấy rỏ đền thờ Phật giáo xen lẫn với các công sự và vị trí bắn tỉa từ các hang động cao nhắm xuống các căn cứ quân sự cũ của Mỹ trên bờ biển ở Đà Nẵng . Việt Cộng  đã chế ngự các vị trí dễ phát hiện và nổi bật chỉ vì Mỹ quyết định không phá hủy các ngôi chùa Phật giáo cổ xưa ở đó.

Năm 1965, Trí Quang lại một lần nữa dẫn đầu một đám quá khích đông cở năm ngàn người để tấn công cơ sở Dịch vụ thông tin Hoa Kỳ (United States Information Service USIS)  ở Huế. Chính quyền miền Nam Việt Nam lại bị lật đổ. Nhà báo David Halberstam, 28 tuồi, và Neil Sheehan, 25 tuổi, đã viết các tường thuật và nói với Đại sứ Lodge rằng các Phật tử là một giải pháp dân chủ khã dỉ thay thề được chế độ chống cộng của Sài Gòn .

Hai điệp viên Cộng sản – Phạm Ngọc Thảo, một đại tá trong quân đội miền Nam Việt Nam và Phạm Xuân An, một cộng tác viên của Reuters mà chúng ta đã đề cập trước đây, – đã đề cao quan điểm tốt đẹp về giới bất đồng chính kiến Phật giáo này cho các phóng viên Mỹ.

Phật Từ Không Chiếm Đa Số

Chúng đã bẻ sai một cách kỳ cục về vấn đề tín ngưởng. Khi được hỏi thì 70% tới 80% người miền Nam tự nhận mình là Phật tử, và Bộ Ngoại giao cũng như CIA đã sai lầm rỏ ràng khi chấp nhận như vậy. 1128  Bác sỹ Mai Thọ Truyền, vị Giám đốc của Tổng Hội Phật Giáo đã tuyên bố rằng Phật tử chiếm khoảng 29%, thậm chí kể luôn số không có chính thức ghi danh với chùa. Bộ Quốc phòng thì ước lượng khoảng 25%. Sự thật , rất dễ dàng để thấy là chỉ có 10% -15% người dân Nam Việt là Phật tử thuần hành và độ ít hơn là  30% thì không thuần hành. Số Phật tử của Trí Quang đã chỉ là một trong mười bốn môn phái kình địch nhau, một thiểu số ngay trong một thiểu số. Việc giết người, kề cả tự tử đã bị cấm đoán bởi Phật giáo.  1129

Phương Tây có khuynh  hướng tin là mọi người Á châu đều là Phật tử và nhầm lẫn giữa các ngôi chùa với các đền thờ đạo Khổng.

Người Việt Nam thuộc nhiều tín ngưỡng, Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Thờ Lòai Vật, Lão Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Khổng Giáo, Ấn giáo và Hồi giáo. 1130

Người Việt Nam của bất kỳ tín ngưỡng hay tôn giáo nào thì cũng theo đạo Ông Bà , một di sản của Nho giáo. 1131 Cho dù là nhà Phật giáo, hay Thiên Chúa Giáo  1132  hay Lão Giáo thì đều có bàn thờ tổ tiên của họ. Mọi nhà đều có bàn thờ với các bình đựng hài cốt cùng hương khói, các tổ tiên thì được chôn cất ngay trong các ruộng lúa ở gần đó và tất cả mọi người đều ăn Tết, khi mà linh hồn của các người đã khuất được mời về thăm con cái.  1133

Vấn đề cấm thực hành Phật giáo nếu có xảy ra thì cũng  ảnh hưởng rất ít. Về phương diện chính trị, Phật giáo là một thiểu số ồn ào dẫn đầu bởi một lãnh tụ  đầy tham vọng. Họ chỉ là một Mensheviki, một thiểu số, mà tự cho là đa số Bolsheviki1134

Cộng Sản Xâm Nhập Hàng Ngũ Phật Giáo

Một nghị quyết năm 1961 của cộng sản đã ra chỉ thị để cấy các điệp viên Việt Công vào các tổ chức tôn giáo: “Một khi các điệp viên của chúng ta đã cấy vào được thì sau đó họ sẽ đưa các tổ chức này làm việc cho sự nghiệp của nhân dân.”  Một tài liệu cho thấy Mặt trận giải phóng quốc gia ” đã nhanh chóng hướng dẫn người dân của mọi tầng lớp  … để hợp tác tích cực với các tăng ni Phật tử trong một cuộc đấu tranh kiên quyết …” Chiếu theo đó, quân giải phóng đã tổ chức cuộc biểu tình tố cáo Hoa Kỳ và Diệm cùng đòi hỏi  “tự do tôn giáo” và “dân chủ” mà đã không bao giờ có thể có thể xẩy ra cho các Phật tử tại Hà Nội.

Không để ý gì về những hòan cảnh khó khăn có thể xẩy ra, CIA đã báo cáo  trong tháng 7 năm 1963, tuy là  ” một hưởng lợi bất ngờ rõ ràng cho Cộng sản, … Vấn đề Phật giáo đã không được khai thác một cách có hiệu quả bởi  Cộng sản …”   1135

Trí Quang, một Điệp Viên Tuyên Truyền Cộng sản?

Trí Quang đứng đầu các lãnh tụ Phât giáo từng bị nghi ngờ là điệp viên Việt Cộng:  1136

• Người Pháp đã bị bắt Trí Quang hai lần vì đã tiếp xúc với Hồ Chí Minh,
• Trí Quang đã từng là Chủ tịch bù nhìn của Hiệp hội Người Việt Đòan Kết do Việt Minh kiểm soát,
• Anh trai của Trí Quang điều khiển những âm mưu của Hà Nội nhằm lật đổ chính quyền miền Nam ,
• Cựu Thủ tướng Trần Văn Hương đã tuyên bố là Trí Quang hợp tác với cộng sản,
• Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí cho biết những tài liệu tịch thu từ Việt Cộng đã nêu đích danh Trí Quang như là một điệp viên,
• Các biểu ngữ Phật giáo của Trí Quang ” giống một cách kỳ lạ kiểu tuyên truyền cộng sản,” và
• Ngay Trí Quang cũng đã tuyên bố là chủ thuyết cộng sản hoàn toàn tương thuận với Phật giáo.  1137

Bắc Việt không bao giờ tiết lộ là Trí Quang có phải là một điệp viên tuyên truyền, nhưng nhà sử học quân sự Mark Moyar viết rằng những bài tuyết giảng ,  kiểu tuyên truyền, các xách động quần chúng và tham vọng chính trị của Trí Quang mới đúng lho thấy y là cộng sản chớ không phải là một Phật tử. 1138 Ít ra thì Mark Moyar cũng cho rằng Trí Quang là một điệp viên tuyên truyền mà cũng là một tay khích động cộng sản.  1139

Sẽ đã là một điều phi lý nếu CIA hoặc Bộ Ngoại giao đòi hỏi Trí Quang xuất  trình thẻ đảng viên Cộng sản ngay tại chiến trường để chứng minh là y đã đang cung cấp viện trợ và tiện nghi cho kẻ thù trong khi chiến tranh đang xẩy ra. Việc này sẻ đã như là quay ngược trở lại chấp nhận lập luận có khuynh hướng tự do  rất được  phổ biến rộng rãi là cộng sản không hề xâm nhập chính phủ Mỹ trong những thập niên 30 và thập niên 40, bất kề những bằng chứng đã có được từ FBI, KGB, GRU, McCarthy, và Venona mà đã cho thấy mọi việc ngược lại.

Do đó, năm 1963 Sứ quán Hoa Kỳ đã cung cấp cho tên Trí Quang, mà khã dỉ rất đáng tin là một tên theo cộng sản cũng như là một tên chuyên viên đảo chánh,  ba tháng trú ẩn (tháng 9 đến tháng 10),  1140 trước và sau khi cuộc đảo chính Diệm năm 1963.

CIA đã không bao giờ đánh giá Trí Quang là một tên cộng sản. 1141

 Trong tháng 2 năm 1965 CIA đã lập luận trong văn kiện SNIE 53-65 là Trí Quang “có lẽ không đang cố tình hoạt động cho một chiến thắng của Cộng Sản … [Tuy nhiên] những hành động phá hoại của y … đang phục vụ những mục tiêu này.”  1142  Nguồn tin  CIA này  1143  đã có thể là của Phạm Xuân Ẩn, tay gián điệp đặc biệt.

Nay thì chính phủ Mỹ đi tìm ý kiến cố vấn về các vấn đề Hồi giáo từ Hội Hồi giáo Bắc Mỹ (Islamic Society of North America ISNA), từ Hội đồng Quan hệ Mỹ-Hồi giáo (Council on American-Islamic Relations CAIR) và các nhóm Hồi giáo khác mà đã từng là những kẻ đồng lõa chưa bị truy tố về hành vi rửa tiền cho bọn khủng bố, bọn Hamas Palestine, Công ty Holyland Foundation Inc.  1144

Thích Nhất Hạnh

Đối với tu sĩ và tay hoạt động Phật giáo Thích Nhất Hạnh,  năm 1966 Hiệp Hội Hòa Giải  của Alfred Hassler sẽ đã tài trợ y đi lưu diễn trong vòng hai tháng  xuyên Hoa Kỳ và Châu Âu, cùng với Allan Brick của FOR, 1145  và vào năm 1967, Martin Luther King sẽ đã đề cử Nhất Hạnh cho giải Hòa bình Nobel do những hoạt động phản chiến của y. Nhất Hạnh đã dẫn đầu một phái đoàn Phật giáo đến Paris nhân vụ thương thuyết Hiệp định Hòa bình vào năm 1973. Việt Cộng đã lừa gạt y về các kế hoạch cộng sản sẽ dành cho Phật tử và ngay y cũng tự nghỉ là có thể xoa dịu được bọn cộng sản. Y đã không hề được chào đón trở lại Việt Nam sau chiến tranh.

Việt Cộng Tấn Công Các Phất Tử

Bọn Việt Cộng – như bọn Trung Công trong nhiều thập niên qua, cứ  tiếp tục tấn công Phật giáo Tây Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma – đã từng nổi tiếng chuyên môn liên tục  trả thù các Phật tử mà đã không chịu cộng tác với chúng . Ngày 2 tháng 2 năm 1960 chúng cướp phá và đốt cháy một ngôi chùa tại Phước Thành, tỉnh Tây Ninh và đã đâm chết em Phan Văn Ngọc, chỉ 17 tuổi vì đã cố gắng ngăn chặn chúng. Ngày 12 tháng chạp năm 1965, bọn khủng bố đã giết chết 23 và làm bị thương 7 công nhân đang ngủ trong một chùa Phật giáo ở Tân Hương, tỉnh Định Tường. Ngày 6 tháng 7 năm 1967 một quả mìn chống tăng Việt Cộng đã nổ giết chết một em bé và gây thương tổn nhiều em khác khi chúng đang đi bộ đến chùa tại thôn Cam Phổ, tỉnh Quảng Nam. Ngày 4 tháng 4 năm 1969, Việt Cộng đặt mìn nổ tung một ngôi chùa ở tỉnh Quảng Nam và giết chết bốn người cùng  làm bị thương 14 người khác. Ngày 30 tháng 6 năm 1969, Cộng sản pháo nát  chùa Long Phước tại Chánh Hiệp, tỉnh Bình Dương và giết chết một tu sĩ Phật giáo cùng làm bị thương 10 người khác. 1146

Trang Quảng Cáo của FOR trên tờ New York Times  

 Trong khi đó, sau khi trở về từ Việt Nam vào mùa hè năm 1965,  FOR và các bọn cộng tác đã thu xếp kêu gọi 10.000 nhà lãnh đạo tôn giáo tại 40 quốc gia để hổ trợ một quảng cáo đăng trong tờ New York Times.  1147  Tờ Times đáng lẻ đã phải thắc mắc là làm cách nào mà FOR đã có được 10.000 chữ ký từ 40 quốc gia chỉ trong thời gian ngắn như vậy.  1148  Ngày 12 tháng 7 năm  1965, New York Times đã ghi nhận quan điểm “đầu hàng Cộng Sản” của FOR  1149   Sau đó FOR đã thành lập Ủy ban Quốc tế của Lương tâm về Việt Nam (International Committee of Conscience on Vietnam) . Hiệp Hội Hòa Giải (Fellowship Of Reconciliation )  đã kết luận về cuộc chiến đúng với lập luận của Hà Nội là phóng thích các ” tù nhân chính trị “ , tức là bọn cán bộ và bộ đội Việt Cộng , ra khỏi các ” chuồng cọp. ” Thật vậy, các chuồng cọp trong thực tế chỉ được làm bằng tre, rộng 4 feet, cao 6 feet, là nơi Việt Công đã giam giữ trong bốn năm tù binh chiến tranh Dan Pitzer, một quân nhân thuộc Lực lượng Đặc biệt .  1150

Sự ngây thơ của các giới chức tôn giáo quả vô giới hạn và thường thì không phân biệt được giữa thiện với ác. Tổng Giám Mục Canterbury đã khám phá ra được tương lai của nền văn minh ngay tại Liên bang Xô Viết của Stalin và tạp chí Tin Lành (The Protestant ) đã cảm ơn ” Thượng Đế dùm cho Hồng quân ” ở Trung Âu vào cuối Thế chiến II.  1151

 Hà Nội đã yêu cầu ” huy động quần chúng ” và các tổ chức mới thành lập của Mỹ nhảy vào hành động. Chẳng bao lâu thì hầu hết các tổ chức phản chiến đều sẽ có danh từ “huy động” như là một phần chính của nguyên tên gọi của chúng . Trong thời gian  đó thì …

Phe Tả Bắt ĐầuTổ Chức – Ủy ban ngày Việt Nam, Ủy ban Điều Hợp Quốc gia

Trở về lại mặt trận quốc nội, bọn tả phái cuồng tín củ mà đã giúp SDS thành công trong cuộc biểu dương ngày 17 tháng 4 năm 1965 nay thì tụ hợp lại để tổ chức bốn hội đoàn phản chiến tả phái tích cực : vào tháng 4 là Ủy Ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee) , tháng 8 là Hiệp Hội Những Người Không Được Đại Diện (  Assembly of Unrepresentative People) và trong tháng 11, là Ủy Ban Điều Hợp Quốc Gia Nhằm Chấm Dứt Cuộc Chiến Việt Nam  ( National Coordinating Committee to End the War in Viet Nam) cùng  Ủy ban Diển Hành tại Đại Lộ số Năm Nữu Ước (Parade Fifth Avenue Committee in New York).

Ủy Ban Ngày Việt Nam – Huấn Luyện và Biểu Tình Toàn Thế Giới

Tại Berkeley, Jerry Rubin và  Giáo sư toán Stephen Smale đã  mời  tiểu thuyết gia Thế chiến II Norman Mailer, nhà nhận giải thưởng Nobel Benjamin Spock, David Dellinger, IF Stone, Stanley K. Sheinbaum, Bob Parris, Bertram Russell, Robert Scheer, Staughton Lynd,   Edward Keating của Rampart, nhà sản xuất phim Felix Greene, M.S. Arnoni, Dick Gregory và nhiều người khác để tham dự một buổi huấn luyện dài 35 giờ vào ngày 21 và 22 tháng 5 năm 1965 mà đã thu hút 5000 người theo lời trường Đại học và 35.000 người theo lời các nhà tổ chức. Các đại diện từ Bộ Ngoại giao Mỹ và các giáo sư Robert Scalapino  với Eugene Burdick tại Berkeley, những chuyên gia về châu Á và Việt Nam đã từ chối tham dự.  1152

Cùng tham dự là  –  Paul Montauk, Barbara Gullahorn, Robert Scheer, Anne Weills, Claudia Gellert, David Rosen, Marilyn Milligan, Abbie Hoffman, Stew Albert-Rubin và Smale mà đã đứng ra thành lập Ủy ban Ngày Việt Nam, VDC với ưu tiên đầu tiên là “quốc gia và quốc tế cùng đoàn kết và phối hợp hành động ” hầu chống lại cuộc chiến Việt Nam. VDC đã muốn liên kết cùng Women’s Strike for Peace và Fellowship for Reconciliation với  những mục tiêu cộng sản, mà chúng đã từng nghe phát biểu riêng rẻ tại Jakarta và Sài Gòn.

Ngay sau đó thì VDC đã hoạt động để điều hợp các biến cố phản chiến toàn thế giới.

Ngôn Ngữ, Tiêu Đề và Hành Động Quốc Tế

Ngôn từ quốc tế của cánh tả đã phản ảnh rõ ràng ảnh hưởng của YSA, của Dubois Club, của PLP và của SDS trong Uỷ ban Ngày Việt Nam. VDC đã công bố những cuộc biểu tình phối hợp trên toàn thế giới vào ngày 15 và 16 tháng 10  năm 1965 và đã thông báo cho các nhóm tại các trường đại học trên toàn quốc  1153 cùng các nhóm tả phái trên toàn thế giới.  1154

Số tháng 7-8 năm 1965 của Vietnam Day Committee News  đã tường trình những tin đáng sợ về việc Mỹ có thể  đánh bom đê điều ở miền Bắc Việt Nam, rồi tấn công Trung Cộng và Nga với các vũ khí hạt nhân, rồi cho phép chính quyền Nam Việt hành quyết hàng loạt các đối thủ chính trị cùng bảo đảm cho các công ty từng tài trợ cho Johnson để có thể “ có mặt sẳn sàng  … khuếch trương lờn khi công nghiệp Nam Việt bộc phát sau chiến tranh. ”

Mặc dù là cuối cùng thì mọi tiên liệu đều sai lệch, các chủ đề này dù sao cũng phù hợp cùng lúc với cả nỗi lo sợ yếu hèn của Lyndon Johnson về việc Trung Cộng và Liên Xô có thể can thiệp ồ ạt và với các quan điểm cánh tả về những  tệ nạn không nói ra của bản chất tàn ác của chủ nghĩa tư bản. DVC đã là dấu hịệu đầu tiên  của biết bao nhiêu là trùng hợp tốt đẹp về việc các quyền lợi của phong trào hòa bình Mỹ lại lquá giống với các kế hoạch quân sự  và chủ đề tuyên truyền của cộng sản .

Những  Đoàn Tàu  Chuyển  Quân

Ủy ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee  VDC) đã hứa hẹn một biểu dương tranh đấu tuyệt vời, bắt đầu từ ngày 5 tháng 7 năm 1965 với cả hàng trăm người sẽ ngăn chặn hoặc trì hoãn các chuyến tàu chuyển quân dọc theo các tuyến đường Santa Fe RR ở Berkeley, 1155  y như các công nhân bến tàu  Cộng sản Pháp do cộng sản kiểm soát đã từng vài lần từ chối xuống hàng đạn dược đi Đông Dương. Dave Gitelson của UC Davis VDC đã đề xuất sẽ “đến Việt Nam để hy sinh mạng sống chúng ta hầu giúp người Việt Nam.”  1156  Tháng 11 thì Giáo sư Smale công bố một kế hoạch VDC với 10.000 người diễn hành tới căn cứ bộ binh Oakland. Tuy nhiên, 300 giảng viên UC Berkeley  đã cương quyết đứng lên chống lại những loại “khẩu hiệu quá ư là đơn giản và hung hãn.”  1157

Tài tử Ronald Reagan mà lúc đó đang xem xét để có thể ra ứng cử Thống đốc, đã có một giải pháp là tuyên chiến với Bắc Việt và truy tố những tên biểu tình về  tội phản quốc.  1158 Tất nhiên cả Johnson cũng như Nixon sẽ không bao giờ chọn giải pháp thẳng thắn như vậy.

Các Cuộc Bạo Hành Watts đã Làm Gia tăng các Cố Gắng Tình Báo Quân Sự

Trong tháng 8 năm 1965, các cuộc bạo loạn của người da đen tại Watts, phía nam của Los Angeles, đã khiến lực lượng National Guard Mỹ  phải can thiệp để vãn hồi trật tự. Trong mùa hè nóng bỏng của năm đó đã có các cuộc bạo loạn về sắc tộc và do các thanh niên ở Philadelphia, Pennsylvania, New Jersey, Rochester, New York, New York City, Seaside, Oregon, và Bãi biển Hampton, New Hampshire với Dixmoor, Illinois.

Những cuộc bạo loạn này,  cùng với việc gia tăng hoạt động phản chiến đã thúc đẩy quân đội Mỹ tìm cách thu thập tin tình báo trong nước ngõ hầu bảo vệ quân nhân, các cơ sở , trật tự công cộng và an ninh quốc gia.

Thỉnh thoảng thì quân đội Mỹ cũng đã hỗ trợ chính quyền dân sự trong việc tái lập trật tự công cộng kể từ cuộc nổi loạn do rượu whisky năm 1794 và nhân nhiều cuộc bạo loạn về quân dịch, chủng tộc và lao động suốt trong các thế kỷ 19 và 20 1159  chiếu theo thẩm quyền quy định bởi Điều I, Phần 8 của Hiến pháp và các đạo luật kế tiếp.

Khi hành xử theo những gì mà nhiều người đã nghĩ là hợp pháp, Bộ Chỉ Huy Tình Báo Quân đội Mỹ (US Army Intelligence Command USAINTC) đã tổ chức một bộ máy hành chánh về tình báo quốc nội và những chương trình với tên STEEP HILL, PLOT GARDEN, ROSE HILL, PUNCH BLOCK và LANTERN SPIKE,  mà lúc đầu chủ yếu dựa trên các tờ báo, FBI và cảnh sát địa phương để đúc kết những hồ sơ về các cá nhân và các nhóm. Khi tiên liệu các rối loạn dân sự trong tương lai như những vụ trong mùa hè năm 1965, các kế hoạch thu thập tin tình báo của LANTERN SPIKE đã sẽ phải thực hiện tám lần trong năm 1966.  1160

Đại Hội Đồng (hay Quốc Hội) của Nhân Dân Không Từng Được Đại Diện

Các sự kiện tại Đại hội đồng Những Người Không Được Đại Diện (Assembly of Unrepresented People ) trong tháng 8 năm 1965 (mà còn được gọi là Quốc Hội, Congress) đã xoay quanh Hiroshima Day (ngày 6 tháng 8), Nagasaki Day (ngày 8 tháng 8) và một cuộc diễn hành về điện Capitol (ngày 9 tháng 8).

David Dellinger, Parris Robert Moses, Staughton Lynd và những tên khác đã thành lập Đại hội đồng. Các thành viên của Women’s Strike for Peace (Norma Becker, Dagmar Wilson, Donna Allen, Barbara Deming) và bọn quá khích “cấp tiến” đã thống trị đại hội của 2.000 hoạt động viên. Văn bản chính thức “Kêu gọi  một Quốc hội cho Những Người Không Được Đại Diện  …”  đã đưa ra ý định của chúng để chiếm ghế trong Hạ viện Mỹ, để ngồi xuống tại chổ khi bị ngăn chận, và để cương quyết tồn tại “trong sinh hoạt (nếu cần thiết cho đến khi) tất cả chúng ta đều đã bị bắt”.  1161

Ý Niệm Dân Quyền đã bị Hoen Ố khi Liên Kết với Cộng sản: Wilkins, Oglesby

Xẩy ra cùng lúc với cuộc bạo loạn vào tháng 7 ở Watts, một khu phố dân cư da đen của Los Angeles, sự kiện Đại hội đồng Những Người Không Được Đại Diện (Assembly of Unrepresented People ) vào tháng 8 năm 1965 cũng đã là nỗ lực lớn cuối cùng để gôm chung lại các vấn đề dân quyền và phản chiến. Roy Wilkins của NAACP đã thúc dục mọi người không tham dự vì vấn đề dân quyền sẽ bị vấn đề chiến tranh Việt Nam lấn chiếm mất.  1162  Tương tự như vậy, Carl Oglesby đã nói với tác giả rằng ông cũng tin rằng việc trộn lẫn các dân quyền của người da đen với những nỗ lực chống chiến tranh trong một mặt trận thống nhất sẽ chỉ gây thiệt hại cho cả hai lý tưởng đó. Cả hai sẽ bị bọn (Cộng sản) đỏ làm nhơ nhớp.

Women Strike for Peace, một thành phần chính trong phong trào phản chiến, đã công khai rầm rộ quảng cáo liên hệ của mình với Cộng Sản ngay tại các buổi điều trần trước Quốc hội. Norma Becker, chẳng hạn,  đã là một kẻ bảo vệ tích cực cho các câu lạc bộ DuBois Clubs of America do Cộng sản tạo ra .  1163

Chống lại Oglesby, Tom Hayden chủ trương phối hợp vấn đề các quyền dân sự với các vấn đề phản chiến chung trong một mặt trận chiến lược thống nhất cộng sản kiểu cổ điển.  1164 Và Herbert Aptheker  1165 lãnh đạo  CPUSA, cùng các cố vấn CPUSA là Stanley Levison và Clarence Jones, với các phụ tá của  Martin Luther King cũng đồng ý vậy. 1166

Thật vậy,  lãnh tụ Herbert Aptheker của CPUSA có thể đã lưu ý lại đến Tom Hayden vì cùng chung chiến lược Sì-ta-lin-nít. Tom đã sẽ sớm được khen thưởng. Staughton Lynd có nhận xét, “trong khi thiếu [lãnh đạo] , các đảng viên Đảng Cộng sản và những kẻ ủng hộ đã thành lập ra một Ủy ban Điều hợp Quốc gia nhằm Kết thúc Chiến tranh ở Việt Nam, với chính ngay họ trong vai trò chủ chốt tại các trụ sở trung ương trên toàn quốc.” Peter Camejo của Liên minh Young Trotskyite Socialist Alliance đã nói , “Đảng Cộng sản chiếm đa số tại Hội nghị. Liên minh quốc gia … đã luôn luôn bị Đảng Cộng sản điều khiển. ”  1167

Ngày 6 tháng 8 năm 1965, khoảng 1.000 người đã bao vây tòa Bạch Ốc  – một số ít ngồi lỳ tại chổ và yêu cầu gặp Tổng Thống. Trong vòng hai ngày thì 36 tên đã bị bắt giữ. Ngày 9 tháng 8, khoảng 800 tên đã tiến về điện Capitol Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ chiếm giữ. Khi bị cảnh sát chận lại, Staughton Lynd đã tìm cách vượt qua rào chắn và bị bắt cùng với David Dellinger với Robert Moses. Ba trăm năm mươi tên khác ngồi xuống , từ chối không đi đâu cả để rồi bị đuối sức đi và đã bị bắt giữ một tiếng đồng hồ sau đó.  1168

Ủy Ban Phối Hợp Toàn Quốc để Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam (National Coordinating Committee to End the War in Vietnam, NCC)

Jerry Rubin đã thuyết phục được Đại Hội Đồng hỗ trợ cho Ngày Phản đối Quốc tế của Vietnam Day Committee,  VDC được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 10 và Đại Hội Đồng cùng ADC và độ 30 tổ chức khác đã thành lập Ủy Ban Phối Hợp Toàn Quốc để Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam (National Coordinating Committee to End the War in Vietnam, NCC) để điều hợp tổ chức khắp toàn quốc.  1169

Nhiều lãnh tụ nổi bật khác là Dellinger,  Arnold Johnson lãnh tụ của CPUSA ,  1170  Beinin Irving của National Guardian  và Larry Seigle với Robin Maisel, đều là bọn Tờ-rốt-kít. 1171  Một tên cả đời là tả phái tên Norma Becker cũng đã thành lập Ủy ban Fifth Avenue Parade để biểu dương ở New York vào mùa xuân năm 1966.

Số 5 đường Beekman Street ở Wall Street tại Nữu Ước

Sau đó, Ủy ban Fifth Avenue Parade sẽ dùng cùng một địa chỉ với Fellowship of Reconciliation, the Committee for Nonviolent Action, the Catholic Peace Fellowship and the Vietnam Veterans Against the War tại  số 5 Beekman đường Wall Street ở New York. 1172 Trong khi đó, tại Hà Nội bọn cộng sản Mỹ đáng tin cậy nhất  cũng đã tề tựu để nhận các chỉ thị của đảng.

Câu Lạc Bộ Dubois Hà-nội – Tháng 8 năm 1965

 Tháng 8 năm 1965, Nguyễn Trung Hiếu và Đỗ Xuân Oánh đã chào đón các đoàn đại biểu DuBois –  tay lãnh tụ Michael Myerson, Jon Christopher Koch sau này của PBS, Harold Supriano  1173  và tên phóng viên Richard Ward  của tờ Guardian – tại sân bay Hà Nội mà đã đến trên một phản lực cơ ngoại giao nhỏ sau khi bay tiếp chuyến bay của hãng Liên Xô Aeroflot từ Paris đến Bắc Kinh.

Tại Hà Nội Michael Myerson đã từng mô tả các công sự phòng không, nhưng kỳ lạ là không hề có thực tập không tập. Điều đó không có gì là lạ, bởi vì các tổng thống Mỹ đã ra lệnh không đánh bom trung tâm thành phố Hà Nội  trong suốt chiến tranh. Theo đúng khuôn của mấy tên mới vào đảng cộng sản, tên đảng viên CPUSA là Myerson đã báo cáo rằng Bắc Việt Nam đã hầu như loại bỏ hẳn nạn mù chữ, nạn thiếu ăn, nạn sốt rét và dịch tả – đúng y như ở khắp mọi nơi mà Cộng sản cầm quyền – hoàn toàn ngược lại với các bằng chứng thực tế.

Khi đi Nam Định, Myerson ghi nhận, “cả đêm … xe lửa ầm ỹ chuyển hàng  … về Nam”. Myerson đã không đề cập đến Nam Định là một trung tâm đường sắt dùng để tiếp tế trang thiết bị , nhiên liệu và đạn dược chiến tranh cho du kích và lực lượng chính quy tại miền Nam Việt Nam. Myerson cũng báo cáo về việc dội bom các bệnh viện  , sân trường, chùa và một nhà máy dệt 1174 trong các khu vực mà không hề có các mục tiêu quân sự, hay xe lửa vận chuyển hàng hóa và kho chứa ở gần đó.

Một phi công Mỹ đã nói với William Broyles, “Nếu quả thật Nam Định vô tội thì tại sao thành phố sáng trưng lên như một cây Giáng sinh mỗi khi chúng tôi bay qua đó?” Câu trả lời là Nam Định đã được bao quanh đầy cao xạ phòng không và hỏa tiễn địa-không Sims  1175  mà một số thì bố trí trên mái những nhà gần hay ngay những trường học, bệnh viện, và chùa chiền. Và khi bị đánh trúng,  thì tại những trường học, bệnh viện và chùa chiền này lại có thêm các vụ nổ rất lớn kế tiếp do việc đạn dược đã được lưu trữ ở ngay tại những chổ đó. 1176  “Bắt đầu là sẽ âm ĩ và … sau đó thì phát nổ suốt trong nhiều giờ.”  1177 Tương tự như vậy, tù binh và cũng là Thiếu Tá Không quân Edward K. Elias, sau đó đã cho nhà báo Peter Arnett biết, “Anh thấy những gò mộ đó không? Chúng chỉ là những hố phòng không với những họng súng chỉa xuống. … Anh thấy chổ bố trí phòng không đó không? Chúng toàn là 85. 1178

 Nhắm Đánh Các Bệnh Viện và Xử Dụng Vũ Khí Hóa Học

Jon Christopher Koch đã viết rằng Hoa Kỳ từng ném bom một bệnh viện lao, một khu săn sóc người cùi, và tổng cộng tới 20 bệnh viện. Koch đã không giải thích là quân đội đã có thể đạt được gì khi cố ý đánh bom quá nhiều bệnh viện như vậy trong khi có biết bao nhiêu là đoàn tàu vận chuyển hàng hóa và đoàn xe vận tải ầm ầm chạy về Nam. Việt Cộng đã nói là việc dội bom bệnh viện là “hoàn toàn cố ý.”

Chính Hà Nội đã cố tình nhắm các mục tiêu  cơ sở y tế. Từ 1957 tới 1967, bọn khủng bố cộng sản “đã phá hủy 174 trạm xá, phòng hộ sản và bệnh viện, đã đặt mìn hay dùng đại liên bắn 40 xe cứu thương cũng như giết hoặc bị bắt cóc 211 [nhân viên y tế], theo Tiến sĩ Trần Văn Lữ Y khi thuyết trình trước Tổ chức Y tế Thế giới tại Geneva.  1179

Vũ Khí Hóa Học

Tờ Vietnam Courier  đã tường thuật là Mỹ từng sử dụng vũ khí hóa học. 1180

Hoa Kỳ không hề sử dụng vũ khí hóa học bị cấm tại Việt Nam. Vào cuối năm 1998, Graham Cosmas của Trung tâm Quân sử Quân đội Hoa kỳ đã báo cáo, “Quân đội Mỹ đã không tìm thấy được bằng chứng nào để hỗ trợ … cho các tuyên bố là các loại hơi làm tê liệt thần kinh đã được sử dụng trong … bất kỳ … chiến dịch bên trong hay bên ngoài nào của miền Nam Việt .”  1181  Thường thì vũ khí hóa học được dùng để tiêu diệt hay vô hiệu hóa tức thì. Những cái chết đau đớn khủng khiếp và không phân biệt cùng việc sử dụng lan truyền không kiểm soát của loại hơi mù tạt với hơi làm tê liệt thần kinh trong Thế chiến I đã dẫn đến việc loại bỏ và quy định đó là một tội ác chiến tranh. Mù tạt và hơi làm tê liệt thần kinh đã không hề được sử dụng trong Thế chiến II, tuy nhiên Việt Nam, Liên Xô và Iraq đã lần lượt sử dụng chúng ở Lào, Campuchia, Afghanistan và Kurdistan.

Loại hơi làm chảy “nước mắt”  không hề độc hại, làm tàn tật hay giết người thì không phải là vũ khí hóa học và không bị cấm, chiếu theo các quy tắc của chiến tranh. Hơi làm chảy nước mắt, ‘mace’, và bình xịt hơi cay không hề bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Hơi Độc

Tương tự như vậy, các loại hơi độc không phải là những thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu từng được sử dụng rất có lợi trong tất cả các nền văn minh để diệt cỏ dại, côn trùng và bệnh tật cỏ cây . Thuốc diệt cỏ, như Chất độc Da cam không phải là vũ khí hóa học hay là hơi “độc”. Chúng đã được sử dụng để làm giảm bớt các tàn cây rừng che khuất các con đường tiếp liệu của đối phương và các ổ phục kích của địch dọc theo đường lộ.

Chất Da Cam

Nhiều thập niên sau đó, một danh sách cực kỳ dài về các bệnh tật đã bị gán một cách sai lầm là do chất độc dioxin của Hóa chất Da cam. Những cáo buộc này hoàn toàn không xác thực sau suốt nhiều thập niên nghiên cứu về khoa học và nhiều vận động chính trị mạnh mẽ. Chất Dioxin thoái hóa nhanh chóng dưới ánh sáng mặt trời trong vòng từ 48 đến 72 giờ và các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mà các cựu chiến binh đã bị nhiểm thì  “không có thể gây ra các bệnh cho cà toàn thân  … hay các dị tật bẩm sinh … của trẻ em.”  1182

Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã bác bỏ các vụ kiện chống lại 37 công ty Mỹ về những thiệt hại liên quan đến Chất độc Da cam. Cho tới bây giờ, mãi đến cuối năm 2008, tại Việt Nam những trường hợp nghi ngờ về dị tật bẩm sinh, ung thư, các loại buớu Hydatidiform và choriocarcinoma ” đều đã không  được chứng minh . 1183 “. Cuộc Nghiên cứu về Sức khỏe của Không Quân (Air Force Health Study AFHS), đã bị nhiều điểm thiếu sót bằng chứng vì các kết luận đã dựa trên những dữ liệu rất hạn chế có tính cách đơn thuần và liên kết thay vì là nguyên nhân của chứng bệnh.  1184

Bây giờ chính phủ Cộng sản Việt Nam vẫn còn trưng bày những hình ảnh của con trẻ bị biến dạng như là bằng chứng về hiệu quả lâu dài của Chất độc Da cam.  1185

Chính phủ Mỹ đã trả tiền cho 10.000 cựu chiến binh vì lý do từng tiếp xúc với Chất độc Da cam dựa trên các giả định có tính cách chính trị trong một bản liệt kê về nguyên nhân của nhiều bệnh   1186  và đã thanh toán cho Việt Nam gần 50 triệu $  1187  cho các khuyết tật không xác định  do chiến tranh 1188   – tất cả đều dựa trên chính trị mà không hề là khoa học. Trong một vụ kiện riêng  tư, các công ty hóa chất đã trả 197 triệu $US  trong tổng số các khoản thanh toán cho các cựu chiến binh Việt , trung bình là 3.800 $US cho 52.000  cựu chiến binh Việt .  1189

Tuy từng bị tranh cãi và đổ lỗi cho lý do là vì phân của loài ong gây ra, các khám nghiệm tử thi và xét nghiệm máu đã cho thấy là Việt Cộng,  chứ không phải Mỹ đã phun một loại bột màu vàng, “mưa vàng,”  trichothecene mycotoxin , vào những người Hmong Lào và Campuchia vào năm 1975 và thời gian sau đó. 1190  Một viên chức của Hà Nội đã nói với Nguyễn Công Hoan là chính sách đảng từng  “sử dụng các vũ khí hóa học màu vàng đối với những bộ lạc [Thượng]” ở Nam Việt  1191

Khi còn ở Hà Nội, bọn thanh niên Dubois đã yêu cầu được gặp một tù binh chiến tranh. Đại úy Robert Norlan Daughtrey đã rất vô tư lự và tự tin, nhưng ông không muốn nói chuyện về cuộc không chiến.  Bọn Việt đã tra tấn Norlan Daughtrey để ép nhận các tội ác và chịu nhìn nhận như vậy.  1192

Myerson thì đã nhận được một huy chương “Cháu Ngoan yêu thích của Hồ Chí Minh” và tất cả – Michael Myerson, Jon Christopher Koch, Harold Supriano  1193 và Richard Ward – đã đều nhận được các chiếc nhẫn kỷ niệm làm từ chiếc phi cơ Mỹ thứ 500  bị bắn rơi. 1194

Cùng lúc tại New York, tờ New York Times đã đặt nghi vấn về các báo cáo của Dubois liên quan đến việc cố tình dội bom các bệnh viện bởi vì họ thực sự chỉ chứng kiến chỉ có một cây cầu bị dội bom .  1195

Nếu mà nói về việc nhắm các mục tiêu cơ sở y tế cùng nhân viên, thì quả thật bọn cộng sản mới đã phạm các tội ác chiến tranh mà chúng đã cáo buộc Mỹ và lại còn vi phạm còn nhiều hơn nữa.

Các Mục Tiêu Dân Sự và Các Nạn nhân tại Hà Nội

Theo Robert F. Turner, chính bọn cộng sản mới là những kẻ , “trong suốt cuộc chiến … thường xuyên cho thấy rất nhẫn tâm không để ý gì tới an toàn của  những không tham chiến.”  Chúng đậu các đoàn xe quân sự trong các khu vực dân sự, cất giữ vật tư quân sự ngay tại trung tâm văn hóa Hải Phòng và đã sử dụng bệnh viện, trường học, đê điều như là những địa điểm bố trí vũ khí phòng không. Các đơn vị phòng không Cộng sản đặt ngay giữa khu vực dân cư đã lại gây ra việc các hỏa tiển gây thương vong cho phụ nữ và trẻ em Việt Nam.

W. Hays Parks cho biết các thương vong dân sự có vẻ đã bao gồm một số thường dân làm việc tại các mục tiêu hợp pháp – phụ nữ tu bổ các chổ bị dội bom hư hỏng. Nhiều người đã bị giết ngay bởi SAMs hay các loại AAA của Bắc Việt  … khi chúng rớt về lại mặt đất ” và do cách sử dụng con người làm bia đở đạn của Hà Nội. ” Hệ thống phòng không Bắc Việt … đã gây nguy hiểm cho lực lượng Hoa Kỳ” và khiến làm giảm “độ chính xác lúc ném bom các mục tiêu hợp pháp”,  và đã dẫn đến việc có “hơn nhiều thương vong dân sự dù không cố ý .”  1196  Chủ thuyết Việt Nam đã là chấp nhận “Không có  thường dân”  đã có thể biến các phụ nữ và trẻ em thành những bộ đội, và đã khiến cho việc phân biệt giữa thường dân và binh lính rất khó khăn.

Từ năm 1962 đến giữa năm 1965, Ủy Ban Kiểm soát Quốc tế báo cáo là Việt Cộng đã cố tình giết chết, gây thương tích hay bắt cóc 54.235  thường dân ở Nam Việt 1197,  so ra hơn nhiều số thương vong dân sự không cố tình của việc Mỹ dội bom lầm.

Chính phủ Nam Việt Nam đã mở rộng vòng tay giúp đỡ các nạn nhân của Việt Cộng.

Tem. VNCH  mở rộng vòng tay giúp đỡ các nạn nhân của Việt Cộng. Tài liệu của Nat Ward

An ninh Đang Được Cải Tiến tại Nam Việt

Mặc dù có thương vong dân sự, các hành vi quân sự của Hoa Kỳ trong năm 1964 và 1965 ở miền Nam vẫn có được tác động tích cực trong thường dân Nam Việt . Mark Moyar đã nhận xét là từ giữa năm 1965 đến năm 1972, do việc bắt dầu có hỏa lực Mỹ, người dân làng đã đổi bên. Hỏa lực quả đã gây thiệt hại lớn cho thôn làng. Tuy vậy, người dân làng vẫn biết là các mục tiêu của hỏa lực rất tàn phá của Mỹ chỉ là Việt Cộng và không phải là họ, mà đôi khi đã xẩy ra với Chính phủ Việt Nam. ” Khi Đồng minh sử dụng bạo lực trong thời kỳ sau đó thì chủ yếu họ chỉ nhắm bộ đội Cộng sản trong các thôn, bản, chứ không phải là  người dân thôn bản, và đó là một thực tế người dân rất mang ơn.”  1198

Chiến Tranh Nhân Dân Thất Bại

Những nỗ lực của Việt Cộng để tập hợp người dân miền Nam hầu tiến hành một cuộc tổng khởi nghĩa tại các thành phố của miền Nam đã từng thất bại hai lần, ngày 15 tháng 10 và 19 tháng 12 năm 1965  1199 và sau đó sẽ vẫn là như vậy. Hiệu lực của chiến tranh nhân dân chỉ là vậy thôi.

Mặc dù Bắc Việt bị khổ sở nhiều nhưng đã không có vấn đề phản đối chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam. Không có vấn đề đàm phán với các Phật tử và không có báo chí đối lập. Các nhà văn, các biên tập viên và các nhà phê bình đều bị tố cáo và bị đày về “nông thôn, về những nhà máy, về các hầm mỏ và các đơn vị quân đội để bị khổ sai lao động và cũng để được nghiên cứu cuộc sống thực tế của người dân.”  Rất nhiều người đã chết.  1200 Mọi người dân sự mà dám chống lại chế độ cộng sản, dù là thành phần quốc gia hay không,đều đã bị giết chết, hay phải im lặng hoặc trốn thoát ra đi. Rồi sau 1975 thì cũng như vậy.

Hành vi phản chiến ở ngoài lãnh thổ Bắc Việt  thì lại hoàn toàn được tự do với sự khuyến khích của Hà Nội và bọn tuyên truyền.

 Giới Truyền Tin Phản Chiến

Trong mùa hè và mùa thu năm 1965 ở Jakarta, Hà Nội và Algiers các phái đoàn WSP và FOR đã nói với Việt Cộng là đừng mong “dựa vào phong trào phản chiến hầu  …  kết thúc chiến tranh.” Một cuộc thăm dò của hãng Harris đã cho thấy một sự ủng hộ thấp của công chúng  đối với các buổi dạy tại chổ về phản chiến trong mùa xuân đó.

Tuy vậy, số báo chí phản chiến đã phát triển nhanh chóng –  Ngoài Ramparts đã có thêm sự tham gia của  Viet Report, Fellowship, Liberation, the Nation,  the Progressive and the Christian Century  mà đã cùng đăng các bài báo phản chiến. Các thành viên của cả WSP và Dubois đã hân hoan loan truyền  khắp nước Mỹ 1201 các lập trường về chiến tranh  của Hà Nội  và từ đó các bài tường thuật địa phương và chính thức đã lấy tin để phổ biến.

ill Ayers của WPS Gặp Việt Cộng ở Toronto – Tháng 10 năm 1965

Trong tháng 10 năm 1965, 18 người Mỹ – rất có thể là Cora Weiss, Madeline Duckles và Ethel Taylor  1202  – được Women’s Strike for Peace  hướng dẫn đi gặp một tá Việt Cộng ở Toronto trong một buổi dạy tại chổ quốc tế. 1203  Bọn Việt Cộng tuyên bố là chúng phân biệt được giữa nhân dân Mỹ với chính phủ của họ và biết là các phong trào phản chiến đã đang làm tất cả những gì có thể được hầu chấm dứt sự xâm lược.

Bill Ayers viết, “Tôi rời khỏi phòng để khóc . . . Nhờ người Việt  … tôi nhận ra … Mỹ là một con cá voi hiểm  ác … và rằng tôi là, như Jonah, đang sống trong bụng của con thú … Tôi đã trở về nhà  với nổi đam mê biết được là phải chấm dứt chiến tranh … Nguyễn Thị Thanh. ” Thanh đã cho Ayers, giống như đã cho Michael Myers, một chiếc nhẫn kỷ niệm được làm từ chiếc phi cơ thứ 500 của Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam.  1204

Trong khi đó thì Bộ Ngoại giao đã “bỏ qua các vi phạm về sổ thông hành, các nhóm phản chiến đã lợi dụng kẽ hở để … cũng cố phát triển lâu dài hơn các mối quan hệ với cán bộ Việt Cộng… [và] … củng cố mạng lưới riêng của chúng …”  1205  Ở Toronto vào ngày 15 tháng 10 năm 1965 hơn 800 sinh viên – trong đó có 330 là Mỹ – đã tham dự một cuộc biểu tình phản chiến được tài trợ bởi Liên đoàn trẻ trung  Sinh Viên Đoàn kết vì Hòa Bình (League of Students United for Peace Action) , và Ủy Ban Quốc tế Toronto cho Ngày Việt Nam (Toronto International Vietnam Day Committee)  . 1206

*********

1070  Miller. Trang 238 ghi chú số 47

1071  Miller. Trang 234-235 ghi chú số 39

1072  Miller. Trang 238 ghi chú số 47

1073  Miller. Trang 241

1074  Phillip Abbot Luce, Frontline, tháng 10, 1985, Bản tin số  2.  Để ý là tổ chức Americans for a Sound Foreign Policy của Luce đã gây quỹ để chống đối Hayden. Hayden đã gọi Luce là một “nhân viên FBI bị ảo giác vì chơi thuốc” nhân một “buổi dạy tại chổ” về Việt Nam ở một đại học ở tiểu bang Idaho vào năm 1977.

1075  Mark Pilisuk và Thomas Hayden, “Is There a Military-Industrial Complex Which Prevents Peace?’, Journal of Social Issues, XX (Tháng 7, 1965), trang  67-68, 70-71, 91-92, 97-99, 103-105, 109-110, 112-113, trong Norman L. Crockett, ed., The Power Elite in America (Lexington:  D. C. Heath, 1970), trang 106-113.

1076 Bộ tài liệu Viet II 336 của tác giả.

1077  Lewis Sorley, A Better War, San Diego: Harvest, Inc 1999, trang 303 và  “Statistics About the Vietnam War,” The History Channel, 8, viện dẫn trong Rothrock, Divided… trang 248 ghi chú 10. Diển văn của B.G. Burkett tại viet-myths.net/session04.htm; B.G. Burkett, Stolen Valor: How the Vietnam Generation Was Robbed of its Heroes and Its History, Dallas: Verity Press. 

1078   B.G. Burkett và Glenna Whitley, Stolen Valor: How the Vietnam Generation Was Robbed of its Heroes and Its History, Dallas: Verity Press. 

1079   Bộ tài liệu Viet I DSC_195  của tác giả.

1080  Bộ tài liệu  Viet I DSC_196  của tác giả.

1081   Wells, War Within, trang 50.

1082   Miller, Democracy Is in the Streets, trang 243; Bản tin Khu vực của SDS, San Francisco, 1965. Bob Black, tên đồng chí trong tương lai của Hayden tại Davis, California đã làm y như vậy đối với các đoàn tàu rời Roseville. Do việc phản đối các chuyến tàu khã dỉ có thể chở vũ khí đi Trung Mỹ từ kho Concord Ammunition Depot vào ngày 1 tháng 8, 1987, S. Brian Willson đã bị xe lữa cán nát hai chân.

1083  Tom Wells phỏng vấn Milligan, The War Within, trang 51. Các đoàn tàu đã chuyên chở các hỏa tiễn không-đối-không —Sidewinders và Sparrows– từ Navy Guided Missiles Service Unit 212 của Hải quân , kho Concord Naval Weapons , nơi mà tác giả đang thi hành nghĩa vụ từ 1959-61, nhằm kiểm tra các hỏa tiễn vừa được sản xuất trước khi được chở đi Thái Bình Dương.  

1084   San Francisco Chronicle, tháng 3, 1970.

1085   Bill Ayers, Fugitive Days, trang 144.

1086  Pike, Viet Cong, trang 312.

1087  Nhân viên đặc cách FBI Chicago gởi cho Giám đốc, phiếu trình 39, 42-42. Xem thêm : Rothrock, Divided…,  trang 97-98.

1088  Andrew Walker, “Vietnam – Focus of the World Peace Congress,” Report of the World Congress for Peace, National Independence and General Disarmament, Helsinki, tháng 7, 1965, British Peace Committee, #REF DYO/12/64, ngày tháng vào khoảng 19-31 tháng 7, 1965.

1089  Khi bức tường sắt xụp đổ vào năm 1989 thì WPC tiết lộ là 90% của nguồn tài trợ là từ Liên Xô. WPC, Peace Courier, 1989, Số  4. Việc tài trở đã được thu xếp để không truy nguyên được. Giáo Hội Chính Thống Nga đã tài trợ cho Quỷ Hòa Bình Thế Giới Liên Xô để quỷ này rồi lại tài trợ cho Hội Nghị Hòa Bình Thế .

1090  Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay vì là điều trần với Chủ Tịch của Ways and Means Committee Hạ viện, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, các phiên điều trần, Committee on Oversight, 12-13 tháng 3, 1987, trang 400 viện dẫn phúc trình của FBI trong “Covert Action Operations,” Hạ viện, Select committee on Intelligence.

1091

1092  Chính sách Hòa Bình Chính Thức của Cộng Hòa Dân Chủ Đức, 28 tháng 6, 1965 trong An alle, die den Frieden wollen. Appell des Friedensrates der DDR an die Friedensanhänger in Westdeutschland und in allen Ländern“ meaning [Chuyển ngữ qua Anh bởi Allison Brown] “To All Who Want Peace: Appeal of the Peace Council of the GDR to the Advocates of Peace in West Germany and in all Countries on the Occasion of the World Peace Congress in Helsinki”, 28 tháng 7, 1965, Neues Deutschland, 29 tháng 6, 1965, 3 B tại 

http://germanhistorydocs.ghi-dc.org/print_document.cfm?document_id=1125

1093  Ralph Schoenman, tay môn đệ của Bertram Russell đã gây náo động khi đọc bài diễn văn ca ngợi nồng nhiệt bọn Mao-ít. Schoenman “đã thấy rỏ là Đại hội đã bị bọn Mỹ chống Tàu lũng đoạn.” Bertrand Russell, “private memorandum concerning ralph schoenman,”  từ  Ronald W. Clark, The Life of Bertrand Russell, Alfred A. Knopf, New York, 1976, trang 640–651. http://karws.gso.uri.edu/jfk/the_critics/Russell/Private_memorandum_of_Russell.html      

1094  “The CIA and the Media,” Điều trần trước ủy ban Committee on Oversight of the Permanent Select Committee on Intelligence, House of Representatives, Quốc hội Nhiệm kỳ 95, khóa 1 và 2, 27-29 tháng chạp, 1977: 4-5 tháng giêng và 30 tháng 4, 1978, trang 577.

1095  “US the Main Target,” New York Times, 11 tháng 7, 1965, trang 11.

1096  Hình ảnh trong bộ Viet II DSC_375, 376 của tác giả.

1097   “Met with Premier Pham Van Dong in North Vietnam…”  Ủy ban Tường Trình Ruth Gage-Colby , thư mời ngày 20 tháng giêng , 1972.

1098  Mary Hershberger, Traveling…, trang 3-4; James W. Clinton phỏng vấn Mary Clarke, 16 tháng 11, 1990 trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 1-2.

1099  Zaroulis và Sullivan,  trang 51.

1100  Mary Hershberger, Traveling… trang 7-9.

1101  FBI, The Organized Opposition of the American Left, 3, viện dẫn trong Rothrock, trang 103 ghi chú 43.

1102   AP, 14 tháng 7, 1965; UPI,  15 tháng 7, 1965, Evening Bulletin (Philadelphia), 16 tháng 7, 1965

1103  Daily Worker, 2 tháng 5, 1942  và 22 tháng 2, 1944 tại  FBI, FOIA Web site, F., Friends….

1104   New York Times, 5 tháng 6, 1949, 18 tháng 7, 1949 tại FBI, FOIA Web site, F., Friends….

1105   New Leader, 23 tháng 7, 1949 và New York Times 18 tháng 7, 1949  tại FBI, FOIA Web site, F., Friends….  

1106   Trang Web của FBI, FOIA , F., Friends….”cuối tháng chạp, 1967 một kêu gọi gây quỹ … để cứu Morton Sobel đã được FSP ở Seattle kêu gọi…”

1107   TRang Web của FBI, FOIA , C, CALC 123718; The Daily Worker, 8 tháng 4, 1956;

1108   Hershberger Traveling… trang 10-11.

1109   Hershberger Traveling… trang 11.

1110  S.D.S. Bulletin, Bộ 4, Số 1, trang  9-10.

1111   MacKubin T. Owens, “They Charge War Crimes…” National Review, 3 tháng 5, 2004.

1112   Garnett “Bill” Bell với George J. Veith, Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War, Madison: Goblin Fern Press, 2004, trang 93.

1113   Tướng Lữ Mộng Lan, kể về một bộ hối ký của quân Bắc Việt trong  ”Counterterror,” với Al Santoli, To Bear Any Burden,  trang 154.

1114  MacKubin T. Owens, “They Charge War Crimes…” National Review, 3 tháng 5, 2004.

1115   Mark Berent, “Rules of Engagement,”  trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 143.

1116  Barry Goldwater, Congressional Record, 6, 14 và 18 tháng 3, 1985 nêu ra trong  William F. Jasper, “Seven Myths About the Vietnam War,” New American, 25 tháng 3, 2002.

1117   Mackubin T. Owens, “Bob Kerrey’s Vietnam War,” The Weekly Standard, 14 tháng 5, 2001; Indochina Chronology, Texas Tech, 2001 trang  30.

1118   Hershberger Traveling… trang 12.

1119   English Fabian Socialists đã thành lập FOR vào đầu thế kỷ 20.

1120   Hồ sơ của Fellowship of Reconciliation, USA,(FOR-USA), DG 013, Phần 2, Loạt  G, G-4, Swarthmore College Library.

1121   Fellowship of Reconciliation-USA, DG 013, Đoạn II, Loạt  C, bộ sưu tầm của Executive Secretaries/Directors, Swarthmore Peace .

 1122   David Emerson Gumaer, “Apostasy: The National Council of Churches”  tại nccwatch/articles/apostasy.htm?200815.

1123   Information Digest, Bộ  XIII, #6, 21 tháng 3, 1980, trang 86.

1124  Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho điều trần trước Chủ tịch Ủy Ban Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Điều trần , tiểu ban về Oversight, 12-13 tháng 3, 1987, trang 404.

1125   “American Red Cross Services to Indochinese Refugees During and After the War,” American Red Cross Museum, at redcross.org/museum/history/Vietnam.asp.

1126   Mary Hershberger, Traveling…  trang 15-21

1127   Guenter Lewy, “The War that could be Won,” New York Sun, 24 tháng 11, 2006 http://www.nysun.com/article/44100

1128   Giám đốc Hội Đồng CIA and U.S. Intelligence Board, “The Situation in South Vietnam,” SNIE 53-2-63, 10 tháng 7, 1963, 2;  cũng như ttong tài liệu của Giám đốc CIA  “Analysis of Vietnamese Communist’s Strengths, Capabilities, and Will to Persist in Their Present Strategy in Vietnam,”  26 thán 8 ,  1966,  trang 4.

1129   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York; Harper & Row, 1965, trang 46-9, 51

1130   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York; Harper & Row, 1965, trang 47.

1131   James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ  Xuất bản , 1984,  trang 89-90.

1132   Peter Võ Tá Đệ, Cultural and Theological Foundation for Ancestor Veneration Among Catholics in Vietnam, Luận án Tiến Sĩ  Ph.D. District of Columbia: The Catholic University of America, 1999.

1133   Phạm Xuân An nói với  Thomas Bass, The Spy Who Loved Us…  trang 21.

1134   Về sự kiện Mensheviki và Bolsheviki tách rời nhau tại Đại hội Đảng ở Brussels thàng 7-8 năm  1903,  xem Bertram Wolfe, Three Who Made a Revolution, (4th Ed.) New York: Dell Publishing Company, Inc, 1960, trang 243-44, 316-317.

1135   Giám đốc CIA and U.S. Intelligence Board, “The Situation in South Vietnam,” SNIE 53-2-63, 10 tháng 7, 1963, trang 1, 3.

1136   MARK MOYAR, “Political Monks: The Militant Buddhist Movement during the Vietnam War,” University of Cambridge, Modern Asian Studies, Bộ 38, Số  4, tháng 10,  2004.

1137   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York; Harper & Row, 1965, trang 29-31.

1138   Guenter Lewy, “The War that could be Won,” New York Sun,  24 tháng 11, 2006 http://www.nysun.com/article/44100

1139   Mackubin Thomas Owens, “A Winnable War. The argument against the orthodox history of Vietnam,” 15/1/2007, Bộ 012, Số 17 điểm sách Mark Moyar, Triumph Forsaken The Vietnam War, 1954-1965, Cambridge.

1140   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York; Harper & Row, 1965,  trang 103.

1141  CIA, “An analysis of Thich Tri Quang’s Possible Communist Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27 August 1964 (đã xác định là Trí Quang không là cộng sản; y chỉ muốn có một chính phủ dựa trên tôn giáo tại Nam Việt) . Công điện Tin Tức Tình Báo, TDCS 314/02342-64. 28 tháng 8, 1964. 8 trang . Ấn bản  MẬT/KHÔNG AI ĐƯỢC GIẢI THÍCH. ĐÃ KIỂM DUYỆT,. công bố ngày 24 tháng 5, 1976   http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=view&id=64

1142   CIA, “Short Term Prospects in South Vietnam,” SNIE 53-65, 4 tháng 2  1965, trang 5.

1143   Vấn đề Phạm Xuân An có thể đã làm việc cho CIA đã được nêu ra bởi Peter Conaty (Đại Tá hối hưu) trong một thư gởi cho Larry Berman, tác giả của Perfect Spy.

1144   Bill Gertz, Washington Times viện dẫn bởi Robert Spencer tại  Jihad Watch.org

 21 tháng 11, 2007. Một thẫm phán đã tuyên bố phiên xử bất thành vì lý do bối thẫm đoàn không nhất trí vào ngày 5 tháng 11,  2007, nhưng chính phủ tính sẽ truy tố lại, chiếu theo  những tội danh khã dỉ còn sử dụng được. Xem : Trahan, Jason; Michael Grabell. Judge declares mistrial in Holy Land Foundation case“, The Dallas Morning News, 22  tháng 10, 2007.

1145   Fellowship of Reconciliation-USA, DG 013, Phần II, Loạt  C, Executive Secretaries/Directors, Swarthmore Peace Collection.

1146   Ted Sampley và Xuân Nhi, Vietnamese American Youth, “Vietnamese Communist Party’s Crimes Against Humanity,”  một thỉnh nguyện thư gởi bà Mary Robinson, Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền và mọi Tổ chức Nhân Quyền,  2002

1147   Văn khố của Fellowship of Reconciliation, USA,(FOR-USA), DG 013, Phần 2, Loạt G, Swarthmore College Library.

1148   Tác giả từng tham dự nhiều cố gắng thu lượm chữ ký toàn bang California . Việc này rất tốn công và tốn của mà còn đòi hỏi một khả năng chuyên nghiệp về chính trị. Một sồ đông tay tài tử thì cũng làm không được bao nhiêu.   

 1149   Mary Hershberger, Traveling… trang 22.

1150   Dan Pitzer, “POW,”  trong Santoli, To Bear Any Burden,  trang 92.

1151   Evans, Blacklisted… trang 493 , viện dẫn  J.B. Matthews.

1152   Louis Menashe và Ronald Radosh, Teach-ins: U.S.A. : Reports Opinions, Documents, NY: Praeger, 1967,  trang 29-32  tại  Pacifica Radio/UC Berkeley Social Activism Sound Recording Project Anti-Viet Nam War Protests, Các Đáp ứng về cuộc Dạy Tại Chổ ngày 21 tháng 5, 1965 tại UC Berkeley Teach-in.

1153   New York, Boston, New Haven, Philadelphia, Pittsburgh, Detroit, An Arbor, Chicago, Madison, Milwaukee, Los Angeles, Portland, và Atlanta.

1154   “Oct.15-16, International Days of Protest,” Vietnam Day Committee News, không ghi rỏ ngày tháng [tháng 6 hay 7, 1965 Bộ 1, Số 1], Online Archive of California, OAC, cdlib.org; Claudia Gellert và David Rosen, “Introduction,” Vietnam Day Committee News,” Bội 1, Số 2, tháng 7-8, 1965, tài liệu ‘Online’ của Archive of California, OAC, cdlib.org;  Bản tin Địa Phương SDS , Số 1 Báo cáo của Hội nghị Địa Phương  tháng 11,  1965, San Francisco, tài liệu ‘Online’ của Archive of California, OAC, cdlib.org; Tiểu Ban Tìm Hiểu Dữ Kiện Thượng Viện California về Những Hoạt Động Chống Mỹ của Ủy Ban Nghiên Cứu, Thượng Viện California ( California Senate Fact finding Subcommittee on Un-American Activities of the Research committee, California State Senate) , Phúc trình Bổ túc số 13 của Tiều Ban, Khóa Họp Thường Lệ của Lập Pháp California , 1966; Một lịch trình có giá trị là của Ray Colvig, “From Free Speech to Steady State, 1964-1974,” Office of Public Information, University of California, Berkeley, tháng 6, 1974.

1155   Ray Colvig, “From Free Speech to Steady State,1964-1974,” Office of Public Information, University of California, Berkeley, tháng 6, 1974.

1156   “Regional Conference Report, ”SDS Regional Newsletter, No. 1, tháng 11, 1965, San Francisco, Online Archive of California, OAC, cdlib.org.

1157   Ray Colvig, “From Free Speech to Steady State, 1964-1974,” Office of Public Information, University of California, Berkeley, tháng 6, 1974.

1158   Ray Colvig, “From Free Speech to Steady State,1964-1974,” Office of Public Information, University of California, Berkeley, tháng 6, 1974.

1159   Ralph G. Lewis và Jerome R. Corsi, Making the World Safe for Picnics: The 1972 Conventions in Miami Beach, ấn bàn chưa in của Ford Foundation và Russell Sage Foundation, 1974,  trang 13-49.

1160   John P. Finnegan, Military Intelligence, sưu tập bởi Romana Danysh, Army lineage series, Center of Military History, United States Army, Washington, D. C., 1998 Chương  9: Vietnam and Beyond, trang 153-5. http://www.history.army.mil/books/Lineage/mi/ch9.htm.

1161   Bản in Stencil mà tác giả có được.

1162   New York Times, 11 tháng 8, 1965, trang 3.

1163   The Worker, 20 tháng , 1966.

1164  Canfield phỏng vấn qua điện thoại Carl Oglesby năm 1989.

1165  Smith, trang 87.

1166   Hoover với Tolson v. v . . . Sổ nhật ký ngày 6 tháng 7, 1965 tại trang mạng của  FBI, FOIA trong hồ sơ Clyde Tolson.

1167   William T. Pool, “The Anti-Defense Lobby Part 3: Coalition for a New Foreign and Military Policy,” Institutional Analysis #12, Heritage Foundation, 19 tháng chạp, 1979,  trang 18.

1168   Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary, New York: New York University Press, 2006,  trang 143; Halstead, Out Now!  Trang 66-69; Dellinger, Yale to Jail, trang 211-215; Cagin and Dray, trang 440; Gannon, Bộ  I, trang 429-431.

1169   Tom Wells, The War Within, trang 51.

1170   Các công tác của Arnold Johnson với đảng CS Mỹ đều có tính cách tôn giáo và lao động.

1171   Gannon, Bộ III,  trang 113.

1172   FBI Information Digest Special Report on VVAW, 25 tháng 8, 1972 nêu ra trong bài của Fedora  trên  FreeRepublic.comhttp:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW

1173   James W. Clinton phỏng vấn qua điện thoại Harold Supriano, 14 tháng 11, 1990  trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995,  trang 10-11.

1174   Michael Myerson, These Are the Good Old Days, New York: Grossman 1970, trang 133, 139 nêu ra trong Herschberger Traveling… trang 23-24

1175   Guenter Lewy, America in Vietnam, trang 401-2 viện dẫn bởi James Banerian và  Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất bản Tiếng Mẹ , 1984,  trang 245-6.

1176   William Broyles Jr., “The Road to Hill 10,” Atlantic, tháng 4, 1985.

 1177   Mark Berent, “Rules of Engagement,” trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 143.

1178   Peter Arnett, “Close-up of North Vietnam at War: Everything Moves by Night,” New York Times, 3 tháng 10, 1972.

1179   Thượng Viện Mỹ, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972, trang 8.

1180   John Christopher Koch, “Eyewitness in the North,” Viet-Report tháng 10,  1965, trang 9, 12 viện dẫn bởi Herschberger trang 24-27.

1181   Jim Garamone, American Forces Press Service, “Cohen Orders Army, Air Force to Check Sarin Allegations,” Department of Defense,  11 tháng 6, 1998.

1182  Kingsley M. Stevens, “Agent Orange: A Quantitative Perspective,” Human & Experimental Toxicology, Bộ 1, Số 1, 1981, trang 31-39.

1183   “Agent Orange and Dioxin in Vietnam,” Arnold Schecter, MD, MPH, Professor Division of Environmental and Occupational Health Sciences University of Texas School of Public Health, Dallas, Texas, Vietnam Center, 13 tháng 3, 2008. arnold.schecter@utsouthwestern.edu .

1184   Điểm yếu của bộ dữ kiện của AFHS : Ngay căn bản đã chỉ dùng những nhóm nhỏ trong đại đa số để nghiên cứu; Đại đa số thì lại không có tính cách tượng trưng cho toàn bộ cựu chiến binh; Không dùng các đánh dấu về sinh vật học đề chứng minh là đã tiếp xúc với thuốc diệt cỏ dại khác hơn là TCDD; Thiếu dử kiện về các tiêu đề liên hệ địa điểm chiến trường; Không có những tường thuật chi tiết về việc bị ảnh hưởng của chất độc; Khã năng có thể từng bị tiếp xúc với hóa chất diệt cỏ dại khi so sánh các nhóm người được nhiên cứu, “The Institute of Medicine, National Academy of Sciences’ Health and Scientific Research on Dioxins and Agent Orange: Past, Present, and Future,” David A. Butler, PhD, Institute of Medicine, National Academy of Sciences, Texas Tech, 13 tháng 3, 2008. 

1185   Trưng bày trong Bảo Tàn Viện Tội ác Chiến Tranh tại Sài gòn. Các trưng bày, hình ảnh và ghi chú là của bộ Viet II DSC_259-261, 295-300 của tác giả.

1186   Theo luật, VA giả định là mọi cựu chiến binh Việt đều đã tiếp xúc với Chất độc Da Cam tại Việt Nam. Các bệnh tật mà VA đã thừa nhận là liên hệ với, nhưng không bắt buộc phải là do Chất độc Da cam là Chloracne, Hodgkin’s disease, Multiple myeloma, Non-Hodgkin’s lymphoma, Acute and subacute peripheral neuropathy, Porphyria cutanea tarda, Prostate cancer, Respiratory cancers, type 2 diabetes, Soft-tissue sarcoma, chronic lymphocytic leukemia. http://www.vba.va.gov/VBA/benefits/factsheets/serviceconnected/presumptive.doc

1187   Ben Stocking, “U.S. Gives Vietnam $400,000 to plan cleanup of Agent Orange hotspot,” AP,  9 tháng 2, 2007 tại  signonsandiego.com; Sáu triệu đưa thêm trong năm 2008-9  đã đem tới “hơn 40  triệu Mỹ kim trong năm 2007. Martha Ann Overland, “Agent Orange Poisons New Generations in Vietnam,” Time, 19 tháng chạp, 2009.   

1188   National Academy of Sciences, Institute of Medicine, Veterans and Agent Orange, 27 tháng 7, 2007 tại iom.edu; U.S. Department of Defense, Office of Assistant Secretary (Public Affairs), “DOD Releases Study on Link Between Agent Orange and Diabetes,” News Release, No. 682-05, 8 tháng 7, 2005; “Data suggest Link Between Agent Orange Exposure and Hypertension,” Science Daily, 31 tháng 7, 2007; Michael Gough, ‘Agent Orange-Spina Bifida Link: Let’s Look Again,” Cato Institute, tháng 4,  1996, tại  junkscience.com. 

1189   http://www.vba.va.gov/bln/21/Benefits/Herbicide/AOno2.htm

1190   William Kucewicz, “Bee-Feces Theory Still Has No Sting,” Wall Street Journal,  17 tháng 9, 1987; Al Santoli, “Little Girl in the Yellow Rain,” Readers Digest, tháng 4, 1984; James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất bản Tiếng Mẹ, 1984,  trang 24, 216; 

1191   Nguyễn Công Hoan, “Promises,” trong Santoli, To Bear…,  trang 288.

 1192   Howes, Voices of the Vietnam POWs, trang 94-95.

1193   James W. Clinton phỏng vấn qua điện thoại Harold Supriano, 14 tháng 11, 1990  trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995,  trang 10-11.

1194   James W. Clinton phỏng vấn Michael Myerson,  9 tháng 10, 1990  trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 8-9.

1195   Herschberger, Traveling…, trang 28

1196   W. Hays Parks, “Rolling Thunder and the Law of War,”

1197   Các báo cáo Vietnam War Atrocities , vnafmamn.com/VNWar_atrocities.html

1198   Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”18-20 tháng 4,  1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

1199   George A. Carver, “The Faceless Viet Cong,” Foreign Affairs, XLIV, Số  3 (Tháng 4,  1966),  trang 347-372  được đăng lại trong Vietnam: Anatomy of a Conflict, trang  322-23, cũng như là được viện dẫn trong James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất Bản Tiếng Mẹ  1984, trang 151.

1200   P. J. Honey, “Ho Chi Minh and the Intellectuals,”  được in lại trong Vietnam: Anatomy of a Conflict,  trang 165-6 viện dẫn trong James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất Bản Tiếng Mẹ  1984,  trang 157.

1201   Herschberger trang  30-31; Myerson, Michael. THE UNITED STATES’ WAR IN VIETNAM. SF: W.E.B. DuBois Clubs of America, 1965. Tài liệu 28 trang máy in Stencil chỉ trích cuộc chiến, một sản phẫm dẫn đầu (tháng 2 năm 1965) của phong trào phản chiến   http://lopezbooks.com/catalog/vn1/vn1-09.html

1202   “Chúng tôi đã được gặp các bạn Việt của chúng tôi . . . ở Gia-nã-đại và Pháp.” James W. Clinton phỏng vấn Ethel Taylor, 13 tháng 10, 1990  trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 150.

1203   http://www.swarthmore.edu/library/peace/DG100-150/DG115/seriesa.htm

1204   Bill Ayers, Fugitive Days, Penguin Books, 2001, 2003, trang 74.

1205   Hershberger, trang 31.

1206   CIA, “Reactions to Vietnam Protest Demonstrations in the US,” Intelligence Memorandum, Directorate of Intelligence, Office of Current Intelligence, 26 tháng 10,  1965, Phụ đính A, A-1, bản sao số  096 gởi McGeorge Bundy, Thư Viện LBJ, Hồ sơ # NLJ 92-269, Tài liệu # 134.

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #8”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #8 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: