Roger Canfield’s Americong #19

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

 Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 19

 Harrison Salisbury, Tom Hayden và Wilfred Burchett

 Trong những bài báo đương thời trong tháng chạp năm 1966 và tháng giêng  năm 1966, Harrison Salisbury, một phụ tá quản lý của tờ New York Times đã làm thêm khã tín các cáo buộc Mỹ về việc cố tình dội bom những mục tiêu phi quân sự trong các khu dân cư và việc dội bom trung tâm thành phố Hà Nội mà lại còn gian dối không chịu công nhận các chiến dịch tàn bạo và vô nghĩa đó .

Các phóng sự của Salisbury đã đẻ ra hàng trăm câu chuyện khác khắp Hoa Kỳ và thế giới. Salisbury đã chỉ lặp lại tuyên truyền của Hà Nội về các mục tiêu, về sự tàn phá và về số tử vong như thể y đã chứng kiến tận mắt mình. Theo Tom Hayden và gần như tất cả mọi người mà đã từng đọc các phóng sự của Harrison Salisbury thì báo cáo vào cuối năm 1966 của y đã mô tả “những thương vong dân sự ở miền Bắc Việt Nam [thật là] … cực kỳ to lớn”.  1527

Bị lãng quên trong một đoạn khác của loạt bài đã là,  “một cách ngẫu nhiên … tất cả mọi ước tính về tổn thương và số liệu thống kê đều của các viên chức Bắc Việt.” Chỉ khi xuất bản một cuốn sách trong tháng 4 mà đã dựa trên những tường trình trước đó của mình thì Salisbury mới chêm vào vô số câu mới trong các mẩu chuyện ban đầu của y chẳng hạn như “theo lời các viên chức” hay “họ đã nói.”  1528

Ấy vậy trong cuốn sách tháng 4 của y, Salisbury đã không mô tả là việc tàn phá hay các tổn thương đều “đáng kể”. Điều mà nguyên thủy đã bị mô tả qua là tính cách man rợ và tráo trở của Mỹ thì nay vào tháng 4, dù vẫn trong chiều hướng nghiêng theo lập trường của Bắc Việt, Salisbury đã bày tỏ một sự nghi ngờ, một chút đa nghi về các tuyên bố của cộng sản.

Cung điệu của các phóng sự xưa và của quyển sách đã khác nhau, nhưng thiệt hại thì đã xẩy ra, theo lời Guenter Lewy, người mà đã so sánh từng dòng các tường thuật của Salisbury với tuyên truyền chính thức của Hà Nội và với cuốn sách của y.

Salisbury là ai và tại sao y chấp nhận quan điểm của Hà-nội?

Cả hai Hayden và Salisbury đều đã được cung cấp tài liệu chi tiết từ cùng một nguồn, đó là Uỷ ban Điều tra tội ác chiến tranh của Đế quốc Mỹ tại Việt Nam ở Hà Nội. 1529

Harrison Salisbury, kẻ Đồng Hành

Salisbury từng có thành tích làm phóng sự tại nhiều môi trường cộng sản khác nhau như Liên Xô, Bulgaria, Rumani, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Phần tiểu sử khác của Salisbury mà đã dành độc quyền được cho y đi Hà Nội vào năm 1966 đã là vì vào năm 1948, Liên Xô đã bị trục xuất phóng viên New York Times Drew Middleton. Sau đó, Liên Xô đã yêu cầu đích danh Harrison Salisbury để thay thế cho Middleton. 1530 Salisbury đã rất tự hào về nguồn gốc cộng sản của mình:

Tôi đã từng là phóng viên đầu tiên đến thăm Siberia thời hậu Sì-ta-lin. … Tôi là kẻ đã mở cửa lại  để vô Bulgaria và Rumania sau thời kỳ đóng băng 1950.

Tôi là người Mỹ đầu tiên sau Thế Chiến  thứ II mà đã thâm nhập được Albania

Tôi là một trong số ít những người phương Tây đi tới được Ngoại Mông. Trong nhiều năm, tôi đã tìm cách xin đi Trung cộng. …

Tôi đã bắt đầu chiến dịch ngõ hầu đi Bắc Việt  bằng cách gửi một lá thư cho Phạm Văn Đồng ….1531

Chiến Dịch Xin Cho Được Nhập Cảnh của Salisbury

“Theo đó, chiến dịch của tôi nhằm xin được nhập cảnh … đã cứ tiếp tục, từ tuần này qua tuần khác rồi tháng này sau tháng khác … cứ tiếp tục theo đuổi … với niềm kiên nhẫn trong hy vọng.”  Salisbury cũng đã liên lạc với Staughton Lynd và các nhà báo Liên Xô.  1532  Rồi y đã dành hai tháng rưỡi trời để đến thăm các quốc gia ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam, đã cầu khẩn co được  một bức thư giới thiệu xin phép được đi Hà Nội từ Anne Morrison, góa phụ của Norman Morrison, người đã tự thiêu chết để phản đối chiến tranh Việt Nam và cũng đã gởi nhiều diện tín và thư từ khác nữa . 1533

Các thành tích, các nỗ lực và các bạn bè của Salisbury đã làm được việc. Tom Hayden xưng là chính y đã thu xếp để Hà Nội chịu cho Salisbury đi . “Chúng tôi đã thành công thuyết phục Hà Nội cho phép một phóng viên Mỹ đầu tiên, Harrison Salisbury.”  1534  Theo nhiều tường thuật khác nhau thì Harrison Salisbury đã công nhận việc y được đi Hà Nội là nhờ Anne Morrison và luôn cả “người bạn” của y là một nhà báo Úc, kẻ mà đã sử dụng một sổ thông hành của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,  1535 kẻ mà cũng đã là một điệp viên ăn lương KGB là Wilfred Burchett  và Burchett  1536 thì lại tuyên bố y là một kẻ viết dùm để Salisbury đứng tên.

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Wilfred Burchette đã là một kẻ liên lạc chính yếu cho các nhà báo Mỹ và những người nào khác  mà muốn đến thăm Hà Nội và cho các nhà ngoại giao Mỹ nào mà muốn tìm kiếm trung gian với các chính phủ cộng sản. Với lòng tốt giúp đở của Hayden và Burchette, kiểu phóng sự của Salisbury đã chứng tỏ, ít ra theo  quan điểm của Bắc Việt, là có tính cách gương mẫu.

Sau một năm đầy nổ lực giúp đở của Tom Hayden, của tay nhà báo Úc Wilfred Burchett, và của những người khác,  Salisbury đã được phép đi Hà Nội – nhà báo Mỹ đầu tiên được chấp nhận trong 12 năm năm qua. Salisbury – kẻ duy nhất trong số những người đã đánh điện nạp đơn xin nhập cảnh mà điện tín tích lũy lại đã dày tới sáu “inches”   – đã có những bảo kê của với những tên cộng sản đại diện cho PravdaL’Humanité  đang làm việc tại Hà Nội. Bất kể việc nhiều người Mỹ khác đã tới trước y, Salisbury cũng vẫn tự xem như  là “người Mỹ đầu tiên đích thân đi kiểm tra tại hiện trường  “và có lẽ cũng giúp cho ” một bước tích cực đi tới hòa bình. ”  1537

Tường trình của Salisbury về hai tuần của y tại Hà Nội trong tháng chạp năm 1966 ắt đã không làm Bắc Việt thất vọng.  Salisbury đã không hề phản đối sự kiểm duyệt bộ phim y đã mang theo.  1538

Trước khi đến Hà Nội, Salisbury đã đọc các phóng sự của các phóng viên khác mà đã được Hà Nội chấp nhận như James Cameron và Jacques Decornoy, người mà đã tường trình về sự tàn phá của Phủ Lý với Nam Định và về cộng sản trong một lần dừng chân ở Lào cũng như đã mô tả việc dội bom bừa bãi và việc sử dụng vũ khí chống cá nhân.  1539  Tay Wilfred Burchette do KGB trả lương đã hướng dẫn Harrison Salisbury để sớm ngay sau đó tường thuật một cách chính xác, hay nói đúng hơn là lặp lại các lập luận của Bắc Việt, đúng y từng chữ, từng số.  1540

Tại Hà Nội, Salisbury đã được dành cho một phòng rộng lớn tại khách sạn Metropole và được đãi ăn uống cao lương mỹ vị theo kiểu Pháp.

Phố Nguyễn Thiệp

Ngày 13 và 14 tháng chạp năm 1966, Mỹ đánh bom bên đầu cầu Long Biên bắt qua sông Hồng để vào Hà Nội . Cầu có năm đường sắt chở tiếp liệu từ Trung Quốc ở phía bắc và tiếp liệu Liên Xô xuyên qua cảng Hải Phòng ở phía đông. Các con đường sắt vượt qua sông Hồng suốt hai dặm dài với đê, cầu và cầu cao bắt qua thung lũng để vô Hà Nội.

Kể từ tháng 3 năm 1965 cây cầu đã là một mục tiêu có giá trị cao nhưng bị chính thức cấm dội bom mãi cho tới ngày 11 tháng 8 năm 1967. Nó đã được bảo vệ với 300 dàn cao-xạ chống máy bay, 85 hỏa tiển SAM, và các chiến đấu cơ MIG.  1541

Bom Mỹ đã đánh trật đầu cầu có giá trị cao trong tháng 12 năm 1966 và trúng  Phố Nguyễn Thiệp nằm thẳng góc với đường đầu cầu Long Biên ở xa độ một khuôn viên nhà và đường Phục Tân trên bờ sông Hồng.  1542  Mặc dù “cầu nằm rất gần” cho cả hai con đường,  Harrison Salisbury đã không xác định được là các khu phố này đã bị cố tình dội bom hay chỉ là vì sai lầm. Trần Ngọc Trác đã  hỏi Salisbury mục tiêu quân sự ở đâu và y đã không trả lời (về cây cầu).

Các  tường thuật của y đã cho ấn tượng mạnh mẽ là các thẫm quyền quân sự  Mỹ đã nói dối về việc chọn lựa các mục tiêu ở Hà Nội và về con số thương vong dân sự. 1543  Hơn nữa, các tường thuật này đã xác nhận có nhiều thương vong cao trong một khu phố dân sự tại Hà Nội. Khi viết lại một phiên bản mới, Salisbury đã nói Hà Nội từng tranh luận về việc “máy bay Mỹ đã thâm nhập vào trung tâm Hà Nội và … thả bom trong khu vực đô thị, chủ yếu khác xa với vùng ngoại ô công nghiệp.”  1544  ”  Ấy vậy Salisbury vẫn tường thật là  “Các giới chức Hoa Kỳ đã tranh cải là không hề có cho phép hay thực hiện việc oanh tạc các kho dự trữ hay khu dân cư Hà-nội ” .

Sách của y, không giống như các tường thuật tin tức lúc ban đầu, đã cho thấy là y đã không hề có “ấn tượng” nào về thiệt hại tại đó, về số tử vong và thương tích trên hai đường phố đó.  1545

Tuy vậy, sau đó thì mãi mãi Phố Nguyễn Thiệp cũng đã trở thành một điểm dừng chân thường lệ trong các chuyến đi “tham quan”  việc dội bom và đã thường được mô tả một cách giả dối như là “ngay  trung tâm thành phố,” việc mà bất kỳ bản đồ nào của Hà Nội cũng có thể chứng minh được là sai trái.

Các viên  chức  Mỹ đã không hề nói dối về việc đã không cố ý dội bom thường dân tại Hà Nội. 1546  Các con đường sắt chạy trên bờ đê cầu Long Biên đã là những mục tiêu hợp pháp, nhưng hoặc là người Mỹ đã không bao giờ nói như vậy hay là các phương tiện truyền thông đã không bao giờ tường thuật về việc tha bỏ này.

Tại phường Phúc Xá 24,  Việt cộng đã cho biết nhà cữa bị phá hủy khi Mỹ cố dội bom một cái đê, nhưng Salisbury cũng không chắc được như vậy vì cũng có những sà lan vận chuyển và cao xạ phòng không gần đó.  1547 Trường Hữu nghị Ba Lan đã bị đánh trúng gần bải đậu xe cam-nhông  Văn Điển , một mục tiêu mà Salisbury  đã nghĩ là quá nhỏ . 1548  Ấy vậy, khi đi về phía nam và phía đông của Hà Nội, Salisbury dã nhận xét là không lực Mỹ đã không hiệu quả trong việc chặn dòng tiếp tế liên tục vật liệu chiến tranh dọc theo các đường giao thông, cầu và đường sắt Bắc Việt .  1549

Salisbury đã rất bị ảnh hưởng bởi các trò thu xếp ăn mừng theo truyền thống  Công giáo La Mã để kỷ niệm Giáng sinh với những đường đi có dây ngăn giữ trật tự cùng công an vũ trang xử dụng loa phát âm, với các lần đi thăm những thôn làng của những Kitô hữu sùng đạo cùng những cam kết  bảo đảm quyền tự do tôn giáo. Sau khi nghe lời những lãnh đạo tôn giáo do Hà Nội điều khiển là Linh mục Hồ Thành Biên và Thích Trí Độ là bom Mỹ đã phá hủy hàng trăm ngôi nhà thờ và ngôi chùa, Salisbury đã có có thể nhận chân ra được là bằng cách nào “đối diện với việc bị tấn công, những người con của Thiên Chúa và những người đàn ông của Marx” đã đoàn kết lại với nhau.”  1550 Salisbury đã tường thuật lại mà không chỉ trích hay bình luận gì về tuyên bố của Hà Nội là các trường học, các cơ sở y tế, các viện điều trị bệnh cùi  và các con trẻ đã liên tục bị dội bom.  1551

Tay lãnh đạo quân giải phóng Nguyễn Văn Tiến đã nói láo với Harrison Salisbury là  “cuộc đấu tranh đã được chỉ đạo bởi phía Nam, chứ không phải từ phía Bắc.” Bắc Việt không hề gửi thiết bị quân sự cho miền Nam. Salisbury đã viết xuống và thành công xuất bản những gian dối của Hà Nội .  1552  Việc Salisbury mô tả cái “trung tâm dệt may” tại Nam Định bị phá hủy thì thật sự chỉ là một trung tâm phân phối tiếp liệu chiến tranh được bảo vệ bởi một hệ thống phòng không rộng lớn và lại thêm chỉ là tin ăn cắp lại từ một cuốn sách nhỏ tại Bắc Việt với tựa đề  “Báo cáo về các tội phạm chiến tranh Hoa Kỳ ở thành phố Nam-Định , năm 1966, tái bản mà không ghi xuất xứ.  1553

Nam-Định

Giống  như những kẻ đã đến trước y là Michael Myerson, Dave Dellinger và nhiều tên khác, Salisbury cũng đi thăm Nam Định và dù có thấy một bãi đậu xe cam-nhông, sáu bến tàu để bốc hàng và một đường sắt chạy xuống phía nam, và dù đã được các viên chức Mỹ cho biết với về số các đường sắt, về kho dự  trữ, về các bồn xăng dầu, về nhà máy điện, về pháo binh và các dàn hỏa tiển, cũng đã tự mình không tìm ra một lý do chính đáng nào để phải đánh bom nơi này. 1554  Như những tên khác, việc đêm đêm từng đoàn xe lữa chạy rầm rầm xuôi Nam cũng không hề có một nghĩa lý gì với y. Dĩ nhiên, Nam Định đã thường xuyên bị dội bom. Nhưng không ai cũng đã có thể giải thích vì sao! Chắc chắn không phải là Salisbury. Y đã không hề thấy cơ sở phòng không mà!

Salisbury đã viết: “ Điều gần gủi nhất với một cơ sổ quân sự mà có thể thấy được vào hôm đó đã là  … một nữ dân quân khá đẹp … cô ta có mang một khẩu súng lục bên hông ” . Y  không  hề thấy có mục tiêu quân sự nào.  1555 Salisbury tường thuật là Hà Nội công bố các đê điều dọc sông Đào gần Nam Định đã bị đánh bom liên tiếp. 1556

Salisbury đã dựa theo một bài gốc từ Hà-nội tên là Report on U.S. War Crimes in Nam-Dinh . Các số liệu thống kê về vũ khí, máy bay, thương vong và mực độ tàn phá trong bản tin của Salisbury vào ngày 27 tháng chạp năm 1966 giống y hệt bản  báo cáo của Hà Nội. 1557  Tại Phủ Lý, Salisbury đã thấy đường xe lữa chạy song song với đường bộ cùng cầu cống và số lượng di chuyển khổng lồ về người, vật liệu,  thực phẩm  và đạn dược”, đúng thật với một “mục tiêu lý tưởng.”  Ấy vậy, việc không tạc đã không hiệu quả. 1558

Đối với những báo cáo về thường dân thiệt mạng, ngày 28 tháng chạp, vị cựu Tư lệnh quân đồng minh thời Thế chiến II ở châu Âu và cựu Tổng Thống Dwight David Eisenhower đã minh định lại vấn đề bằng câu : “Có bất kỳ nơi nào trên thế giới mà không có  thường dân?”  1559  Bất kể những cố gắng của Mỹ hầu tránh  việc này thì cũng phải đành chấp nhận  thương vong dân sự là một trong những nỗi kinh hoàng không tránh được của chiến tranh. Salisbury đã không hề tường thuật  là Bắc Việt và Việt Cộng đã sử dụng con người ta làm bia đở đạn, đã cố tình thiết lập các mục tiêu quân sự ngay trong khu dân cư và đã khai thác việc thường dân thiệt mạng trong công tác tuyên truyền của chúng. Salisbury đã tường trình từ Bảo tàng Cách Mạng của Hà Nội về các hành vi tàn bạo, về những vụ chặt đầu, mổ lấy ruột, tàn phá mặt mày và tra tấn bằng cách nhểu nước lên mặt mà các kẻ thù trước đây của họ đã gây ra cho những người cộng sản Việt Nam .  1560

Nguyễn Văn Tiến, tùy viên báo chí của phái bộ Mặt trận Giải phóng Quốc gia tại Hà Nội đã thuyết phục Salisbury là hai nền văn hóa Bắc và Nam khác nhau (đúng), là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia đã được thành lập ở miền Nam, là Mặt Trận độc lập, chỉ nói lên tiếng nói của mình, tự điều khiển cuộc chiến riêng của mình, chủ trương độc lập quốc gia, dân chủ, tự do, hòa bình, trung lập và thống nhất đất nước. Thống Nhất đã sẽ phải là “chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và dân chủ ở miền Nam.  1561

Trong Dinh Chủ Tịch rất sang trọng, Salisbury đã phài bỏ ra 4 giờ rưởi chủ yếu chỉ để lắng nghe Phạm Văn Đồng, Ông ta là “một người đàn ông với một trí thông minh rực rỡ và cao độ,” kẻ mà đã nói với Salisbury là Hà Nội chủ trương cuộc chiến như có tính cách thiêng liêng và chờ đoán ​​chiến thắng trong một  cuộc chiến tranh nhân dân lâu dài, là Hoa Kỳ đã là kẻ xâm lược. Mỹ không sao thắng được, Mặt trận Giải phóng Quốc gia độc lập với Hà Nội, việc thống nhất giữa Bắc và Nam sẽ phải được thu xếp một cách yên bình “giữa anh em ruột thịt với nhau.”

“Chính trị là điều chính … Bạn … phải đóng góp một phần nào đó.” Về phần mình thì Salisbury đã bị thuyết phục để tin nơi tinh thần của nhân dân Việt Nam, tin rằng cuộc chiến tranh bất công và đê hèn, và Phạm Văn Đồng đã chờ mong  quá nhiều ở dư luận thế giới. Viên Ngoại Trưởng của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia đã nói với Salisbury là Hà Nội không hề có chút ảo tưởng nào về ảnh hưởng của phong trào phản chiến.  1562

Bị Từ Chối Giải Pulitzer

Với tư cách một thành viên ưu tú trong xã hội mà lại xa biệt với nổ lực chiến tranh quốc nội, Salisbury đã được đề cử cho giải thưởng Pulitzer về báo chí.

Nhưng than ôi, sự việc đã không xẩy ra như vậy. Có vẻ như là Salisbury đã “không cho ai biết rằng thông tin của y là từ nguồn gốc cộng sản” và các phóng sự “tin tức” của y đã là “y hệt một cuốn sách nhỏ tuyên truyền cộng sản”  và cũng vì, chúng ta cần nói thêm,  giống y hệt từng chữ trong các bài viết của tên nhà báo tuyên truyền Úc  từng lãnh lương KGB là Wilfred Burchett.  1563

Nhà báo và sử gia về chiến tranh Việt Nam Stanley Karnow đã nói là các tường thuật của Salisbury  “loan truyền một ấn tượng sai lầm là Hoa Kỳ đã  bừa bãi cố gắng tiêu diệt Bắc Việt.”  1564  Việc phổ biến các lời nói dối của Bắc Việt đã hơn nhiều việc  chỉ là loan truyền “một ấn tượng sai lầm.”

Việc Wilfred Burchette đã viết cho con trai của y là điều  các tường thuật của Salusbury đã không kể xuất xứ từ ngay chính y là không quan trọng . Điều quan trọng đã là bản tin đánh đi của Burchett-Salisbury đã  “được đăng trên tờ New York Times.” 1565  Ăn cắp một dòng bên lề đã không thành vấn đề đối với giá trị thực sự của mọi việc .

Ngoài niềm vui có được công lý cách mạng thì cũng có nhiều mục lợi ích khác – KGB đã trả lương cho cả Burchette và vợ của y và Hồ Chí Minh cho Burchett được sử dụng của một biệt thự rất sang trọng. Salisbury đã không dành được giải thưởng Pulitzer nhưng lại thành công được hân hạnh viết phần nhập đề giới thiệu quyển The Prison Diary of Ho Chi Minh (Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh)  trong năm 1971 1566  và đã ca ngợi Burchette như là một “nhà nhân văn” khi giới thiệu các hồi ký của Burchett. Burchett đã từng mặc đồng phục sĩ quan quân đội Trung cộng để thẩm vấn các tù binh đồng minh trong Chiến tranh Triều Tiên.  1567

Harrison Salisbury đã kiện National Security Agency NSA về việc kiểm soát các liên lạc thông tin ra ngoại quốc với Hà-nội nhưng đã thất kiện.  1568

Mặt Trận Sì-ta-li-nít Đoàn Kết của Bọn Cộng Tác Chủ Hòa và Tôn Giáo – Muste, Hayden, Bevel

Đó đã là một sự chấp nhận rất phổ biến trong phong trào phản chiến và bọn hướng dẫn  như Burchett là khi cứu cánh đúng thì mọi lừa dối đều được xem như là đúng đắn. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên là vào giữa tháng chạp năm 1966, A. J. Muste, Chủ tịch  của Mùa Xuân MOBE, kẻ từng đi chung  1569  mà thỉnh thoảng cũng có chỉ trích bọn Cộng sản, đã giải thích sự cần thiết của cả việc không loại trừ (để ý, tức là bao gồm) các người Cộng sản trong phong trào phản chiến và luôn cả trong mặt trận thống nhất về chiến lược vào mùa xuân sắp tới của năm 1967:

Điểm sơ qua thì người dân Mỹ … sẽ ấn tượng mạnh  về số tên tuổi của … “các nhà  bảo trợ” hoạt động của chúng ta. … Họ thường khuynh hướng sợ hãi và né xa nhiều hơn [bọn tham gia]Cộng sản”  … Vì vậy, chúng ta đã phải pha loãng, bao che, … chính sách “không loại trừ” của chúng ta để đạt được hỗ trợ của quần chúngVề thực tế, một liên minh không cộng sản sẽ có nguy cơ trở thành chống cộng … [Nếu]  chúng ta … từ bỏ … không loại trừ … chúng ta sẽ nhanh chóng bị tan rã.  1570

Là một kẻ từng kêu gọi trong một thời gian dài phải có một sự thay đổi triệt để về  một mặt trận thống nhất , Tom Hayden cùng với 192 tên khác đã bảo trợ một hội nghị về kế hoạch hóa  tên gọi là National Student Strike for Peace (Sinh viên Toàn Quốc Đình Cộng  vì Hòa bình)  tại Đại học Chicago vào ngày 28 tới 30 tháng chạp năm 1966 mà đã thành hình được Student Mobilization (Động viên Sinh viên).

Những cái tên đáng được lưu ý trong câu chuyện của chúng ta  là tên bọn từng đi Hà Nội và các thủ đô cộng sản khác như là: Herbert Aptheker, Staughton Lynd, Raymond Mungo, Michael Myerson, Howard Zinn, Jackie Goldberg, Lens Sidney, và William Appleman Williams. Carol Lipman (SWP) và Don Gurewitz (SWP), tên con trai của các đảng viên đảng Cộng sản Mỹ CPUSA từng được xác định và cũng là nhân viên của Abe Bloom (CPUSA) thì phụ trách về tài chính. 1571  Casey và Helen Gurewitz thì đã ký xuất các chi phiếu  cho Student Mobilization, SMC. 1572  Carol Lipman (SWP) và Don Gurewitz cũng đã rất tích cực trong tổ chức National/New Mobe and Washington Mobe . Paul Booth, SDS, đã chủ trì phiên họp bế mạc vào ngày 30 tháng chạp. 1573  James Bevel cũng đã phát biểu tại hội nghị nhằm để tổ chức các cuộc biểu tình phản chiến “Tuần Việt Nam”  dự trù vào ngày 8 tới 15 tháng 4 năm 1967.

Theo Progressive Labour Party (Đảng Lao Động Cấp Tiến) có khuynh hướng  Mao-ít thì hội nghị về kế hoạch hóa tại Chicago nhằm tổ chức cho Sinh viên Đình công cho  Hòa bình và Tuần Việt Nam:

Bị thống trị bởi Đảng Cộng sản Hoa Kỳ (CPUSA), bởi các Câu lạc bộ DuBois và bởi Liên Hiệp [Tờ-rốt-kít] Tuổi trẻXã hội (Young Socialist Alliance  – YSA). Họ  đã không chịu để ý tới yếu tố chính trị để thúc đẩy phong trào” mà đã được đề xuất bởiStudents for a Democratic Society (SDS)  [mà lúc đó  đang bị  PLP điều khiển] và bởi  Đảng Lao độngCấp Tiến – PLP).  1574

Việc che dấu vai trò lãnh đạo của Bettina Aptheker trong biến chuyển Spring Mobilization  đã rất tích cực. Có tới 193 nhà bảo trợ cá nhân và địa chỉ liên lạc chính thức cho việc biểu tình của sinh viên; và địa chỉ chính thức của  Spring Mobe được thay đổi từ địa chỉ nhà riêng của Bettina Aptheker ở Berkeley để thành địa chỉ được chia sẻ chung của Chicago Peace Council và Fellowship for Reconciliation. 1575

Các Giới Chức Harvard

Ngày 8 tháng 11 năm 1966, lãnh đạo của SDS tại Harvard và sau đó cũng là    biên tập viên của tờ Ramparts là Michael Ansara đã dẫn đầu một nhóm SDS để bắt giữ Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đang đi trong xe hơi, rồi buộc phải ra khỏi xe để cầm một cái loa trả lời các câu hỏi của những người tham dự. Một toán cảnh sát đã giải cứu được McNamara và hộ tống ông ra khỏi nanh vuốt của bọn tiên phong. 1576  Một nhà sử học đã gọi vụ này là một “cuộc biểu tình [mà] sẽ làm đảo lộn vấn đề chủ quyền.”

Sau đó, một bộ phim tài liệu PBS về vụ Harvard đã cho chiếu những đoạn phim  không phải về vụ bắt cóc McNamara mà là về những người biểu tình đang la hét, GOD BLESS AMERICA và PEACE NOW. McNamara, kẻ từng thoát khỏi vụ mưu sát do Nguyễn Văn Trỗi ở Nam Việt bây giờ thì đã sống sót được qua cả  cung cách hành xử văn minh của Harvard và màn cò mồi của PBS.

Bọn Mỹ cộng đã khá thành công tại Mặt Trận Thứ Hai ở Harvard và Nhà Trắng, nhưng lại không thành công trong cuộc chiến tranh trong bóng tối tại các thôn làng của miền Nam Việt Nam.

Phong Trào Hòa Bình Lợi Dụng Johnson: Sài-gòn Phá vở Chương Trình Việt-cộng Tuyển Quân

Phong trào phản chiến đã làm Tổng Thống Hoa Kỳ kinh hải.

Tại sao sự việc không được rõ ràng như vậy, nhưng quả thật, nó đã là như vậy. Chẳng hạn, vào cuối năm 1966, LBJ đã đình lại các kế hoạch dội bom Hà Nội và Hải Phòng bằng một câu hỏi rất là hùng biện với ban Tham Mưu Tòa Bạch Ốc của mình: “Phải cần bao lâu  … để  [nó] sẽ  … leo qua tường Tòa Bạch Ốc  … và xử giảo … [vị] Tổng thống … nếu ông ta dội bom Hà Nội và Hải Phòng? ”  1577 Có lẽ cuộc tấn công của đám đông Harvard vào xe Robert McNamara vào đầu tháng 10 đã ám ảnh LBJ. Chiến tranh càng tiếp diễn thì việc điều động về chiến lược đã bị thi hành trong tư thế phòng thủ và luôn luôn chờ đợi các bọn chống chiến tranh Việt Nam sẽ phản ứng như thế nào.

Bush và Obama cũng đã phải đối đầu với một Quốc hội kình chống và đường phố thì như đang trong một cuộc chiến tranh với Hồi giáo Jihad.

Sài-gòn Thành Công Dành Đưọc Lòng Thương Yêu

Trong khi đó, tại Việt Nam, chiến tranh đã bắt đầu thấy được một số dấu hiệu của thành công bởi vì từ năm 1965, chính phủ Nam Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiện một chương trình bình định để giành lại các thôn làng từ tay Việt Cộng. 1578  Trong cuối năm 1966 và đầu 1967, một cuộc thăm dò của CBS News về miền Nam Việt Nam đã cho thấy là 90% người dân cảm thấy họ sẽ được tốt hơn dưới quyền chính phủ so với Việt Cộng và 73% chống lại việc Mặt Trận Giải phóng Quốc gia tham gia trong một chính phủ liên minh. Người tị nạn đã bỏ phiếu bằng đôi chân khi rời khỏi khu vực kiểm soát của Việt Cộng. 1579  Việt Cộng đã tuyển dụng 7.000 dân làng mổi tháng vào năm 1966 nhưng việc này sẽ đã giảm xuống chỉ còn 3.000 tới 5.000 mỗi tháng vào năm 1967.  1580

Dù vậy, trong khi số lượng tuyển mộ tại Việt Nam của Việt Cộng đang trên đà giảm sút thì tại Mặt trận thứ hai ở Mỹ lại vẫn tiếp tục gia tăng. Trận chiến trên đường phố của Mỹ đã đe dọa sẽ hủy bỏ đi mọi chiến thắng đang thực hiện được  trong các làng xã Nam Việt.

Hồ Chí Minh đã gửi lời chúc mừng năm mới đến các người Mỹ của Mặt trận thứ Hai của y ở Mỹ:

Tôi muốn gởi các lời chúc thân ái cho hòa bìnhNgười Mỹ đang dũng cảm đứng lên trong một cuộc đấu tranh mạnh mẽđể đòi hỏi chính phủ Mỹ … phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược … và rút về nhà tất cả các binh sĩ Hoa Kỳ. Tôi nồng nhiệt chào đón cuộc đấu tranhchính đáng của các bạn và cảm ơn sự ủng hộ của quý bạn cho cuộc chiến ái quốc của nhân dân Việt Nam … “   1581

*****

1527   Reunion, trang 194.

1528   Guenter Lewy, America in Vietnam, New York: Oxford University Press, 1978, trang 400-401.

1529   Hayden, Love of Possession…, 1971, trang 130-1.

1530

1531   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 2-3

1532   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 6.

1533   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 6-9.

1534   Reunion, trang 193.

1535   George Burchett, “The Oz Loves a Red herring,” newmatilda.com, March 27, 2008. 

1536  Cadre, trang 115 ghi chú 69; trang 406 tường trình về Thượng viện, S.S.I.S.  Phúc trình 18 tháng 11 năm 1975; S.S.I.S.  Phúc trình 3 tới 6 tháng 11 năm 1969; U.S. News,  27 tháng 2 năm 1967; Salisbury’s Behind Enemy Lines; phần Salisbury giới thiệu ‘nhập đề’  sách của Burchett At the Barricades, N.Y: Times Books, 1981. Burchett đã là một điệp viên trong vòng 30 năm của KGB, và là một người bạn của Tom Hayden. Với sự giúp đở của Burchett, Salisbury cũng được mời đi Trung cộng của Mao và cũng đã là một trong vài phóng viên Mỹ được Bắc Hàn cho nhập cảnh.

1537   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 10, 31.

1538   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 40-41.

1539   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967,  trang 5, 29, 35-36, 43-44.

1540   James H. Hansen, Radical Road Maps: Uncovering the Web of Connections Among Far-Left Groups in America, Nashville: WND Books, Cumberland House Publishing, 2006, trang 48

1541   Death by Moderation, Cambridge University Press, at Cambridge.org/catalogue.

1542   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 42, 62, 64; các nhận xét của tác giả tháng 3 năm 2008; bản dồ Hà-nội, 2008.

1543   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 63.

1544   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 9

1545   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 61, 64.

1546   John R. MacArthur, nhà xuất bản của Harper’s Magazine đã nhấn mạnh là vụ này đã xác nhận một khuôn mẫu về việc chính phủ đã gian dối suốt trong cuộc chiến vùng Vịnh trong sách “Witness in Hanoi,” Columbia Journalism Review, tháng 2 và 3 năm 1997.

1547   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 66-7.

1548   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 68.

1549   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 93.

1550   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 73-4, 77, 281.

1551   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 122-4, 132-4.

1552   James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang 103.

1553   Guenter Lewy, America in Vietnam, New York: Oxford University Press, 1978.

1554   Guenter Lewy, America in Vietnam, New York: Oxford University Press, 1978, trang 403-4.

1555   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967,  trang 99  và 103.

1556   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 101.

1557   Guenter Lewy, America in Vietnam, New York: Oxford University Press, 1978, trang 402-3.

1558   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 85-7.

1559   NY Times nêu trong Hershberger, trang 80.

1560   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 50, 146.

1561   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 159-170.

1562   Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, trang 136-7, 155, 171, 192, 194-7, 201-2, 204. 

1563   Robert Manne, Agent of Influence: The Life and Times of Wilfred Burchett, Toronto: MacKensie Institute, 1989.  Manne nêu ra cả hai lần trước đó các bài viết của Burchette đã giống các bản tin đánh đi từ Hà-nội của Salisbury và cũng như là các thư Burchette gởi cho chính con của y .  Xem thêm : Peter Samuels, “Journalist Betrays Hungarian Freedom Fighters to Gain KGB Support, New Charge,” một bài viết độc lập gởi cho Joseph Farah, chủ bút tờ Sacramento Union, 25 tháng 10 năm 1990.  

1564  Karnow, trang 490.  Xem thêm:  Lewy, trang 49; Collier và Horowitz, Second Thoughts, trang 247 ghi chú 50. Sau đó vào năm 1972, Tom Hayden cũng đã sẽ cung cấp những dữ liệu rất chính xác, nếu không nói là có tính cách để kích thích mà y đã có được từ một nguồn gốc mà nay đã rất phổ biến – the Commission for the Investigation of the U.S. Imperialist War Crimes in Vietnam, Hanoi, 1971. Xem: Tom Hayden, Love of Possession, trang 130-131. Sau đó, Salisbury cũng đã sẽ tường thuật và lộ cho thấy đã  rất thân cận và biết rỏ về các hành vi của Daniel Ellsberg, của I.P.S.  và của New York Times trong việc ăn cắp rồi cất giữ và đình trệ việc xuất bản tài liệu Pentagon Papers.  [Cadre, trang 48-49, nêu ra trong sách của Salisbury, Without Fear or Favor].

1565   Samuels nêu ra các trích dẫn của Manne trong thơ Burchett gởi cho con trai.

1566   Bản dịch Aileen Palmet, Bantam books.

1567   Stephen J. Morris, Readers Letters, Commentary, tháng 2 năm 1982.

1568   Harrison E. Salisbury, nguyên đơn, chống U.S. of A, và đồng bọn tạialtlaw.org/v1/cases/417707.

1569  Harvey Klehr, The Heyday of Communism, trong nhiều tài liệu.

1570   Phần nhấn mạnh được thêm (Mùa Xuân) Mobilizer, Bộ  I, Số 1, 19 tháng chạp năm 1966.

1571   Max Friedman nói với tác giả ngày 25 tháng 2 năm  2008.

1572  http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry

1573  Xem: Tang chứng #3, H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week (8-15 tháng 4 năm 1967), 31 tháng 3 năm 1967.

1574  Challenge (official P.L.P.), tháng 2 năm 1967.

1575   H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week, l8 tới 15 tháng 4 năm 1967, và 31 tháng 3 năm 1967, trang 15.

 1576 “McNamara Mobbed, Jeered by 800; Monro and Watson Are Appalled,” Harvard Crimson,  8 tháng 11 năm 1966; Zaroulis,  trang 95.

1577   David Halberstam, The Best and Brightest (New York:  Random House), trang 641.

1578   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 6-7.

1579   Vietnam: Questions and Answers, Washington D.C., 1970, trang  5.

1580  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 15 ghi chú 3 nêu về  CIA, “Capabilities of Vietnam communists to fight in south Vietnam,” 13 tháng 11 năm  1967.

1581  “Message to the American People,” Writings of Ho Chi Minh on the U.S., 23 tháng chạp năm 1966, trang 137-138 nêu ra trong Rothrock, 129N2. Lưu trử của TTU.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #19”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #19 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: