Roger Canfield’s Americong #22

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 22

 Các Tiếng Nói từ Phía Việt Nam

 Đại Sứ Nam Việt Cảnh Cáo là Phong Trào Phản Chiến Có Thể Làm Thất Trận

Chỉ trong vòng vài tuần sau khi trở thành Đại sứ  Nam Việt  tại Hoa Kỳ vào tháng Ba năm 1967, Bùi Diệm đã cảnh cáo Thủ tướng Nam Việt là Nguyễn Cao Kỳ về ảnh hưởng của “phong trào hòa bình”. Ông ta phúc trình với Kỳ là nếu Johnson  “không thể chống lại các hoạt động đòi hòa bình”, thì có thể Tổng thống Johson sẽ rút quân và chấp nhận cộng sản trong một chính phủ liên minh với miền Nam Việt Nam. 1685

Tại sao Tổng thống sẽ không thể chống lại các hoạt động hòa bình trong nước? Chúng ta biết là ông ta lo sợ sẽ có một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn với Trung cộng hay Liên Xô, ông ta là kẻ kế thừa bất đắc dĩ của một nhân vật Kennedy thần thánh và ông ta là một sản phẫm của chính trị nôi bộ nước Mỹ mà đã đánh giá quá cao ảnh hưởng chính trị của bọn hoạt động cho hòa bình. Dù sao thì chỉ trong vòng hai tuần, một người khách là ông Bùi Diễm đã nhanh chóng hiểu là Mỹ rất dể bị bọn hoạt động chống chiến tranh làm tổn thương .

Kỳ Đáp Ứng lại với Giới Bất Đồng Chính Kiến Nam Việt: Trật Tự và Bầu Cử

Khác với Johnson, một người dường như bị phe đối lập trong nước làm tê liệt , Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ rất kiên quyết và tự tin để cương quyết hành động hầu giải quyết vấn đề riêng của chính mình về nhóm bất đồng chính kiến ​​trong nước trong lúc chiến tranh vẫn đang diễn ra. Kỳ tái lập lại trật tự ở Đà Nẵng, một nơi đã do Phật giáo làm náo loạn, đã chỉ định tay khuấy động Phật giáo Trí  Quang theo quy chế được “chăm sóc” trong một bệnh viện, đã ban hành  một hiến pháp cộng hòa mới và tiến hành các cuộc bầu cử trong 4.612 thôn ấp ngay trong mùa xuân đó.  1686

Tù Chính Trị: Bao Nhiêu Người?

Trí Quang có thể được xem như  là một tù nhân chính trị, nhưng cố gắng lật đổ chính quyền thì quả thật không phải là một hoạt động chính trị mà bất kỳ chính phủ nào cũng chấp nhận đưọc.

Để trả lời các khiếu nại về việc một miền Nam Việt Nam đàn áp giới bất đồng chính kiến​​, Don Bordenkircher, một người cố vấn trực tiếp cho các nhà tù Việt Nam đã nói là con số “tù nhân chính trị” thật sự dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu chỉ độ chừng 3 tới 5 người vào một lúc nào đó, và đó là kể luôn các kẻ chống đối cấp cao và nhiệt thành nhất  thuộc Cao Đài, Hòa Hảo hay Mafia Việt Nam như là Bình Xuyên. 1687

Trương Đình Dzu: Tù Chính Trị hay Hình Phạm?

Sau cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 9 năm 1967, mà theo đó một luật sư khá “mờ ám” là Trương Đình Dzu đã dành được 17% số phiếu bầu với biểu tượng chim bồ câu cùng kêu gọi phải đàm phán với Việt Cộng nhằm hình thành một liên minh mà không cần bầu cử – Dzu đã bị bắt và bị kết án. Y chắc chắn trông giống như một tù nhân chính trị, nhưng dù sao thì y cũng đã cung cấp viện trợ và ủng hộ kẻ thù trong thời chiến tranh, và do đó đã vi phạm Điều 4 của Hiến pháp.  1688

Một cách ngẫu nhiên, lúc ban đầu y chỉ bị kết án vì các tội từng bị truy tố trước cà cuộc bầu cử là đã ký một chi phiếu $ 8.300 không tiền bảo chứng  cùng chuyển $ 11.500 cho một ngân hàng ở San Francisco mà không có giấy phép,  1689 nhưng đã chỉ ngồi tù vài tháng mà thôi. Trong khi tranh cử, Dzu đã chi tiêu tới  $350.000 trên số $ 46.000 mà y đã nhận được từ chính phủ Việt Nam để dùng cho việc tranh cử của mình. Vào ngày 26 tháng 7 năm 1968, Dzu bị kết án một lần nữa một bản án năm năm tù giam vì là đã một người “cản trở cố gắng chống cộng của chính phủ.”  1690 Dzu đã ở tù một thời gian trên đảo Côn Sơn,  nơi mà sau này Don Luce và Tom Harkin đã tuyên bố là các tù nhân chính trị đã bị nhốt trong những “chuồng cọp” vô nhân đạo. Luce thì đã có mô tả tình trạng quá sức chật hẹp trong các nhà tù nhưng không hề đề cập đến các “chuồng cọp” trong bài viết tháng giêng năm 1969 đăng trên National Catholic Reporter.Trong khi đó thì không như sau này đã bị cáo buộc, các nhà lập pháp Nam Việt đã công khai nói lên các tình trạng xấu xa trong nhà tù. 1691

Monique Miller, con gái của Dzu và là một giáo sư dạy tiếng Pháp tại Đại học California State ở Fullerton, California đã là một người hoạt động phản chiến từng tuyên bố là Thiệu đã loại bỏ quyền tự do báo chí và đã có 100.000 tù nhân chính trị. Con gái của Dzu đã cho biết, “cha tôi đã không bị đối xử xấu như các tù nhân chiến tranh của Mỹ.”  1692

Con trai của Dzu là David Trương, một tên hoạt động chủ hòa, cùng với Ronald Humphrey đã sẽ bị kết tội làm gián điệp ở Mỹ trong năm 1978 vì đã chuyển các tài liệu mật  của Bộ Ngoại giao cho Hà Nội.  1693

Năm 1975, bọn cộng sản thì lại đã tống cổ người cha Trương Đình Dzu vô một  trại cải tạo. 1694

Cử Tri Đi Bầu tại Nam Việt Nhiều Hơn là tại Hoa Kỳ

Cho dù Dzu đã bị ngược đãi ra sao trong cuộc bầu cử Tổng thống  thì nói chung, 78% cử tri đã đi bầu tại các địa phương vào mùa xuân, 80% đã đi bầu Quốc hội lập hiến và 83% thì đi bầu Tổng thống – bất chấp một chiến dịch khủng bố của Việt Cộng nhằm không cho dân miền Nam đi bầu. Ở Mỹ vào năm 1964, số cử tri đi bầu cho Johnson-Goldwater đã là 62%  1695 và vào năm 1968, đã sẽ là 61%.

Trong khi đó, vào cuối năm 1967, viên cố vấn nhà tù Bordenkircher đã đi từng trại giam ở miền Nam Việt Nam và tìm đếm từng tù nhân để kết cục có được con số 22.400 tội phạm cộng sản, nói chung là các thành viên của hạ tầng cơ sở VC mà đã từng phạm tội nổi loạn, gián điệp và phản quốc. Đã không bao giờ có  hơn là 3 tới 5 cá nhân mà đã thực sự lên tiếng chống lại chính phủ. 1696

Ấp Chiến Lưôc: Mất Lòng Dân Nhưng Có Hiệu Quả

Cùng thời gian đó, công việc củng cố các ấp và tái định cư những thôn làng xa xôi hẻo lánh đã cải thiện an ninh cho các cuộc bầu cử.  1697 Việc cưởng bách dân về các ấp chiến lược để tránh xa các vùng do VC kiểm soát đã quả là không đắc nhân tâm, có lẽ phần nào do tên gián điệp cộng sản Phạm Ngọc Thảo đã cố ý kéo dài mở rộng chương trình này, 1698 do quản lý yếu kém và do phá hoại của gián điệp cộng sản , 1699  nhưng dù sao “việc loại bỏ một số các ấp đã cản trở [việc chiêu dụ của VC]… khiến các dân làng đưọc  cách xa để bớt cộng tác” với VC. Một cựu viên chức làng đã cho biết,

ng đông dân di cư về đến các khu vực thuộc Chính phủ thì Mặt trậnlại càng có ít công nhân sản xuất, ít lao ng và ít tình báo viên hơn.

Mặt trận sẽ không còn có người ủng hộ và cũng ít người hơn để chúng trà trộn núp bóng.

Nhiều thanh niên trong làng đãđến các khu vực quốc gia, gia nhập vào quân đội Quốc Gia trở về lại làng để chiến đấu chống  Mặt trận.

Sự kiện này làm mất tinh thần vàgây bối rối cho các cán bộ Mặt trận nhiều nhất.  1700

Kỳ đã chứng minh là mình biết cách và có thể đối phó với bọn Việt Cộng. Trong khi đó thì Tổng thống Johnson đã cho thấy là mình không biết gì hết  và thậm chí lại càng không biết phải phản ứng ra sao với bọn “Mỷ-cộng ~ AmeriCong.”

Đếm xác Cộng – Toán Calculus về Chiến Tranh

Một phần của vấn đề là các phân tích gia dân sự chuyên mang kiếng mát màu xanh lá cây ở tổng hành dinh CIA mà đang làm việc phần lớn là hoàn toàn độc lập với Cơ quan Tình báo Quốc phòng DIA hay Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân sự tại Việt-nam (Military Assistance Command, MAC Việt Nam), đã đang thi hành một “cuộc chiến kế toán” chống lại Ngũ Giác Đài. 1701  Chẳng hạn, họ đã tuyên bố là Ngũ Giác Đài đã ước lượng quá thấp lực lượng  của kẻ thù Cộng Sản.

Một phân tích CIA “xuất chúng” là Sam Adams và những tên ủng hộ như George Allen đã khẳng định là lực lượng cộng sản, tính luôn bọn du kích Việt Cộng không chính quy , đã là khoảng 300.000. Về phương diện quân sự, vấn đề thực sự không phải là bọn du kích và cán bộ chính trị Việt Cộng có tồn tại, có lớn bao nhiêu hay là đã dành được một ảnh hưởng quan trọng tới mức nào: vấn đề là có thể tạm xem chúng có tiềm năng tương đương với lực lượng vũ trang được đào tạo và trang bị đầy đủ là quân chính quy Bắc Việt hay không.

Phó Tổng cục Tình báo (Deputy Directorate of Intelligence ~  DDI) là giám đốc Jack Smith sau đó đã buồn bả nói , “Chưa bao giờ đã có một tổ chức tình báo dân sự dám thách thức một đội quân tại chiến trường về cách hành quân… Đó đã là cuộc chiến tranh của chính họ. Chính họ đã là những người đang chết mà thôi. ”  1702

Trong tháng chạp năm 2007, một bản Báo cáo tình báo quốc gia mới về  chương trình vũ khí hạt nhân của Iran bất thình lình tuyên bố là Iran đã từ bỏ nó trong khi, vì một lý do bí ẩn nào đó, thì Iran vẫn tiếp tục nhanh chóng sản xuất các vũ khí giàu chất uranium. Vai trò đúng đáng của các phân tích gia  không phải là hoạch định chính sách mà là chỉ cung cấp dữ kiện cho cấp trên để họ có thể quyết định trong một sự hiểu biết tường tận.

Thổi  Phồng  Đặc Tính Can Trường của Việt-cộng

Ngay tại Việt Nam thì các cố vấn quân sự và bình định, ví dụ như Robert Komer, đã nghĩ là khi gồm chung luôn số Việt  Cộng vào trong các ước tính về lực lượng chính quy thì sẽ không có được chính xác con số về thực lực quân sự của Cộng sản . Komer nói rằng cái con số thổi phồng giả tạo này đi ngược lại với khả năng thành công tại Việt Nam.

Và, quả thật vậy, khi cộng chung con số các cán bộ Việt Cộng tính từ bọn cu-ly  khuân vác, rồi luôn đám trẻ đưa tin, rồi các tin đồn nhãm về phụ nữ , rồi đám điềm chỉ viên và đám du kích vũ trang vào với số chiến binh đầy kinh nghiệm chiến trường của quân chính quy Bắc Việt thì sẽ thổi phồng một cách giả tạo con số của các lực lượng vũ trang cộng sản, do đó khiến chúng trở thành một lực lượng ghê gớm và cực kỳ khó khăn để đánh bại về phương diện quân sự.

Liệu các phân tích gia của CIA đã có tôn thờ chủ nghĩa chủ trương chiến tranh là vô ích, bất kỳ mọi cuộc chiến tranh? Tại sao CIA chổ nào cũng thấy tòan là khó khăn? Tại sao CIA đã có biết bao nhiêu là bản phúc trình với biết bao nhiêu là ý kiến khác nhau ​​và thiếu quá nhiều dữ kiện thực tế? Chắc chắn là các chiến binh tại các chiến trường đã không hề  thấy tình hình quá ư là vô ích hay tuyệt vọng.

Thật vậy, Robert Komer, người phụ trách làm vô hiệu hóa hạ tầng cơ sở của Việt Cộng đã tuyên bố là bản phân tích của CIA rất “cẩu thả, quá thiếu sót và hoàn toàn đáng thất vọng.” 1703  Tại sao CIA đã không có thể nêu lên được điều gì hữu ích.”? Có phải chăng vì CIA đã tuyển mộ những người  trí thức thuộc loại rất hiểu biết mà lại rất ít kinh nghiệm cùng kkã năng thực dụng về quân sự hay khác hơn?

Dù các phân tích gia CIA đã giả tạo ra bất cứ chuyện gì thì quân đội cũng đã rất đúng thật.

Trong vòng một năm, Việt Cộng đã chứng tỏ mình chỉ là một lực lượng giả tạo trên giấy tờ đang bị tàn sát trong các trận chiến bởi các lực lượng chính quy trong dịp Tết năm 1968 và trong các cuộc thi đua với các chương trình bình định có hiệu quả trong những năm sau đó. Mặc dù sự kiện thực tế này sẽ sớm không thể chối cãi được, các lập luận về thống kê và quyền lực của loại “giấy phân tích” vẫn sẽ sớm được sử dụng để cáo buộc là Mỹ nói láo về đề tài sức mạnh “thật sự” của đối phương hầu che giấu sự kiện là cuộc chiến đã đang bị thua.

Rốt cuộc thì bọn kế toán viên vẫn đang điều khiển cuộc chiến.

Trong khi các công chức làm việc chỉ tại văn phòng đang tranh cãi với nhau làm sao để đếm số Việt cộng, một số thì đơn giản chỉ vì bị hướng dẫn sai lầm và số khác thì bị ảnh hưởng bởi các chính sách của phong trào phản chiến, Tổng thống Johnson lại đã bắt chước Hamlet. Tổng thống hoàn toàn bị tê liệt không biết làm thế nào để đối phó với bọn Mỹ-cộng (AmeriCong). Tương phản lại một cách rất rỏ ràng thì chương trình bình định bọn Việt Cộng đã có hiệu quả ở Nam Việt và đã được tiếp tục trau dồi.

Phượng Hoàng – Việc Làm Đạo Lý và Hiệu Quả để Bình Định các Thôn Làng

Công việc bình định, đặc biệt là chương trình Phượng Hoàng, đã bị miêu tả sai lầm như là một chương trình không hiệu quả chỉ nhằm ám sát hàng ngàn thường dân vô tội và các đối thủ chính trị mà không phân biệt ai cả. Cả hai mục tiêu đều quả là vô đạo đức và không hiệu quả.

Mục tiêu của nó là vô hiệu hóa bộ máy Việt Cộng, các cán bộ tổ chức, chính phủ bí mật trong bóng tối, các chương trình tuyên truyền và hệ thống khủng bố. Việc vô hiệu hóa có thể là hồi chánh, bị bắt, bị bỏ tù, và đúng, luôn cả tử hình. Chương trình Phượng Hoàng là kế thừa cho một loạt các chương trình bắt đầu với Diệm, Lansdale và Rufus Phillips, chẳng hạn như Phối Hôp Tình báo và Khai thác (Intelligence Coordination and Exploitation ~ ICEX), Chương trình Hành động Dân sự (Civil Action Program ~ CAP) và ở miền Nam Việt Nam, nó được  biết đến với tên là Phượng Hoàng.

Cuộc Chiến Chống Lại một Chính Phủ Núp Trong Bóng Tối

Cuộc “chiến tranh chống lại một chính phủ núp trong bóng tối” này quả là rộng lớn, phức tạp và đa dạng và cứ tiếp diễn trong nhiều năm xuyên qua nhiều tỉnh cũng như là nhiều đợt nổ bùng rối lại lắng dịu.

Cách giải thích tường tận và trung thực nhất là của Mark Moyar trong tác phẫm  Phoenix and the Birds of Prey. 1704 Moyar đã giải thích là Chương trình Phượng Hoàng đã không hoàn toàn đen hay trắng. Nó nghiêng về nhiều màu xám hơn. Đúng thật là Nam Việt đã “bắt giữ, tra tấn và giết chết (một số) thường dân không phải là Việt Cộng … [Mặt khác, rõ ràng là] các đồng minh đã cố hết sức mình để tránh những lạm dụng như thế có thể xảy ra … Khía cạnh màu xám của các đồng minh có khuynh hướng nghiêng về sáng nhiều hơn là tối … [Chắc chắn] là những lý tưởng đã không đúng như thực tế ” 1705  trong các làng mạc và trên các chiến trường.

Từ 1960 đến 1967, chương trình bình định của Nam Việt đã bao gồm việc bắt giữ, tra tấn, hăm dọa và giết VC.

Sau năm 1967, thời kỳ của Phượng Hoàng đã bắt đầu  trong tháng 7 năm 1968, các cố vấn CIA Mỹ nói chung, đã ngăn chặn được Nam Việt không tra tấn và giết chóc cũng như là đã đòi hỏi phải có bằng chứng mới được bỏ tù bất kỳ ai. Sau đó đa số các người trong các vụ vu cáo đều đã  kịp thời được trả tự do và một số khác thì chỉ bị tù trong thời gian ngắn. Cuối cùng, để nói ai mới thật sự đã giết bọn Cộng thì Mark Moyar đã khen Nam Việt: các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh (Provincial Reconnaissance Units ~ PRU) và các dân quân địa phương, 1706  mà đã “phá tan tành chính phủ ma của Việt cộng cũng như là các lực lượng du kích quân.”  Bruce Lawlor , cựu nhân viên CIA và luật sư nhớ lại,

Mộtnữ luật sư  … đãhỏi tôi … đãgiết chết bất kỳ trẻ sơ sinh nào không

Làm thế nào để bạn trả lời một kẻ ngu si như thế

PRU đã  không hề là một âm mưu. Nó không bao giờ là một chương trình ám sát.

Đôi khi chúng tôi phạm sai lầm … nhưng thật sự đã không có ý định xấu xa. Đã có rất nhiều người rất đáng kính “.  1707

Bọn cộng sản đã hiểu rỏ Chương trình Phượng Hoàng hơn so với các nhân viên CIA của chúng ta và bọn luật sư luôn luôn đòi hỏi đạo lý, là đó không phải là một chương trình để ám sát nhưng mà là một sự kết hợp của các Lực lượng Đặc biệt đồng minh với mục tiêu nhắm vào cái chính phủ ma, cái mạng lưới khủng bố của Việt Cộng. Các lực lượng này bao gồm các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh, cảnh sát đặc biệt, các đơn vị đặc biệt của QLVNCH và của Mỹ, ví dụ như các Trinh sát Kit Carson, các lực lượng cảnh sát quốc gia và các đơn vị nhỏ bán quân sự .

Thật vậy, bọn cán bộ Việt Cộng khi đi đây đi đó thì luôn luôn được hộ tống và có vũ trang để chống cự lại việc bị bắt giữ nên thường đã bị bắn chết hơn là được bắt nhốt một cách êm thấm. Một cách giải thích khác cho tỷ lệ số bị giết cao là do cách tính toán. Các đơn vị tình báo Phượng Hoàng thường đã cung cấp tên tuổi của các cán bộ VC cho các đơn vị quân đội Hoa Kỳ và VNCH. Do đó, số bị giết trong các trận chiến bình thường lại được liệt kê như là kết quả của chương trình Phượng Hoàng  1708  thay vì của các đơn vị quân đội VNCH.

Do đó, số VC bị giết trong chiến trận mà lại được báo cáo như là trong danh sách của Phượng Hoàng đã dễ dàng bị hiểu lầm hay cố tình phân loại như là do Phượng Hoàng ám sát. Chính cái phương pháp sai lầm về kế toán này, rất là đặc trưng với nổi ám ảnh cứ mãi luôn lo đếm số của McNamara, đã đưa đến kết cuộc là các hoạt động tình báo Phượng Hoàng đã bị biến thành một chương trình ám sát nhắm vào thường dân.

Bọn cán bộ giả dạng  thường dân thì không thể là dân thường.

Chính sự thất bại này trong việc cần phải tuyệt đối phân biệt rỏ ràng trong một cuộc chiến không chính thức như tại Việt Nam và hiện nay ở Iraq và Afghanistan đã đưa đến các cáo buộc về sự tàn bạo và hành vi giết  thường dân một cách bừa bãi.

Nhưng giết Việt Cộng mà có vũ trang dù ăn mặc như thường dân thì cũng giống như giết chết bộ đội hay các gián điệp và những tên khủng bố có vũ khí. Bọn cán bộ Việt Cộng , cho dù hóa trang theo kiểu nào thì cũng đều là những chiến binh chứ không thể là dân thường. 1709

Nhưng bọn Mỹ cộng (Americong) thì đã lại rất thành thạo trong việc phổ biến cái huyền thoại về việc  giết hại bừa bãi thường dân này. Ví dụ, Elton Manzione,  thành viên của VVAW, đã  thường được trích dẫn như là kẻ từng tuyên bố đã giết nhiều thường dân. Tuy nhiên, các Navy Seals từng phục vụ ở Việt Nam thì không hề biết cái tên Seal tự xưng này vì Manzione đã chưa bao giờ đặt chân tới Việt Nam. 1710  Tương tự như vậy, Mark Moyar đã không tin hai tên nhân chứng khác là Mike Beamon và Kenneth Barton Osborne và coi cả hai như là một tên giả mạo và một tên nói láo. 1711 Các phóng viên Neil Sheehan và Frances Fitzgerald cũng đã phỏ biến rộng rãi các huyền thoại rất có tiếng vang  về những vụ ám sát của Phượng Hoàng.

Đã có những nỗ lực để vạch trần huyền thoại. Ví dụ, để trả lời cáo buộc của ký mục gia Walter Scott là Phượng Hoàng  “thành lập một chỉ tiêu cao mới cho các vụ ám sát chính trị của Mỹ tại Việt Nam,” thì Giám đốc Phượng Hoàng là William Colby, trong một lá thư gởi chủ bút Lloyd Shearer của tạp chí Parade vào ngày 11 tháng 1 năm 1972, đã viết:

Chiến dịch Phượng Hoàng  không là và đãkhông là một chương trình ám sát.
Nó đã
nhằm chống lại bộ máy Việt Cộng đang âm mưu lật đổ Chính phủ [Nam] Việt Nam bằng cách giết các nhà lãnh đạo.

Khi nào có thể được thì [các cán bộ trong guồng máy Việt Cộng] … đã bị bắt giam hay được khuyến khích để hồi chánh, nhưng một số lớn đã thiệt mạng trong các cuộc đụng độ quân sự hay vì đã chống cự lại.

Có một sự khác biệt lớn trong thực tế chứ không chỉ đơn thuần trong mức độcó bao nhiêu, giữa những thương vong chiến trận (thậm chí kể cả luôn vài trường hợp lạm dụnglẻ loi đã xảy ra) và các nạn nhân của chiến dịch khủng bố có hệ thống của Việt Cộng … “  1712

Trong số 15.000 tên bị vô hiệu hóa vào năm 1968 thì 72% đã bị bắt giữ, 13 là hồi chánh viên và chỉ có 15% là đã bị giết chết. 1713  Năm 1969, số lượng bị giết chết đã tăng gấp đôi. Đến tháng 7 năm 1972, đã có 26.000 bị thiệt mạng mà  32% thì đã bị giết. 1714

Hà-nội Nhận Ra Đưọc là Chiến Dịch Phượng Hoàng Rất Hiệu Quả

Bên cạnh những cáo buộc về tính cách vô đạo đức của Phượng Hoàng thì đã có  một tuyên bố mâu thuẫn khác mà đã được cùng lúc phổ biến là Phượng Hoàng  không có hiệu quả. Nguyễn Cơ Thạch, một tay ngoại giao cao cấp của Bắc Việt, đã cho biết là Phượng Hoàng từng “đã giết chết nhiều hơn là con số  21.000 được chính thức công bố … Chúng tôi đã bị nhiều thất thế ở miền Nam chỉ vì Phượng Hoàng .”  1715

Về phương diện chỉ tranh luận thôi thì Phượng Hoàng quả thật là vô hiệu nếu xem đó như là  một chương trình để ám sát vì 73% của con số 67.006 tên Việt Cộng bị “vô hiệu hóa” thì đã hồi chánh hay bị bắt và chỉ có 27% là đã bị giết chết.  1716  Bọn cộng sản vẫn biết là các chương trình bình định luôn luôn là một mối đe dọa cho chúng và đôi khi có thể rất là hiệu quả. Hà Nội đã đánh giá Phượng Hoàng như  là sự kết hợp của “các phương án chính trị, kinh tế  và văn hóa với kiểu chiến tranh gián điệp nhằm loại bỏ hạ tầng cơ sở của cách mạng và xây dựng hạ tầng cơ sở cho chủ nghĩa tân  thực dân.”  1717

Sau chiến tranh thì cộng sản đã nói với Stanley Karnow là Phượng Hoàng đã là “chương trình duy nhất rất có hiệu quả mà quý vị đã áp dụng  … trong toàn bộ cuộc chiến.”  1718  Nam Việt  thì đã bắt đầu chương trình bình định sau dịp Tết.

Tem: Nam Việt Tăng Gia Giúp Đở sau Tết ~ Tài liệu của Nat Ward

Đó là lý do tại sao Hà Nội đã chủ trương các chương trình bình định phải  là những mục tiêu chính để đánh phá về tuyên truyền tại Mặt trận thứ Hai, nơi mà các tên điệp viên đáng tin cậy của chúng có thể được dự kiến ​​sẽ nghiêm túc lặp lại đúng y đường lối đảng của Bắc Việt.

Phần lớn vì không xem xét kỹ hay vì sử dụng chứng nhân gian trá, lịch sử của chiến tranh Việt Nam chủ yếu đã ghi nhận Mặt trận thứ Hai về tuyên truyền của Hà Nội như là một thực tế. Do đó nó đã giúp làm lan rộng huyền thoại xấu xa về  các vụ ám sát của Phượng Hoàng để biến thành thành những cáo buộc về sau liên quan đến những toán hành quyết trên toàn cầu và các phòng tra tấn ở khắp mọi nơi của Mỹ .

Trong khi đó, các tù binh Hoa Kỳ đã phải trải qua bao nhiêu cực hình tra tấn tại Hà Nội. Và chính sách  khủng bố của cộng sản thì vẫn cứ tiếp tục ở miền Nam.

Các Tội Ác Thật Sự – Lực Lượng Mãnh Hổ Tiger của Mỹ – Tháng 5 tới Tháng 11 Năm 1967

Tất cả những lời phủ nhận về màn khủng bố và tra tấn rộng rãi của Mỹ và đồng minh đã không xóa bỏ được các tội phạm chiến tranh mà Mỹ đã thực hiện tại Việt Nam. Nhưng đó chỉ là những hành vi ngẫu nhiên  và không phải là chính sách của Mỹ. Nguợc lại đối với Cộng Sản Việt Nam thì các cuộc tấn công khủng bố vào thường dân đã là một chính sách không thể tách rời với học thuyết về  chiến tranh nhân dân của chúng.

Các Hành Vi Dã Man của Lực Lượng Mãnh Hỗ Tiger – Tháng 5 tới Tháng 11 Năm 1967

Các thẫm quyền quân sự và dân sự Mỹ luôn luôn lên án và điều tra những cáo buộc về vi phạm trong chiến tranh đối với người dân thường. Một trong những trường hợp như vậy là vụ Lực Lượng Mãnh Hổ Tiger Force, một tổ chức lừng danh do David Hackworth thành lập vào năm 1965 và cũng là một lực lượng đặc trách của Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn  27 Bộ binh, Lữ đoàn 1, Sư đoàn Không vận 101 của quân đội Mỹ.

Từ tháng 5 qua tháng 11 năm 1967, một số thành viên của Tiger Force, khoảng 18 người, đã có những hành vi tra tấn, hãm hiếp, hành hung, chặt tay chân và giết dân thường với tù nhân trong các vùng Việt Cộng kiểm soát. Trên cao nguyên các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi có thể đã có “hàng trăm” thường dân bị giết chết. Một số quân nhân đã cố gắng ngăn chặn các tội phạm này và một số khác thì đã báo cáo lên thẩm quyền cao hơn. Tuy nhiên thực tế của  chiến trường đã khiến việc điều tra bị tiến hành một cách chậm chạp .

Tới năm 1971, quân đội cuối cùng đã bắt đầu một cuộc điều tra triệt để Tiger Force trong vòng  bốn năm rưỡi bởi giới chức có thẫm quyền cao nhất. Quân đội Mỹ đã gửi 100 nhân viên tới 63 thành phố để phỏng vấn 137 binh sĩ và các cấp chỉ huy. Quân đội đã xác định được 20 tội phạm chiến tranh – 78 thường dân bị bắn hay bị đâm.

Quân đội đã xác định được là 18 quân nhân đã phạm các tội ác đó. Tuy nhiên, các luật sư quân sự đã nói với các vị chỉ huy quân sự là không có đủ bằng chứng để truy tố những quân nhân mà đã xuất ngũ trước đó, tại các tòa án dân sự vào thời kỳ giữa những năm 1970 vì hầu hết các trường hợp như vậy thuộc thẩm quyền của những tòa này .

Quân đội đã truy tố ra Tòa Mặt Trận tất cả những người vẫn còn tại ngũ. Hai quân nhân James Hawkins và Harold Trout đã là những nghi phạm chính về tội cố sát. Trong trường hợp của Hawkins thì  “Sẽ không có được kết quả có lợi hay có tính cách xây dựng để mà truy tố về hình sự đối với hành vi  phạm pháp chiếu theo Bộ luật Uniform Code of Military Justice”.

Đến năm 1975 thì đã có một phong trào mạnh mẽ đòi hỏi phải ân xá các người phạm tội đào ngũ, các cộng tác viên  và đám phàn quốc vì xem chúng như là những anh hùng vinh quang của phong trào phản chiến. Hàng ngàn tên rỏ ràng đã trốn lính, đào ngũ, cộng tác viên và phản quốc đã không hề bị truy tố. Một  kẻ duy nhất có lẻ là John Kerry mà đã ngưng phục vụ vào đầu năm 1970 tuy vẫn thuộc (dù không phục vụ) Lực Lượng Trừ Bị (Ready Reserve) mãi cho đến năm 1972, và phải chờ cho đến năm 1978, khoảng sáu năm sau khi đã hoàn tất đủ thời gian quy định về quy chế không phục vụ  trong Lực Lượng Trừ Bị  của mình vào năm 1972 để chính thức được xem như là giải ngũ.  1719

Đó là hiện tình khi các báo cáo điều tra của quân đội về những tội phạm chiến tranh trong lực lượng Tiger Force cuối cùng đã tới bàn giấy của James Schlesinger, Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống Ford.

Tính cách tàn bạo của Tiger Force ở cao nguyên  các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi đã được che kỹ nhưng vẫn không bị quên lãng. Năm 2002, Michael D. Sallah và Mitch Weiss đã tìm kiếm trong các hồ sơ của quân đội Mỹ mà lúc đó đã được công bố, đã phỏng vấn 43 thành viên Tiger Force và các nông dân Việt Nam, và đã viết một loạt bài được giải thưởng Pulitzer, “Buried Secrets, Buried Truths,” trong báo Toledo Blade vào tháng 10 năm 2003. 1720

Sallah và Weiss xác nhận được là bọn phạm tội thuộc Tiger Force đều là “Những Quân Nhân Vô Kỹ Luật”  và là quân đội Mỹ đã tiến hành cho tới “242 cuộc điều tra về tội phạm chiến tranh ” mà đã được chứng minh bằng việc có tới 1/3 đã bị  khởi tố và 21 tên đã bị kết án.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, từ năm 1965 tới 1973, khoảng 201 binh sĩ và 77 Thủy quân lục chiến đã bị kết án về một số tội phạm nghiêm trọng đối với người Việt. 1721 Tuy nhiên, các viên Tướng của những tòa án quân sự đã chỉ kết án có 95 bộ binh và 27 Thủy quân lục chiến về tội cố sát hay đã thương nhân thương chí mạng. Trong số 81 trường hợp có đầy đủ bằng chứng về tội ác chiến tranh thì 31 bộ binh và 27 Thủy quân lục chiến đã bị kết án. Trong các vụ xét xử các Thủy quân lục chiến thì các bản án đã rất khác nhau, nhưng dù sao thì những người dân thường từng bị kết án về cố sát ở Mỹ thì cũng như vậy mà thôi.1722

Việc tại sao bọn Cộng sản Việt Nam đã không công bố làm rùm về hành vi của các quân nhân Tiger Force trong thời gian chiến tranh quả đã là một bí ẩn.

Sau vụ tương tự là Mỹ Lai  thì Sallah và Weiss, giống như quá nhiều kẻ khác, đã  không hề đề cập đến chính sách của Cộng sản và các tội ác tồi tệ nhất tại Đắc  Sơn, Huế, Dục Đức, Sông Bé, Ba Rài,  v. v. . .

Thật vậy, từ tháng 6 năm 1967 đến tháng 6 năm 1968, Việt Cộng đã  khủng bố tấn công  các nhà tù  Nam Việt và giải thoát được 4.826 tù nhân. “Trước hết thì địch sẽ bắn các viên cai ngục cùng vợ con của họ.” Và sau đó “thì treo họ trên hàng rào kẽm gai tại . . . cổng.”  Nếu cổng là gổ thì “những xác trẻ em, phụ nữ và các viên cai ngục sẽ bị đóng đinh … xuyên qua cổ họng, vai và bụng … Quả thật là “không thể nào diễn tả được … ”  1723

Không có gì đáng ngạc nhiên khi 1.022 tù nhân được chúng giải thoát đã tình nguyện từ chối lòng thương yêu của Việt cộng mà trở lại vô tù. Tuy nhiên các hành vi man rợ của Việt Cộng và việc coi thường mạng sống (và cái chết) của tù nhân của chúng đã , nói chung, không được các giới truyền tin Mỹ chú ý hay nhìn thấy hay báo cáo gì hềt. Vụ Việt Cộng đã giết 19 viên cai ngục cùng 19 bà vợ với 57 trẻ em thì đúng thật, không phải là loại tin tức để loan đi.

Tại Sao Vài Người Mỹ Đã Phạm Các Tội  Ác?

Trong một chiến tranh xẩy ra trong các làng mạc, loại chiến tranh nhân dân, vấn đề phân biệt giữa bạn và thù, giữa binh sĩ và  thường dân, giữa thôn làng thân thiện hay thù địch quả rất là khó khăn. Trận chiến thì đã có thể đánh và thắng, nhưng lãnh thổ sau đó sẽ bị bỏ lại. Vì vậy, ngày này qua ngày khác đã có biết bao chiến trận xẩy ra và biết bao nhiều đồng bạn đã bỏ mạng, thường chỉ vì những tên địch mặc đồ dân sự và giả dạng làm thường dân vô tội. Địch đã cưởng bách phụ nữ, trẻ em và cả người cao tuổi vào các lực lượng du kích của chúng.

Trong sự hỗn loạn và hỏa mù của chiến trận, người Mỹ đã giết chết thường dân vô tội, sự kiện mà các tay chơi chữ đã gọi là “thiệt hại song phương – collateral damage.”

Trong cơn điên cuồng của chiến trận thì mọi quân nhân đều rất nóng nực, dơ dáy, mệt đuối, bị côn trùng cắn nát toàn thân, mất ngủ, sợ hãi và lòng đầy phẩn nộ.

Trung bình thì lính bộ binh tại Việt Nam đã phải chiến đấu 240 ngày trong vòng một năm so với 40 ngày trong tới 4 năm khi phục vụ thời Thế chiến II (24 lần hơn thời gian chiến đấu của cựu chiến binh Thế chiến II). Ở Việt Nam, cứ 10 bộ binh thì đã có một người thương vong – bị giết hoặc bị thương. Với loại chiến trận mãnh liệt này, thì quả thật là một điều đáng chú ý là các hanh vi tàn bạo của Mỹ đã rất hiếm hoi khi so với con số hàng triệu lần tuần tra của bộ binh trong suốt cuộc chiến. Cuộc chiến Việt Nam không chỉ duy nhất có hiệu quả trong việc giết chết và tàn phá.

Trung sĩ William Doyle, cựu quân nhân thuộc Tiger Force, có nhớ lại, “Chúng tôi không hy vọng sống sót. Không ai ra đó với đầu óc còn minh mẫn mà lại có thể nghỉ là mình sẽ sống. Cách sống chỉ là giết, bởi vì bạn sẽ không còn phải lo nghỉ về những người đã chết. “ 1724 Y tá của Tiger Force là Rion Causey thì nói,” Chúng tôi không tin ai cả …. Đó là nguyên- tắc đầu tiên. ”  1725

Nếu mình không tự kềm chế , nếu không có vị lãnh đạo cương quyết, hay không có áp lực về đạo đức của đồng đội thì một số sẽ không tự kiểm soát được nữa và sẽ giết người chỉ vì tức giận hay chỉ để trả thù mà thôi.

Giết chết  thường dân đã không phải là chính sách của người Mỹ tại Việt Nam. Đó lại chính là chính sách của Cộng sản.

Đã có một châm ngôn về chiến tranh là chiến trận đồng nghĩa với chết chóc và tàn phá.

Ảnh Hưởng Trái Ngược của Việc Đếm Các Xác

Bọn trẻ em thần đồng của McNamara yêu cầu việc giết hại và tàn phá phải được thống kê, do đó các con số tử thương của địch sẽ thay thế cho sự kiện là các mục tiêu quân sự, cả chiến thuật  lẫn chiến lược có đã thành công hay không . Khi dựa vào những con số tử vong của địch, số làng đã được bình định để đánh giá khã năng quân sự và quyết định cho việc thăng cấp thì dĩ nhiên việc “thổi phồng các con số”  1726  khi báo cáo đã xẩy ra, bất chấp không những sự thật mà luôn cả các chiến thuật quân sự và chiến lược. Đó đúng là một lơ là trong nhiệm vụ mà H. R. McMaster đã tường thuật rất đầy đủ.

Các phân tích gia chuyên về hệ thống hóa đã điều khiển cuộc chiến tranh dựa trên các mô hình kinh tế, trên lý thuyết về trò chơi ‘game’ và các kiểu phân tích so sánh giữa chi phí-lợi ích. Chúng đã bác bỏ lập trường quân sự là khi tham chiến thì phải nhắm chiến thắng. Trong mọi cuộc chiến, đã luôn luôn có một chiến lược quân sự nhằm tiêu hao địch cho đến một mức nào đó thì chúng sẽ không còn có thể gánh chịu được số tổn thất về nhân mạng cùng số lãnh thổ quá lớn đã mất nên sẽ phải đầu hàng. Ở Việt Nam, lý thuyết trò chơi ‘game’ đã dùng các con số tử vong của địch để thay thế cho cái mục tiêu quân sự nhằm chiếm rồi giữ lãnh thổ và đánh bại ý chí của địch trong ý định tiếp tục chiến đấu. Trong các vùng “pháo tự do” thuộc khu vực Việt Cộng, sau khi các lực lượng bạn được rút đi thì liền đó, các toán trinh sát đã hành quân theo kiểu rất may rủi để ráng tích cực tìm địch mà giết nhưng lại hoàn toàn không có một mục đích chiến lược rõ ràng nào cả.

Việc các tội ác của Tiger Force đã mất một thời gian quá lâu để bắt đầu mở  cuộc điều tra chắc chắn là đã tự đánh dấu như là một tội phạm chưa được giải quyết trong chiến tranh Việt Nam.

Đã có rất nhiều kẻ đi lùng sục khắp trái đất hầu tìm cho ra các tội ác chiến tranh của Mỹ. Đó là bọn Quakers giả mạo và những tên khác nữa.

Quakers và Tàu Good Ship Phoenix ngày 26 Tháng 3 tới ngày 5 tháng 4 năm 1967 – Tiền Mặt cho bọn Cộng

Ngày 26 tháng 3 năm 1967, một tên ăn mặc và tóc tai rất ‘hippy’  1727 đã tự tách rời khỏi  American Friends Service Committee  AFSC nguyen là  một Nhóm Hành Động Quaker  (Quaker Action Group AQAG), để dùng  du thuyền tên Phoenix đi vào Vịnh Bắc Bộ nhắm tới Hải Phòng, Bắc Việt Nam và chở đầy hàng trăm thùng đồ giải phẫu y tế do tư nhân đóng góp lại để tài trợ.  1728

Bọn Quakers cam kết “đứng sát bên các người anh em đang đau khổ của chúng tôi.”  1729

Trong chiến tranh, hành vi viện trợ vật chất cho địch có nghĩa là “giao thương  với kẻ thù.” Binh lính địch sẽ sử dụng các vật dụng dùng cho băng bó và các loại thuốc mà trên nguyên tắc chỉ dành cho thường dân. Tiền mặt thì có thể dễ dàng dùng để mua sung đạn. Khi tổ chức Secours Populaire français (Tiếp cứu của Nhân dân Pháp) viện trợ một xe cứu thương cho Bắc Việt vào năm 1967 thì một đại diện của chúng tại Paris đã nói “tôi mong cho nhân dân chúng tôi nhận được trực tiếp vũ khí hơn.”  1730  Việt cộng thì thích tiền mặt hơn và câu-lạc-bộ Club Dubois, Ủy ban Hỗ trợ Nhân dân Việt Nam (Committee to Aid the Vietnamese People) và các nhóm khác trong các đại học Mỹ đã đang tổ chức quyên tiền mặt từ năm 1965.

Chính phủ Mỹ đã chặn lại tiền mặt thu được 1731 và niêm phong các trương mục của AQAG  thuộc AFSC nhiều lần. 1732

Các tên trên du thuyền Phoenix – Earle Reynolds, Betty Boardman, Philip Drath, Horace Champney, Robert Eaton, Ivan Massar, Richard Faun và William Heick 1733 đã được phép nhập bến sau nhiều lần năn nỉ Bắc Việt  bằng thư gởi, bằng các cuộc họp với Nguyễn Duy Vũ ở Phnom Penh và với Carl Zietlow tại Hà Nội. George Lakey,  giám đốc AQAG, tay đàm phán ở Stockholm và Paris và cũng là lãnh đạo của cuộc hành trình đã là một người từng giúp đở cho một Hội nghị Thanh niên Quốc tế tại Vienna (cùng với Allan Brich  1734) mà đã được tài trợ bởi một mặt trận của Liên Xô tại Prague tên là Hội nghị Hòa bình Thiên Chúa Giáo (Christian  Peace Conference) vào năm 1965.  1735

Tổ chức Secours Populaire français (Tiếp cứu của Nhân dân Pháp) thì đã được  tin tưởng hơn. Đó là một tổ chức y tế và nhân đạo mà trong nhiều thập kỷ (Sacco và Vanzetti, Dimitrov, các người Cộng hòa Tây Ban Nha, Henri Martin) đã từng cung cấp viện trợ vật chất cũng như là phẫn nộ phản đối các hành động  vi phạm quyền con người của các nạn nhân Cộng sản hay bọn cảm tình viên của chúng. 1736  Khác với một số người Quakers vô tội, nhiều tên trong số lãnh đạo và các thành viên của tổ chức Pháp này đã là Cộng sản.

Chăm Sóc và Nuôi Dưỡng bọn Chủ Hòa

Betty Boardman đã nài nỉ “Việt Nam không cần phải thanh toán chi phí của chúng tôi,”  1737  nhưng Bill Heick thì nhớ lại là tại Hà Nội, “Ban đầu, chúng tôi ở tại khách sạn Thống Nhất  Metropole, 1738 khách sạn lớn, đẹp … theo phong cách Pháp. Bắc Việt đã trang trải mọi chi phí của chúng tôi khi chúng tôi ở lại tại  Bắc Việt. ”  1739

Betty Boardman đã rất có ấn tượng về cách được bọn Bắc Việt chăm sóc và yêu thương cũng như là “ôi xã hội của họ tốt là bao.” 1740  Cái bọn du khàch dư tiền và bị gạt này đúng ra thì đã phải khôn ngoan hơn. Khái niệm của lòng ái quốc đối với Boardman đã chỉ là một “lòng trung thành lớn hơn đối với loài người … thậm chí cả súc vật … khi so với một quốc gia.”  1741

Tại Hải Phòng, thì chúng đã được chào đón bằng một màn trình diển đứng xa xa nhìn cảnh các vụ đánh bom,  nhìn hỏa tiễn phòng không SAM và theo như thông lệ, đã có những cô gái xinh đẹp với những bó hoa đứng đón ở bến cảng. 1742 Các thủy thủ Bắc  Việt khi lên du thuyền đã mạnh mẽ thuyết phục bọn Quakers phải rời du thuyền để đi trú ngụ tại cái khách sạn xa hoa Pháp.

Các Chuyến Đi Thăm cùng Các Mời Gọi

Nhà làm phim Felix Green đã chỉ cho bọn Quakers thiệt hại do bom gây ra ở gần một cây cầu tại Phường Hoàng – Liệt, ngoại ô Hà Nội. Bọn Quakers đã đi xem  bảo tàng chiến tranh tại Hải Phòng và  nhìn thấy tận mắt các đồ dùng cá nhân  của các phi công Mỹ từng bị bắn rơi, 1743  mà đã được thu thập để chỉ dùng  đúng cho mục tiêu tuyên truyền này. Elizabeth “Betty” Boardman đã ghi nhận,  “Tôi cảm thấy là quả thật về phương diện bạn bè thì họ đã không nên đưa chúng tôi đến chổ đó.”

Cho dù một số cử chỉ  của chủ nhà đã không được thân thiệnlắm thì cái nhóm bạn bè này cũng đã náo hức “bày tỏ lập trường bằng cách tuyên bố tràng giang đại hải về … các tổ chức phản chiến tại Hoa Kỳ. … [Nhiều ] số trong đó đã xin phép đến thăm Hà Nội.”  Bắc Việt đã dựa theo đó để quyết định mời ai. Betty Boardman đã đề cao cái nhóm Women’s International League for Peace and Justice, WILF (Liên Minh Quốc Tế về Phụ Nữ cho Hòa Bình và Công Lý) mà sẽ sớm được mời sau đó.  Carl Zietlow đã viết: “Chúng tôi đã thu xếp để có được những liên lạc thân thiện trực tiếp . . . Chúng tôi khi về lại nước thì quả đã tự thấy mình có một liên hệ cá nhân trực tiếp với Bắc Việt.”  Gần sau đó thì Zietlow đã được giao phó công tác tại Phnom Penh, Cambodia.  1744

Ngày 5 tháng 4 năm 1967, bọn Quakers nhổ neo rời Hải Phòng để lại đi Tokyo. Horace Champney đã quan sát, “Có lẽ một chiếc thuyền buồm nhỏ …  cũng đã có thể chứng minh được … cách nào trái đất này cần phải được cai trị.”

Năm sau thì Boardman đã diển thuyết  tại 208 cuộc hội họp phản chiến. 1745  Phil Drath thì đã đi lưu diễn khắp nước với một bộ phim Phoenix thực hiện bởi   Bill Heick và Dick Faun. Trong bản sao của bộ phim mà đã được trích dẫn bởi tờ báo cộng sản chính thức là Daily World  ngày 18 tháng 7 năm 1969, người tường thuật trong bộ phim nói, “Chúng tôi đã luôn luôn  bị buộc tội giúp đỡ kẻ thù.”  Và  “Đúng vậy, có lẽ này lần này đó là điều mà chúng tôi đã phải làm “.  1746

Hayden – Người của TricontinentalCongress (Nghị Hội Tam Lục Địa), Tháng 4 năm 1967

Trong khi Tom Hayden đã là tên bảo trợ đầu tiên cho các hoạt động mùa xuân ở Hoa Kỳ thì bằng cớ lịch sử ghi lại đã không cho thấy y đã từng giữ vai trò nổi bật nào cả. Mặt khác, y đã làm việc ở hải ngoại trong tháng 4 năm 1967, cũng như là vào tháng 9, tháng 10 và tháng 11.

Trong tháng 4, Tom đến Puerto Rico dưới sự bảo trợ của Tricontinental Congress (Nghị Hội Tam Lục Địa) do Castro tổ chức và tài trợ. Tricontinental chủ trương ủng hộ các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống lại đế quốc Mỹ trên ba lục địa. Tổ chức bảo trợ cho Hayden tại Puerto Rican đã là Puerto Rican Pro Independence Movement (Phong Trào Dành Độc Lập cho Puerto Rico) mà tên Mác-xít Lê-nin-nít Fidel Castro ủng hộ. Hành vi Tom Hayden nhảy múa đồng điệu vui chơi với Tricontinential Castro đã là màn tiên khởi dẫn đến việc cả ngàn tên khác sẽ đến thiên đường xã hội chủ nghĩa của Castro tham dự các chương trình đào tạo cán bộ, trong đó có cả SDS, Weathermen và các  Lữ đoàn Venceremos.

Trong khi đó thì Bertram Russell vẫn tiếp tục con đường do Hà Nội chỉ đạo để giúp chúng.

Toà Án Các Tội Phạm về Chiến Tranh Khai Trương – 2 tới 10 Tháng 5 Năm 1967

Từ ngày 2 đến 10 tháng 5 năm 1967, Bertrand Russell đã khai trương Toà án Quốc tế Chính thức đầu tiên của y về Các Tội ác Chiến tranh tại một vị trí không quan trọng là Stockholm vì nó thuận tiện với ngay Hội nghị Stockholm của Liên Xô về Việt Nam. Vì đã từng có kinh nghiệm bản thân không may với bọn cộng sản Việt Nam, Pháp đã từ chối không cho Russell tổ chức tại Paris là nơi lựa ban đầu của y.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên là Russell đã nói với bọn Bắc Việt về các kết quả dự kiến ​​do các cuộc điều tra của y: Mỹ sẽ bị tuyên án từng phạm tội ném bom một cách “rộng rãi, cố tình và có hệ thống” xuống thường dân nên đã có vi phạm luật pháp quốc tế.

Staughton Lynd có thể đã âm thầm trốn đi mất nhưng tên Carl Oglesby của SDS, tên Courtland Cox của SNCC và tên Dave Dellinger cũng có tham dự phần nào trong  mùa hè năm 1967 cái phiên tòa trình diễn của Russell. Các thành viên người Mỹ của tòa đã là Dellinger, Oglesby, James Baldwin và Stokely Carmichael.

Các nhân chứng Cộng sản Việt Nam trong phiên đầu đã là Đỗ Văn Ngọc, Ngô Thị Nga, Hoàng Tấn Hưng, Nguyễn Văn Đồng, và trong phiên thứ hai, Thái Bình Danh, Phạm Thị Yến, Nguyễn Thị Thơ và  Phạm Ngọc Thạch.

Các nhân chứng cựu chiến binh Việt Nam đã là David Kenneth Tuck, Peter Martinsen và Donald Duncan.

Kolko: Các Con Đê Thời Chiến

Giáo sư sử học Gabriel Kolko đã phúc trình về vấn đề đánh bom đê điều ở Hòa Lan và Hàn Quốc. Thả bom các đê điều là một tội ác chiến tranh , “một trong những tội phạm khủng khiếp nhất,” mà đã bị trừng phạt bằng cách xử tử hình như trường hợp của Cao ủy Đức tại Hà Lan là Seyss-Inquart. Việc thả bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam nhằm đánh “toàn bộ mạng lưới đê điều đã đặc biệt rất khủng khiếp và tập trung trong …năm 1966. “Nó”  đã theo đúng tiền lệ của Đức quốc xã.” Và đó là một “tội ác chiến tranh ở tầm độ lớn nhất “, Kolko đã làm chứng như vậy. 1747  Là một nhà phê bình “độc lập” về những thất bại về mặt xã hội của Cộng sản khi cố gắng hành xử cho hợp lý và nhân đạo ở Trung Quốc và Nga, chắc hẳn Gabriel Kolko đã  tuân theo đường lối của đảng về cuộc chiến tranh Việt Nam là nơi mà Hoa Kỳ đúng là đã phạm tội đế quốc chủ nghĩa . 1748

Tòa án đã làm một màn lên đường trình diễn đến Tokyo, Mexico và Rumania trước khi lại nhóm phiên thứ nhì tại một đêm chung kết rất ngược phong thổ ở  một thị trấn nhỏ ở Đan Mạch vào tháng 10. Sự kiện này đã quá sức là tục-tằn đến nổi tờ New York Times và CBS đã buộc phải thừa nhận tòa án Russell quả là một màn giả mạo. 1749

Trong khi đó thì đã có những kẻ khác mà đã phải dùng tới mật mã để nói lên việc này.

Mật Hiệu Ngôn Ngữ của Tù Binh Alvarez

Tại trại tù, tù binh Mỹ Everett Alvarez đã bị tra tấn để bắt phải viết một lời thú nhận cho toà án của Bertrand Russell.

Everette Alvarez đã cung cấp cho bọn Bắc Việt những gì mà chúng nghĩ là chúng  muốn bằng cách lặp đi lặp lại từng chi tiết :

“Tôi phản đối cuộc chiến tranh dài, có liên hệ, tốn kém, gây tranh cãi, một hành động vi phạm đến người dân Việt Nam đáng yêu, dũng cảm, anh hùng, được giải phóng, yêu chuộng tự do, yêu chuộng độc lập.”

Giống như phong cách cúi đầu gục chào một cách phóng đại quá lố của Dick Stratton và kiểu nhấp nháy mắt đánh mật mã Morse chữ TRA TẤN của Jeremiah Denton, Alvarez đã báo hiệu cho thấy là bọn Bắc Việt đã buộc mình phải nói như vậy bằng cách sử dụng một thành ngữ biểu lộ sự phẫn nộ một cách phóng đại mà không hề bao giờ có trong ngôn ngữ  kiểu Mỹ gốc Anh.

Vào mùa xuân năm 1967, trước khi cho gặp khách, bọn Bắc Việt đã bắt đầu tập dợt các tù binh với những câu hỏi và câu trả lời theo kịch bản của chúng. Trong tháng 4,  phóng viên người Anh Felix Greene và “các tay sai vặt cộng sản khác” đã quay phim khoảng 30 tù binh và phỏng vấn một số trong đó. Các phần phỏng vấn Thiếu tá James Hiteshew và Trung úy Herbert Ringsdorf đã được phát hình trên CBS Evening News ngày 18 tháng 7 năm 1967.  1750

Hà Nội quả đã có được những cái loa tốt hơn so với Bertrand Russell và Everett Alvarez.

Phối Hợp Toàn Thế Giới – Dellinger tại Hà-nội.

Dự Trù Hội Họp tại Bratislava

Trong khi đó, các hoạt động phản chiến vẫn tiếp diễn một cách mau lẹ. Ngày 19 tháng 4 năm 1967, VIETPEACE tức là Ủy ban Hòa bình Việt Nam của Hà Nội đã yêu cầu Dave Dellinger chọn bốn người trong một danh sách của ngay Hà Nội để chúng sẽ cho phép đến Hà Nội ngõ hầu “thảo luận một số vấn đề khẫn cấp”.

Hà Nội đã đề nghị giáo sư Staughton Lynd, Stokely Carmichael, Floyd McKissick, Dagmar Wilson và một thành viên SDS do Dellinger lựa chọn .  1751  Cùng đi với Dellinger  “và do Ủy ban Hòa bình của miền Bắc Việt Nam trả hết mọi phí tổn”  1752  là Nick Egelson,  chủ tịch SDS. Theo lời mời chính thức của Ủy ban Hòa bình Việt Nam của Bắc Việt, Dave Dellinger đã đáp phi cơ đi Hà Nội ngày 20 tháng 5 và đến nơi vào ngày 26 tháng 5 năm 1967 theo lời thú nhận của chính y, ngõ hầu “soạn thảo kế hoạch tại Hà Nội … về một cuộc họp Mỹ Việt tại Bratislava [Tiệp Khắc] trong tháng 9. ” 1753

Ngay tại Hà Nội thì Dellinger đã khám phá ra được là Hồ Chí Minh đã vui lòng đáp ngược lại lòng quảng đại của người dân Mỹ bằng sự tàn bạo của chính chính phủ của y.

Dellinger, Egelson, East Germans Gặp Gở Các Tù Binh Từng Bị Tập Dợt Trước

Chúng đã gặp tù binh Dick Stratton và Doug Hegdahl trong tháng 6 tại Phòng Triển Lãm của Đồn Điền (Show Room at the Plantation).  1754 Dellinger nói chuyện rất lâu với hai tù binh đó mà đã được “bảo vệ và chăm sóc tốt.” Tuy là bị  “căng thẳng cực độ về tâm lý”, họ vẩn có “chổ ở tiện nghi và vệ sinh.”  Dellinger đã nhận thấy là các tù binh có “sức khỏe tâm thần tốt” và biết được là đã không hề có việc bị tra tấn hoặc tẩy não.  1755

Dellinger và Egelson đã ở lại cho tới ngày 11 tháng 6 năm 1967.

Vào cuối tháng 6 và tháng 7, một đòan quay phim Đông Đức đã dàn cảnh tổ chức quay một bộ phim tài liệu dài bốn tiếng tựa đề là Pilots in Pajamas  (Phi công trong bộ đồ ngũ) cho thấy những phi công trong những phòng ngủ sạch sẽ, trông có vẻ ăn uống đầy đủ  và đang tập thể dục. Tù binh Paul Galanti thì lại nhăn nhó ngồi trên cái giường từng của mình với cả hai ngón tay giữa của cả hai bàn tay chỉa xuống đất, nhưng bọn Đông Đức đã cắt bỏ đi nên rốt cuộc bộ phim chỉ còn là một vụ giả mạo và thuần túy tuyên truyền mà thôi. 1756

Khi trở về nhà thì Egelson đã công bố là “việc đã có một âm mưu quốc tế cộng sản chỉ là một huyền thoại mà thôi” và rằng một cuộc nổi dậy theo kiểu Việt Cộng mới sẽ là con đường dẫn đến một nền dân chủ tại Hoa Kỳ. Luôn luôn sẳn sàng lặp lại đường lối của đảng, “Y đã dự đoán là cho dù nếu Hoa Kỳ chịu thua áp lực của dư luận quốc tế với quốc nội và ngưng các cuộc không tạc thì Hồ Chí Minh cũng sẽ không nhất thiết tiến hành chậm lại các cuộc chiến ở miền Nam bởi vì mục tiêu của Việt Công đã là “dân chủ, trung lập và cải cách ruộng đất”.  1757

Giữa ngày 25 tháng 7 tới ngày 17 Tháng 8 năm 1967, Dellinger đã có nhiều lần gặp Đỗ Xuân Oánh về cuộc họp sắp tới tại Bratislava. 1758  Dellinger nói là y được yêu cầu tụ tập cho được  30 người hay hơn nữa. Dellinger đã có tham khảo ý kiến ​​với Tom Hayden trong khi tên này đã có liên lạc với nhiều người khác mà Dellinger đã không hề biết đến.  1759

Ngày 15 tới ngày 26 tháng 8 tại Heraklion, Crete, Hy Lạp Ủy ban trung ương của Hội đồng Thế giới các Giáo hội đã hội họp lại để cho các Giáo Hội Chính Thống Nga và các điệp viên KGB Svyatoslav, Voronov, Antonov  cùng những tên khác lên án sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.  1760

Dellinger rồi thì sẽ trở về từ Hà Nội để cổ võ cho việc biến phong trào  phản đối thành một phong trào kháng chiến.  1761 Đến ngày 26 tháng 8 năm 1967 thì Dellinger đã sẽ cam kết là, “sẽ không có bất cứ tòa nhà chính phủ nào mà sẽ không bị tấn công.”  1762

Y như y đã từng làm tại Hà Nội vào năm 1965, nay Tom Hayden sẽ dẫn đầu một toán đi  Havana, một tiền đồn của Hà Nội mà nằm gần Hoa Kỳ hơn.

Dù vẫn biết rỏ các chuyến đi lại của Dellinger, Hayden, Egleson, bọn Quakers và những tên khác đẻ đển gặp bọn Cộng sản, các cơ quan tình báo Mỹ đã không có khả năng chứng minh được sự lien hệ của bọn lãnh đạo phản chiến với bọn Cộng Sản.

*****

1685  Báo cáo Tình báo đặc biệt củaCIA, “Vietnamese Ambassador…continued American support,” 10 tháng 3 năm 1967, Thư viện LBJ, Hồ sơ # NLJ 91-360, tài liệu # 48a; cũng là một tóm lược trống rỗng cùa CIA, FOIA, Vietnamese Ambassador to the United States Bui Diem’s assessment of the influence of the anti-war group in the United States… 10 tháng 3 năm 1967, Intelligence information Special Report, 2, Reference: 1992-003134, http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04107102002.pdf

 1686   Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost the Vietnam War, New York: Cooper Square Press, 1976, trang 92-9.

1687   Thông Tư Bộ Nội Vụ số #757-BNV/CT-13-A/M, 21 tháng 3 năm 1969. Viện dẫn trong sách của Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 51.

 1688   L. W. Serewicz, “Elections in Vietnam, H-DIPLO, 19  tháng 2 năm 2000.

1689   “Unwelcome Attention,” Time , tháng 9 năm 1967; .

1690   Time, 2 tháng 8 năm 1968; Karnow, trang 466.

1691   Don Luce, “Where ‘one day is 1,000 years,’ National Catholic Reporter,  15 tháng giêng năm 1969.

1692   Darrell Santsci, “Vietnam war continues for Asian lecturer, Daily Titan (CSU, Fullerton), 7 tháng 3 năm 1973.

1693   Nubar Hovsepian và Stuart Schaar, “Who wanted David Truong put away?” the Nation, tháng 3 năm 1985.

1694   Karnow, trang 465.

1695   Peter Grose, “U.S. Encouraged by Vietnam Vote: Officials Cite 83% Turnout Despite Vietcong Terror,” New York Times, 4 tháng 9 năm 1967, trang 2.

1696   D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 50-51.

1697   Khai quang, dựng hàng rào, đào hào sâu, xây chòi gát, trạm gát và các lực lượng chính phủ bảo vệ thôn ấp 24 giờ mổi ngày. Xem: Moyar, Phoenix, trang 126.

1698   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York: Harper & Row, 1965, trang 116-7.

1699   Karnow, trang 257.

1700  Các cuộc phỏngvấn của Rand Vietnam, Loạt AG, Số 545, trang 30 nêu ra trong sách của Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18 tới 20 tháng 4 năm 1996, http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

1701   “Input to the DCI Audit Project Chaired by undersecretary Katzenbach,” 23 tháng 5 năm 1967, (S). Hồ sơ  CIA, số 85T00268R, DCI/O/DCI, Hộp 7, “NSC Papers,” Folder 7, nêu ra tại  cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and… 

1702   John Ranelagh phỏng vấn Jack Smith, trong sách của John Ranelagh, CIA: A History, London: BBC Books 1992, trang 127 nêu ra tại cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and…; James J. Wirtz, “Intelligence Please? The Order of Battle Controversy during the Vietnam War,” Political Science Quarterly, 106, số 2 (mùa hè 1991, trang 239-263).

1703   SAIG 1926, 12 tháng 9, (S). hồ sơ CIA nêu ra tại cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and… 

1704   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997.

1705   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trng xvi.

1706   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang xi.

1707   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 365 ghi chú 45 kể về cuộc phóng vấn Bruce Lawlor.

1708   D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 31.

1709   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 226 ghi chú 9 nêu ra  Stuart A. Herrington, trang 13.

1710   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 225 ghi chú 6 nêu ra Douglas Valentine, The Phoenix Program, NY: Pocket Books, 1994, trang 340.

1711  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997 [Cũng như University of Nebraska, 2007, trang 93-96, 117, 213, 216, 380  ghi chú 26.

1712   CIA, FOIA, W.E. Colby với Lloyd Shearer, 11 tháng giêng năm 1972, tại trang  668 của Family Jewels.

1713   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 145.

1714   Moyar Phoenix and the Birds of Prey, trang 236.

1715   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 246 ghi chú 9 nêu ra  Seymour Hersh, Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, NY: Summit Books, 1983, trang 280-81.

1716   Bill Laurie, Godzilla at Khe Sanh: Viet Nam’s Enduring Hallucinatory Illusions, bản thảo viết tay chưa xuất bản gởi cho tác giả ngày 26 tháng 8 năm 2009.

1717   War Experiences Recapitulation Committee of the High-Level Military Institute, Vietnam: The Anti-U.S. Resistance War for National Salvation, 1954-1975, bằng Anh ngữ  trang 122 nêu ra trong sách của Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 147.

1718   Karnow Vietnam, trang 602.

1719   John Moore nói với Canfield, 11 tháng 4 năm  2008 và đã gợi ý về diển tiến trùng hợp với thời gian phục vụ trong Hải quân của chính tác giả, về việc được giải ngũ sớm, rồi được giữ lại trong lực lượng trừ bị cho đến khi 6 năm bắt buộc về quân dịch chấm dứt và  sau đó mới được Chính thức Giải Ngũ . . . liền tức thì .

1720   Michael Sallah và Mitch Weiss, “Buried Secrets, Buried Truths,” Toledo Blade trong tháng 10 năm 2003; Michael Sallah và Mitch Weiss, “Army Files, các cuộc phỏng vấn các quân nhân vô kỹ luật đã giết người thuộc Tiger Force tại Việt-nam,” Investigative Reporters and Editors, Inc, The IRE Journal, tháng 3 và 4 năm 2004; Michael Sallah và Mitch Weiss, “U. S. Army reopens Tiger Force case,” Toledo Blade,  31 tháng 10 năm 2003; Nick Turse, “The Vietnam War Crimes you Never Heard of,” Zmag, 17 tháng 11 năm 2003. 

1721   Mackubin T. Owens, “Bob Kerrey’s Vietnam War,” The Weekly Standard, 14 tháng 5 năm 2001.

1722   Gary D. Solis, Son Thang: An American War Crime, New York: Bantam, 1998, trang 211, 300-301.

1723   D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 75.

 1724   Michael Sallah và Mitch Weiss, “Army Files, interviews detail rogue Tiger Force killings in Vietnam,” Investigative Reporters and Editors, Inc, The IRE Journal, Tháng 3 và 4 năm 2004

1725   Brian Ross và Jill Rackmill, “Killer Instinct. Three Decades Later, Closed Investigation Into Vietnam War Killings revealed” tại msgboard.snopes.com/cgi-bin/ultimatebb.cgi?ubb=get_topic;f=109;t=000411;p=0

1726   Mike Benge nói với Bill Laurie và mấy người khác ngày 1 tháng 4 năm 2009. Benge đã từng là một cố vấn dân sự về bình định tại Tỉnh Đắc-lắc (Ban Mê Thuột) và cũng là một cựu tù binh.

1727   Richard Greenleaf, “Quakers’ storehouse of brotherly love,” Daily World,  18 tháng 7 năm 1969.

1728   Theo lời Boardman, Phil Drath và một phụ nữ từ  Philadelphia mà mổi người đã đưa cho bà ta $5,000. James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman,  tháng10 năm 1990 trong sách của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 88.

1729   “Quakers Begin Dramatic Voyage to Haiphong, NVN” Fellowship, Peace Information Edition, Tháng 3 năm 1967, Văn khố TTU archive nêu ra trong Rothrock, trang 171 ghi chú 28.

1730   Observatoire de l’action humanitaire, “Secours populaire francais (French People’s Aid),”  www. Observatoire-humanitaire.org/fusion.php?1=GB&id=2

 1731   Nguồn không rỏ.

1732   James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman,  4 tháng 10 năm 1990 trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 89.

1733   James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman, 4 tháng 10 năm  1990 trong sách của   James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 91-92.

1734   Fellowship of Reconciliation-USA, DG 013, Section II, Series C, Executive Secretaries/Directors, Swarthmore Peace Collection.

1735   Tiểu sử của giáo sư George Lakey tại đại học Swarthmore tại http://www.swarthmore.edu/alumni/faculty_lectures/george_lakey/bio.html

 1736   Observatoire de l’action humanitaire, “Secours populaire francais (French People’s Aid),”  www. Observatoire-humanitaire.org/fusion.php?1=GB&id=2

1737   James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman,  4 tháng 10 năm 1990 trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 92.

1738   Một trong những tên gọi khách sạn Metropole.

1739   James W. Clinton phỏng vấn Bill Heick, 12 tháng 11 năm 1990  trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 196.

1740   James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman, 4 tháng 10 năm 1990 trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 93, 100.

1741   James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman, 4 tháng 10 năm 1990  trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 94.

1742   James W. Clinton phỏng vấn Bill Heick, 12 tháng 11 năm 1990 trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 106.

1743   Bảo Tàng Viện Việt-nam nay triển lãm những phi cơ bị bắn rớt và các phi công bị bắt giam, kể luôn John McCain. Phi cơ bị bắn rớt tại Hà-nội ngày 19 tháng 5 năm 1967, bộ sưu tầm Viet I DSC_ 232 của tác giả;  

1744   “Phoenix Wind-up,” Bản tin #11, tháng 4 năm 1968 tại trang mạng của FBI, FOIA, “A”, AFSC.

1745   Indochina Humanitarian Program, AFSC-Vietnam; Joseph Elder, Chuyến viếng thăm đại học bách khoa Polytechnic University, 16 tháng 6 năm 1969; John Sullivan, Report on Mission to Hanoi, AFSC, International Service Division, RPO, 16 tháng 8 năm 1972; Sigmund Diamond, Compromised Campus: The Collaboration of Universities with the Intelligence Community, 1945-1955, Oxford University Press, 1992; Ellen Schrecker, No Ivory Tower: McCarthyism and the Universities, NY: Oxford University Press, 1986; Chronology, Swarthmore College Peace Collection (SCPC); Ross Flanagan, On Talking with The Enemy, 1967, DG-74, Hộp 2, Bratislava, SCPC; SCPC6; Elizabeth Jelinek Boardman, The Phoenix Trip: Notes on a Quaker Mission to Haiphong, Burnville, N.C. Celo Press, 1985, trang 82, 77; Carl Zeitlow, “Hanoi and the Trek of the Phoenix,” Christian Century, 2 tháng 8 năm 1967, trang 1006 — tất cả đều được nêu ra trong sách của  Hershberger, trang 105-122.

 1746   Richard Greenleaf, “Quakers’ storehouse of brotherly love,” Daily World, 18 tháng 7 năm 1969.

1747   Gabriel Kolko, “Report on the Destruction of Dikes: Holland 1944-1945 and Korea, Testimony before First Session of Russell War Crimes Tribunal, 2 tới 10 tháng 5 năm 1967, Stockholm, Sweden.

1748   Gabriel Kolko, “Iraq and Vietnam,” Zmag.org, 9 tháng 11 năm  2006.

1749 Wells, The War Within, trang 142.

1750   Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999,  trang 383.

1751   Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT CHỈ ĐỂ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 40, giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1752   National Guardian, 24 tháng 6 năm  1967, trang 12 nêu ra tại Hạ viện, Ủy ban Committee on Internal Security, Investigation of Students for a Democratic Society, Phần  7-A, 9 tới 11 và 16 tháng chạp năm 1969, Phụ đính A, Tang vật số 2 của Ủy ban ,  trang 2318. 

1753   Glass, Washington Post, 23 tháng 11 năm 1967.

1754   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 347.

1755   David Dellinger, “ Tin tức cho thân nhân và bạn bè cũa những người trong quân đội mà đã viết thư hỏi thăm để nhờ giúp đở nếu có thể được hầu tìm người thân hay trong các bức thơ chung gởi đi hay từ các tù binh mà không có ghi ngày tháng [sau tháng 2 năm 1968]; David Dellinger, Liberation, tháng 5 và 6 năm 1967. 

1756   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 345.

1757   “Activist Scoff at Talk of Communist Conspiracy,” Hartford Courant, 11 tháng 10 năm 1967 nêu ra trong tài liệu FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phiếu trình của Đương quyền SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 73-4.

1758   Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt cho  Tổng Thớng, TỐI MẬT CHỈ ĐỂ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 40, giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1759   James W. Clinton phỏng vấn David Dellinger, 23 tháng giêng năm 1991 trong sách của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 52.

1760   Phụ đính: Recent Revelations About Soviet Active Measures tại intellit.muskingum.edu/Russia_folder/pcw_era/sect_16e.htmp; On line archives of WCC at http://archives.oikoumene.org/query/Detail.aspx?ID=82293

1761   Norman Mailer, Armies of the Night, New York: New American Library 1968, trang 260-61, nêu ra trong sách của Wells The War Within, trang 174-75

1762   Wells phỏng vấn Dellinger, nêu ra trong sách của Wells The War Within, trang 175.

 *****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #22”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #22 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: