Roger Canfield’s Americong #145

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

********

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 145

Giải Phóng Quảng Trị

Vào ngày 20 thì “Tiếng nói Việt Nam” đã phát thanh cuộc phỏng vấn của y thị với  Thoraval đúng vào giờ cao điểm 8 giờ tối tại Anh quốc, châu Âu, châu Phi và Trung Đông và đó cũng là thông điệp thứ sáu của y thị.

Thông điệp thứ tư phát thanh vào ngày 7 tháng 8 đã là một câu chuyện kể thật kỳ quặc về việc “giải phóng Quảng Trị”, kỳ quặc cả cho ngay người  Việt dù là đã được phát thanh bằng tiếng Việt Nam. Chuyện kể đã là bọn Mỹ từng dồn các người dân Quảng Trị vào những  trại tập trung và hãm hiếp phụ nữ của họ nên bây giờ nhân dân đã vùng lên để hỗ trợ quân của MTGPQG. 4481  Trong thực tế thì lại chính Nam Việt đã cuối cùng  giải phóng được Quảng Trị sau hai tháng trời từng bị bộ đội Bắc Việt chiếm đóng.

Bắc cộng đã quay súng lại bắn thẳng vào hàng ngàn thường dân đang bỏ chạy trốn, bởi thay vì chạy theo Việt Cộng như chúng nghỉ nhưng lại đã chạy theo với quân đội miền Nam mà lúc đó đang phải tạm rút lui . “Khi những người tị nạn bỏ chạy tán loạn thì … Cộng quân bèn bắn thẳng vào họ ngay trên đường bỏ chạy”. 4482 Trong thực tế, “xác chết đã nằm rải rác kéo dài suốt một đoạn dài  bốn dặm” trên quốc lộ. 4483 Các báo cáo của đoàn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội tại địa phương đã  tính được cho tới “5.500 tử thi gồm cả phụ nữ, trẻ em và luôn cả trẻ sơ sinh nữa”.

Hàng ngàn người tị nạn đã trải qua một cuộc đi bộ kinh hoàng dài “50 dặm từ Quảng Trị đến Huế dưới màn bom, đạn, dưới mưa lạnh buốt với cả trẻ sơ sinh, trẻ em, bò và heo gà của họ …”. 4484  Và là thảm cảnh của “trâu bò gầy lòi xương” đi xen kẽ với con người ta mà “môi thì xanh ngắt vì lạnh và đói”. Một người phụ nữ đã cầm con sơ sinh nâng cao lên và kêu rên: “Cả nhà tôi đã chết. Không ai trốn được cả. Trời ơi, cha tôi, mẹ tôi, các con tôi ơi!”. 4485 Lời kể tận mắt sở thị của nhà văn nhân chứng ​Phan Nhật Nam là như sau:

Tôi đã đang ở tại cây số 9, cách Quảng Trị ( trên Quốc lộ 1) trong khu vực ấp Đặng Mai , xã Hải Lâm . … Tôi đã không thể nói ra lời, hay khóc được, hay hét lớn lên trước cảnh tôi đang chứng kiến … Hai cánh tay tôi đâm ra vô dụng. … Tôi không còn biết gì nữa, hoàn toàn không còn biết gì nữa ngay cả với cơ thể của chính mình …

Chín cây số của … chết chóc trong từng hạt cát, chết chóc với từng chiếc lá, chết chóc rải đầy với nào là thịt da, trong mỗi bó toàn chỉ là đột xương sống, hay xương, chết chóc với những đầu lâu không còn thân mình và những cánh tay uốn cong, đen thui …

[Độ] mỗi thước thì trung bình ra cũng có tới hai bộ xương vỡ vụn rải rác . . .  Không ai có thể  phân định được cánh tay này là của cái xác nào, rồi cái chân kia , rồi cái sọ kia nữa …

Các sĩ quan công binh đã ráng thu dọn con đường dài đó … những đống xương bị nghiền nát cùng cả với quần áo …,  ‘ rác ‘ người phải được thu dọn cho nhanh,  vì một lớp màu đen, nhầy nhụa đã bắt đầu lóng lánh trên mặt nhựa, nhựa của  xác thịt con người ta …

Họ đã là những loại người gì mà lại có thể pháo … từ điểm cao … xuống trúng … quần chúng đang bỏ trốn chạy? …

Hởi anh bộ đội Bắc Việt … anh đã giải phóng được ai khi anh nở giết người dân lành như vậy …. Làm sao mà anh đem lòng hận thù được người thiếu phụ xác xơ tay đang bồng con thơ lẫn lộn trong làn sống người tan hoang đó? 4486

Nhưng trong một bản tường trình độc quyền thì Stanley Karnow lại đã đổ lỗi những chết chóc này cho Không lực Mỹ. 4487

Tại tỉnh Bình Định, trong vòng ba tháng thì cộng sản đã thủ tiêu từ 300 đến 500 người, bỏ tù tới 6000, và tịch thu từ 1/3 đến 1/2 vụ lúa mùa của người dân quê. 4488 Moyar có kể lại lời bình luận của một cựu cán bộ VC tại tỉnh Bình Định ​​về việc Đồng minh pháo kích, bắn phá cùng không tập, “Tôi nghĩ rằng đa số các cuộc tấn công đều là do sự hiện diện của các  lực lượng thuộc Mặt trận ở trong các  thôn làng, nhưng [đôi khi] … việc này cũng không hữu lý”. Điều này có thể được giải thích do tin tình báo yếu kém hay sự bất cẩn về phía Chính phủ  Nam Việt hoặc giới chỉ huy Mỹ. “Nhưng với tất cả các cuộc tấn công mà đã từng xẩy ra chính vì các hoạt động của VC thì người dân đã thực sự oán trách Mặt trận, đôi khi một cách rất là công khai”.  4489

Và ngay cả Sài Gòn thì cũng đã bị pháo kích rất là bừa bãi. 4490

Vào cuối tháng 7, Nixon đã sẽ báo cáo là từng có 860.000 người tị nạn, 45.000 thì bị thương vong (15.000 thì chết). Và đó là sự kiện được gọi là “giải phóng” (trong cuộc Tổng tấn công Phục Sinh) tại Quảng Trị, Huế, An Lộc, tỉnh Bình Định và nhiều vùng khác mà đã từng bị tuyên truyền là đã  hưởng được lợi ích của các chính sách nhân đạo của Bắc cộng. Tới tháng 10 thì đã có 758.000 được định cư xong trong các trại tị nạn. 4491

Sau thông điệp “giải phóng Quảng Trị” thì Fonda tiếp tục nhắn tin cho “những thanh niên Mỹ mà đã … bị gởi đến đây để chiến đấu”.  4492  Đó là thông điệp thứ năm của y thị.

*****

4481 Hanoi Radio quy kết bài nói về Quảng Trị là của Jane Fonda, B091811, Hanoi in English to American Servicemen involved in the Indochina War, 13:00 GMT, 7 tháng 8 năm 1972 tại wintersoldier.com.

4482  Nguyễn Cao Kỳ, How We Lost…, trang 153.

4483  San Francisco Chronicle, 11 tháng 8, 18 tháng 7, 21 tháng 7 năm 1972.

4484  Cao Ngọc Phương, bức thơ gởi cho “Dear Friends”, Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, không ghi ngày tháng, năm 1972.

4485  Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam, the Vietnamese Buddhist Peace Delegation tại Ba-lê, Newsletter, 21 tháng 4 năm 1972 có nêu ra tờ  Đồng Nổi Daily, 11/4/72 và  10/4/72  tại FBI, FOIA.

4486  Phan Nhật Nam, Mùa Hè Đỏ Lữa, được nêu ra trong sách của James Banerian và Ủy ban Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Publications, 1984, trang 231-3.

Hình như đoạn này không phải là nguyên văn nhưng chỉ là đúc kết của vài đoạn trong 2 chương dưới đây trong Mùa Hè Đỏ Lữa của nhà văn Phan Nhật Nam (nhận xét của người chuyển ngữ):

Chương 15

Dậy Đường Tử Khí

http://www.tvvn.org/forum/showwiki.php?title=Chapter:M%C3%B9a_H%C3%A8_%C4%90%E1%BB%8F_L%E1%BB%ADa_-_Ch%C6%B0%C6%A1ng_15_-_Phan_Nh%E1%BA%ADt_Nam

Không khí tàn tạ của vùng Mỹ Thủy, Hương Điền, vẻ đau đớn lạnh cứng của xác người lính Thủy Quân Lục Chiến Tiểu Đoàn 8 khi gió thổi lớp Poncho dán chặt vào mặc để lộ chiếc đầu tròn sống mũi thẳng, năm ngón tay tái xanh có những móng dài đầy đất của tối hôm qua trên trực thăng không còn nghĩa lý gì so với cảnh tượng trước mặt. 

Tôi đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lăng. . Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng. Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước mặt. Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm soát. Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống – Mệt, máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ chót . . . Cũng không phải như thế – Tôi không biết, hoàn toàn không biết được gì của xác thân. 

Tôi không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung quanh tôi, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí – Chết. Phải, chỉ có sự chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang phơi phới bừng bừng che kín không gian. 

Đã sống trong cảnh chết của trận Đồng Xoài năm 65, trận Bình Giả năm 64, đã nằm cùng, ngủ chung với xác chết qua một thời gian dài, nhưng bên cạnh những nín lặng đau đớn của những cái chết này vẫn còn tiếng nói, tiếng động của người sống dù là tiếng khóc vật vã, lời kể lể thống thiết của những người mặc đồ tang lăn lộn trên xác chết đã sình chương mới được kéo về sau bẩy ngày tử trận. Những cảnh chết còn không khí người sống, tôi chịu được – sự chịu đựng khốn mạt chỉ có chiến tranh mới dạy được cho người. Và mới gần đây, An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót – Bên cạnh người chết vẫn có người sống – Người sống, dù với thể xác vô tri, đi đứng hcuyển dịch như thứ người cuồng tín bi thảm – Người điên buồn, điên lặng, điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược, thấm đẫm, trĩu nặng từ tế bào thần kinh – Dù sao cũng là Người Sống. Ở An Lộc, tôi còn thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và gọn như nhát dao ngọt. Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì đã lún hẳn vào trong . . . Tôi cũng chịu đựng nổi, gồng mình mà chịu, chịu được như chiếc bóng căng phồng khí độc. 

Ở đây, Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm thì khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông. sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa . . . Nhiều quá, 9 cây số hay 9000 thước, mỗi thước trung bình hai bộ xương tung tóe, vậy tất cả là bao nhiêu?Chỉlấy con số trung bình vì có chiếc xe hồng thập tự chổng bánh vỡ sườn để lộ những bàn chân đen thòng ra ở cửa đằng sau . . . Chiếc xe Honda gẫy đôi, còn xót lại hai đôi dép Nhật, người ở đâu ?Không làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu người nọ . . . Chiếc xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa – nhựa thịt người !!Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất – phải gọi xe ủi người mới đúng – vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi . . . Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi người

Làm được gì bây giờ? Bịt mũi, che mồm, nhưng tất cả vô ích, hơi chết đọng trên da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi trôi theo máu. Tôi đang đứng trong lòng của sự chết. Tránh làm sao được, ai có thể ra khỏi khối không khí của nơi sống?Những cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động vì người chứng kiến thấy được “xác người,” xác chồng chồng lớp lớp có thứ tự, gọn ghẽ nguyên vẹn. . . 9 cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng . . . Chết trân tất cả mọi cái chết. Không còn được “người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm. Giáp Hậu, Hải Lâm :Tên nhớ vào máu dù sau này tôi chết, ký ức cũng không thể phôi phai . . . Đã dùng hết tất cả chữ nghĩa có trong đầu, nhưng chưa đủ, chắc rằng chưa thể đủ được, tôi điều tiết hết cả thần kinh để đón nhận, ghi nhớ nhưng nhận không vừa, ghi không nổi . . . Lòng bây giờ cũng như dây đàn đã đứt, chỉ còn thoáng âm ba cứng đỏ mơ hồ không kìm giữa nỗi chết. Đau choáng váng, ngất ngư dật dờ bởi thứ men chết dậy lên hừng hực như nắng sáng. 

Pháo vẫn còn rơi ở phía trái con đường, rơi từng ba quả một, từ vùng Tây Bắc đến, người lính Công Binh vẫn từ từ cho xe ủi “người,” tôi vẫn lặng lẽ hút những hơi thuốc đắng. Nếu pháo nổ ở đây thêm hai xác người nữa thì có là bao !Không gì lạ nếu tôi và người lính Công Binh này chết. Chẳng có nghĩa gì khi thêm hai đầu lâu mới, bốn cánh tay, bốn bàn chân và ít ruột gan rơi rớt đẫm máu văng trên mặt nhựa này . . . Đúng như thế vì những đầu kia, tay nọ chắc cũng đã qua một lần rung động, cũng có qua một vết kỷ niệm, một đời nồng nàn ước vọng, sung sướng và hạnh phúc. Bây giờ còn gì nữa đâu trong chiếc sọ đen nâu dính chút thịt nhão nát và lọn tóc khô rối rắm. Người đàn bà, sinh vật đã một lần yêu quý, đã một lần thiên đàng rực sáng của tình yêu, là hạnh phúc mầu nhiệm của người mẹ . . . Còn gì đâu trong chiếc sọ nồng thối lăn lóc nọ ?. . . Hết nơi cho Người, hết thật. Lọt vào 9 cây số này con người đã hoàn toàn tận diệt, sinh vật người hoàn toàn tận diệt. Hết, một chữ ngắn gọn để diễn tả cơn tan vỡ cùng cực . . . Chỉ còn được mỗi chữ này.

Chương 16

Cảm Giác Lạ

http://www.tvvn.org/forum/showwiki.php?title=Chapter:M%C3%B9a_H%C3%A8_%C4%90%E1%BB%8F_L%E1%BB%ADa_-_Ch%C6%B0%C6%A1ng_16_-_Phan_Nh%E1%BA%ADt_Nam

Xe ra khỏi, không, phải nói rằng đó chỉ là cảm giác tự đánh lừa mình, vì không ai có thể ra khỏi được nỗi chết trùng vây kín. Đến La Vang thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính tòa, nơi bạn tôi, Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, tôi đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã đốt cháy hết loài người. 

Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một – Tôi muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Tôi vừa phạm tội, tôi được sống. Phải, tôi có cảm giác như chính mình vừa giết người và dành quyền được sống, chính bàn tay này vừa tham dự vào trò tàn khốc… Tôi nghĩ lộn xộn điều này nối lấy điều kia, hổ thẹn, uất ức, giận hờn, đau đớn và… vô tri giác. Tôi muốn “chửi” Tướng Giai. Dù có bị thôi thúc, ép buộc từ một chiến lược nào đó ông ta cũng không thể bỏ Quảng Trị trong bất thần để đến nỗi 9 cây số đường kia phủ thịt người. Tôi cũng muốn chửi Bắc Quân. Dù luật chiến đấu là phải thắng, nhưng ai nỡ bóp cò để B40, B41, 75 ly sơn pháo, từ trên những cao độ của Xuân Lâm, TrườngPhước, Trường Thọ (những tên gọi sao cay đắng) nổ vào những “mục tiêu” xao xác – Đoàn người chạy loạn. Thắng trận ở đâu khi những mục tiêu đau đớn đó ngã xuống ? Tội nghiệp, những người lính của Đại Đội 3 Quân Y còn tưởng đến giá trị của chiếc cờ trắng Chữ Thập Đỏ nên đã trương lá cờ thụ động vô nghĩa để băng qua sự chết. Bắc quân, hình như anh đã không có tình người, cạn tình người. Anh giải phóng cho ai khi đi giết con người ? Tôi muốn hỏi điều đó, hỏi vang vang, hỏi bằng tiếng thét đến vỡ cổ, bật máu, tôi muốn hỏi tại sao Người giết Người tỉnh táo và tàn tệ đến thế kia?… Từ nơi đặt súng đến “mục tiêu” không quá 1 cây số và gần nhất dưới 50 thước, anh không nghe tiếng thét khi Người chết sao ? Tôi muốn hỏi người lính miền Bắc với hết cả thống hận trong lòng. Căm thù nào trên người đàn bà tóc rối bế con chạy xôn xao giữa giòng người tan nát? Tôi muốn hỏi, hỏi ngàn lần, hỏi vạn lần người mang danh hiệu là lính của Quân Đội Nhân Dân. Nhân Dân để gọi những ai ? Tôi muốn hỏi một triệu triệu lần bằng tiếng thét vô hình nổ bùng trong đầu óc khi ngồi giữa cánh đồng trống. 

Muốn cào mặt, đấm ngực, cắt da để máu chảy thành giòng, để nhìn thấy mình cũng “được” đau đớn, chia sẻ. Tôi bất mãn với chính tôi trong trạng thái ù lỳ vô tri khi giương mắt nhìn rõ chiếc sọ người tóc rối. Phải, tôi cũng muốn chửi cả chính tôi, thật sự như thế… Tôi cũng có tội, tôi cũng có tội đấy, trời ơi!!

Đi vòng vòng ở sân của Vương Cung Thánh Đường, nhìn tượng thiên thần, tượng Đức Mẹ, cây dương liễu cháy xám… Những cảnh sắc và nơi chốn này đối với tôi là kỷ niệm không phôi phai, nhưng bây giờ sau khiqua 9 cây số chết, lòng cứng, não trơ, tôi đi xiêu vẹo ngả nghiêng trong lòng nắng và gió nồng… Ngửi và thấy toàn người chết. Trí óc không nghĩ được cái gì hơn… Đi qua ngôi nhà xưa khi mùa đông 66, 67, tôi, Thừa, Hổ và anh Bảo ngồi ghếch chân lên gốc cây thông uống bia đá. Trời lạnh nhưng cũng phải uống nước đá, chúng tôi vừa ở núi, nơi đầu sông Thạch Hãn rút ra, 15 ngày trong đó… Bây giờ những bạn xưa đã chết, tôi thì đang bị vây khốn trong một trời thống khổ, làm cái gì đây? Còn gác chuông của nhà ông Trùm họ đạo: Tôi nhớ căn nhà này có một cô gái, Hổ đã trêu ghẹo cô ta một câu trước khi rút quân đi, Hổ chết đầu Xuân 68, cô gái bây giờ ở đâu? Hay cũng đã chết tan trong một vùng lửa đạn. Bước qua gạch ngói của căn nhà đổ nát, tôi đến gác chuông kéo sợi dây, hai quả chuông quá nặng, phải kéo bằng cả hai tay … Kính… coong… Tiếng chuông âm u vang động; vang vào trong núi không nhỉ ? Nơi đây là một bình nguyên trùng điệp và Trường sơn bao vây nơi xa… Vắng vẻ quá! Tôi nói thật lớn cho chính mình nghe. Chẳng biết nên làm gì ?Giật dây chuông thêm một lần nữa… 

Về theo chuyến tản thương, người thương binh nặng nhất chốc chốc ứa chút máu hồng, bên cạnh, gã tù binh bị thương nằm mê man… 

– Tụi này cứng cổ lắm, bị thương nó nằm lì để bắt mình vác đi, đ.. m.. nó lại được nằm băng ca trong khi tui phải bò bằng cùi chỏ !! Anh lính bị thương hai chân ngồi dựa thành xe chửa đổng… 

– Thôi, mình khá hơn tụi nó là chỗ này, lỡ cứu nó, cứu cho trót. 

Tôi tìm đường nói cho anh lính khuây khỏa, quả tình cũng không tin được lời nói của mình. Vì khi đi ngang căn nhà ở cạnh trụ sở xã Hải Lâm, nhìn cảnh người đàn bà ngồi “tước” từng sợi thịt ra khỏi xương người chồng. Người vợ ngồi kẹp đầu giữa hai gối, tước từng sợi thịt đã nâu đen nhão nát trên xương ống tay và chân… Bà ta dùng bàn tay “xoa” lên trên lớp xương sọ, vừa để đuổi kiến vừa để tẩy phần da ươn ướt mòng dính vào khối xương mũi, động tác bình thản thân ái như người vợ trong khi âu yếm tay lên mặt chồng. Ôn ơi là Ôn ơi!! Tiếng khóc nhức nhối than van gầm gừ trong cổ họng như đánh nhịp khi người vợ “nắm” đầu người chồng lên bằng hai ngón tay thọc vào ổ mắt “rảy” cho hết kiến !Tôi biết gã tù binh nghe nhưng cố lờ, gã ngủ trên suốt đường di tản mặt bạnh ra khiêu khích. Người lính của ta có thù hận một chút cũng không sao. Có điều không công bằng giữa hai phe lâm chiến, lính ta đánh giặc không thù hận, tôi biết điều này vì tôi cũng là một lính tác chiến. 

Trên xe ra phi trường nghe câu chuyện của hai vợ chồng già quá giang ở băng sau, tôi chợt khám phá ra mọt điều : Dân chúng vùng Thừa Thiên, Quảng Trị đã sửa soạn đón chờ tàn khốc qua tiếng nói. Họ không nói, nhưng than vãn, kể lể, rên xiết. Nỗi oan khiên vô hình chập chùng trên mỗi âm, mỗi chữ, cách lên xuống của từng câu. Không nói quá đáng, từ lâu, đã cảm thấy nhưng chưa kiểm chứng cho đến hôm nay ba tháng mười ngày, lại một số lượng thời gian bí nhiệm mà người Trung cứ mãi nhắc tới, tức là 100 ngày của trận chiến cuối mùa, 3 mặt trận: An Lộc, Kontum, trị Thiên đều cùng có một mẫu số chung: Dân Trị Thiên là nạn nhân đa số. Vì dân cạo mủ ở an Lộc, người dinh điền ở Kontum cũng là những di dân Quảng Trị. Thậm chí ở chiến trường Bình Giả, số lớn nạn nhân cũng không ai ngoài những người dân vừa mới di cư từ Cam Lộ, Khe Sanh vào… Thôi đó là tai ương tiền định, Trị Thiên còn là Câu Ô, xứ sở của người Chàm mà người Trung gọi là Hời. Âm thanh sao nghe qua thê thiết, oán hờn, rồi lại còn giọng hò nữa… Ai đã đứng ở bờ sông Bồ (chảy qua An Lỗ) sông Thư Rơi (Mỹ Chánh), sông Hương nghe giọng hò cất lên từ những khoang đò khi chiều vào tối mới hiểu được vì sao có những quê hương cứ mãi tàn tạ, oán hờn… Định mệnh đã xếp đặt thế. Chì còn lời này để an ủi kiếp đắng cay.

4487  Stanley Karnow, Vietnam, trang 641 được nêu ra trong tài liệu của James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Publications, 1984, trang 197.

4488  San Francisco Chronicle, 4 tháng 8 năm 1972.

4489  Các cuộc phỏng vấn Rand Vietnam Interviews, Loạt AG, Số 573, trang 3, được nêu ra trong sách của Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”,18-20 tháng 4 năm 1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

4490  Nguyễn cao Kỳ, How We lost…, trang 153.

4491  “Land Reform and Refugee Resettlement – aid Successes in South Viet-Nam”, Bộ  Ngoại Giao Hoa Kỳ, Tháng 7 năm 1974.

4492  7/20/72, 13:00 GMT.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #145”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #145 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: