Roger Canfield’s Americong #172

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 172

Bọn IPC Đánh Phủ Đầu VNCH

 

Cái Chính Phủ Cảnh Sát Trị VNCH

Vào thu 1973 thì tương lai miền Nam Việt Nam đã rất là ảm đạm.

Hòa ước Ba-lê thì đã hợp pháp hóa sự có mặt của số 165.000 bộ đội và cả hàng ngàn chính trị viên Bắc cộng ngay trong các vùng đất chúng đã chiếm được nằm ngay trong nội địa lãnh thổ của Nam Việt Nam. Dĩ nhiên, Mỹ đã không còn dính líu tới cuộc chiến nữa. Và tất cả quân nhân Mỹ đều đã về tới nhà và mọi tù binh từng được xác nhận là còn sống thì đều đã được tuyên bố là đã trở về nhà rồi. Đã không còn gọi quân dịch để cung cấp thêm binh lính. Quôc Hội đã cắt bỏ mọi kinh phí và xé nát các quyền hạn của Hành Pháp.

Việc này đã không hề thỏa mãn được cái bọn Jane Fonda, Tom Hayden, Bill Ayers, Bernardine Dohrn cùng đám đồng chí trong các tổ chức như VVAW, PCPJ, CALC mà vẫn từng lâu nay không phải là chỉ chủ trương một giải pháp hòa bình mà phải là một chiến thắng tối hậu của Cộng sản để áp đặt trên người đồng minh bị Mỹ  bỏ rơi là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Trong cuối tháng 9 và tháng 10 thì IPC của Tom và Jane bèn tổ chức một vòng đi trót lọt xuyên 19 thành phố để “hát ca, chiều ‘slides’, trổ tài hùng biện, phát truyền đơn và vòng đeo tay” 4962  với sự hỗ trợ của mấy đám Holly Near, VVAW và cựu tù binh của “Ủy ban Hòa bình” như là Al Riate, Bob Chenoweth và George Smith. Chúng bày đặt nói về con số 200.000 tù chính trị hiện đang sống trong điều kiện khủng khiếp và kêu gọi cắt tất cả viện trợ cho Thiệu. Chenoweth thì cương quyết khẳng định là tù binh Hoa Kỳ đã không hề bao giờ bị ngược đãi. Chỉ có tù của chế độ Sài Gòn thì mới đã bị ngược đãi mà thôi. 4963

Tại Đại học Georgetown, đã có một người đứng lên và trước khi đặt câu hỏi, đã tuyên bố là 30 triệu tù chính trị ở Liên Xô cũng có thể được so sánh với số lượng nhỏ trong cái gọi là nhà nước cảnh sát trị Nam Việt Nam. Cử tọa đông đảo tại Đại học Georgetown, một môi trường chính để CIA tuyển mộ nhân viên, bèn la ó đuổi y đi. Hayden thì tuyên bố là các cáo buộc về sự tàn ác của Bắc cộng đều toàn là “giả tạo”  4964 cũng y như mọi hình ảnh của vợ y mà nay là Jane Fonda luôn sẳn sàng quỳ gối xuống để tôn thờ chủ nghĩa cộng sản (cho dù mọi lần đều cũng đã được công khai chứng kiến ​​và có được thu hình ghi lại).

“Tôi sẽ chất đầy xe … toàn chất nổ”

Tại một lần dừng chân ở Madison thì tay lãnh tụ từng chủ trương tự do ngôn luận tại Berkeley là Mario Savio đã kể lại là bọn cấp tiến Wisconsin đã ráng  tranh thủ để Tom và Jane chấp thuận lý tưởng của Karl Armstrong, tên tội phạm còn đang ở trong tù về tội đã đặt bom Trung tâm Toán Học của Quân đội tại Đại học Wisconsin, mà đã giết chết mất sinh viên Robert Fassnacht.

Tay không ngừng nâng ly rượu Scotch lên uống và cũng không ngừng đốt thuốc để hút, Tom bèn từ chối và tuyên bố,

Quần chúng sẽ không thể nào chia xẻ được lập trường chính trị của các bạn. … Khi mọi người mà chấp nhận được các vụ đặt bom cho nổ  thì chính tôi sẽ là người đầu tiên chất đầy thuốc nổ lên xe để lái tới vào một tòa nhà nào đó … Tôi không đùa đâu và các bạn có thể lặp lại tuyên bố này của tôi … 4965

Tên lãnh tụ từng nổi tiếng về “Free Speech Movement ~ Phong Trào Tự do Ngôn luận” tại Berkeley là Mario Savio đã có viết trên tờ Takeover là Hayden đã ráng bảo vệ hình ảnh của Jane Fonda và IPC mà chống lại phong trào. Savio đã lên án cái vị thế một kẻ nổi tiếng của Hayden và thái độ cấp tiến như chơi đùa mà đã từng giúp y “bay chơi toàn thế giới … [và] … và đi từ nơi này đến nơi khác và cứ mổi lần như vậy thì đành đoạn chặt cầu mất đi bỏ mặc mọi người phía sau”.  4966

Sau khi dù Armstrong đã bị kết án trong phiên tòa ngày 15 tháng 10 thì luật sư Wiiliam Kunstler vẫn đã phải lại bắt đầu trong nhiều tuần chất vấn các nhân chứng về những tội phạm của Hoa kỳ ở Việt Nam nhằm biện hộ cho việc đặt bom giết chêt Robert Fassnacht của y . 4967 Vào ngày 27 tháng 10 năm 1973, bọn VVAW đã biểu tình hỗ trợ cho tên đặt bom Armstrong tại tòa án Milwaukee County Court House.

Lúc đó thì Hayden mới trở về sau khi đã họp với bọn đại diện của Hà Nội và Khmer tại Ba-lê trong tuần trước đó, 4968 và đã sẽ đưa phong trào chủ hòa theo một chiều hướng mới rỏ ràng hơn.

Thành Phồ Germantown Đã Giúp Đem Lại Được ‘chiến lược rỏ ràng và … phối hợp”. Bị Đình Lại Trong Một Tuần Lể Trước Khi . . . Ra Quân.

 26 Đến 28 Tháng 10 Năm 1973

Để thu xếp đâu vô đó nhằm “cho thấy rõ ràng và để phát triển một chiến lược chung” trong số hơn cả tá các tổ chức hòa bình, tổ chức Indochina Peace Campaign, IPC (Vận động Hòa Bình cho Đông Dương) đã tổ chức một Hội nghị Kế hoạch Quốc gia về Đông Dương từ ngày 26 đến 28 tháng 10 năm 1973 tại một nhà nguyện nằm trong một trại Methodist ở Germantown, bên ngoài Dayton, Ohio. 4969

Theo lời của Max Friedman, người có tham dự ở đó, thì hội nghị đã bị “trì hoãn trong một tuần để chờ Tom Hayden, Jane Fonda và đồng bọn tham khảo trước với  VC tại Ba-lê và nhận lệnh sẽ phải làm gì. Hayden quả thực đã xác nhận điều này ” (vào thứ Sáu ngày 26 tháng 10). Tổ chức IPC, Tom và Jane đã lên đường xuyên Mỹ từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10, qua Chicago, Austin và Madison. Một tuần trước buổi họp Germantown, bọn IPC đã có gặp đám VC ở Ba-lê. 4970

Thật vậy, Tom Hayden đã có mặt tại Ba-lê để họp với MTGPMN và Bắc cộng và vào ngày 20 tháng 10 năm 1973 thì đã có phỏng vấn Lý Văn Sáu, 4971 một tên đại diện của Việt Cộng và cũng là phát ngôn viên của cái Chính phủ Cách mạng của miền Nam Việt Nam bù nhìn của Hà Nội. 4972  Lý Văn Sáu chỉ thị cho Hayden “Chúng tôi muốn nhắc nhở các người bạn Mỹ của chúng tôi là hãy đừng bỏ rơi chúng tôi trong cuộc kháng chiến trường kỳ này”.  4973 Y bèn chỉ thị cho Tom Hayden là về chính trị thì “cần phải tiếp tục hành động” nhằm để cắt viện trợ cho Thiệu và Lon Nol, để phóng thích số 200.000 tù chính trị và để thi hành Hòa ước Ba-lê, tức là lật đổ chế độ Thiệu. Tên Lý Văn Sáu, tay phát ngôn viên của bọn Việt Cộng mà đã từng vang tiếng với cả muôn ngàn chính sách khủng bố và ám sát, đã tuyên bố chính chế độ Thiệu mới là đã “đốt nhà cữa, cướp bóc tài sản, hãm hiếp phụ nữ, v, v, . . . ” và đã “tra tấn và tàn sát” các tù chính trị.

Lý Văn Sáu cũng đã nhờ Tom Hayden chuyển các hứa hẹn của y cho một cử  tọa Mỹ đông đảo hơn: “Chúng tôi không muốn xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở miền Nam Việt Nam … Chúng tôi không muốn dành độc quyền chính trị ở Nam Việt Nam”. Bọn Việt Cộng chỉ muốn một Nam Việt độc lập và trung lập thôi. Thật vậy, “Chúng tôi sẽ rất vui mừng khi thấy người dân Nam Việt đi bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử tự do”. 4974 Để nhấn mạnh cái thông điệp về hòa bình và tự do này, tên chuyên gia biện hộ cho Hà Nội là Gareth Porter thuộc Indochina Resource Center  (Trung tâm Tài nguyên Đông Dương) cũng đã viết là Hà Nội đã không hề gây hấn mà chỉ bảo vệ các vùng họ đang chiếm đóng mà thôi. 4975

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trả lời bằng cách tuyên bố là quả thật đã có một cuộc tấn công “ma” của cộng sản mà bề ngoài không ai thấy được. Nếu mà  Hà Nội vẫn được ở lại với đầy đủ vũ khí như Hayden và Lý mong muốn thì một chiến thắng cả về chính trị và quân sự của Cộng sản sẽ chỉ là một điều gần như là chắc chắn mà thôi.

Hayden đã đến Germantown, bang Ohio  trể một tuần vào ngày thứ Sáu 26 tháng 10 năm 1973 để mang lại các thông điệp của Hà Nội qua ngõ Ba-lê, mà sẽ trở thành các chỉ thị hành động trong tương lai cho phong trào chủ hòa Mỹ mãi đến cuộc thất trận cuối cùng của miền Nam Việt Nam.

Khoảng 200 đại biểu từ 15 tổ chức đã đến tham dự tại Germantown mà đa số đều chính là đám cực tả: America Friends Service Committee, Clergy And Laity Concerned, Women Strike for Peace, Women’s International League for Peace and Freedom, War Resisters League, Vietnam Veterans Against the War, People’s Coalition for Peace and Justice, Fellowship of Reconciliation, SANE, Episcopal Peace Fellowship. Đa số đều là những nhóm thuộc các hội nhà thờ. 4976

Một số tổ chức khác thì đến để nhằm thi hành một vài vai trò chuyên môn nào đó hay để đại diện cho các quyền lợi đặc biệt như Medical Aid for Indochina của Bill Zimmerman,  Indochina Resource Center, Indochina Mobile [chuồng cọp] Education Project của Don Luce, Committee to Free South Vietnamese Prisoners from Detention, Torture and Death  4977  và cái tổ chức nhỏ nhưng lại đầy tính biểu tượng là Union of Vietnamese in the U.S.A (Liên Hiệp Việt Kiều tại Mỹ).  4978

Vận Động Hành Lang Tại Quốc Hội Cho Các Mặt Trận Thuộc Các Giáo Hội Được Hưởng Quy Chế MiểnThuế

Cùng lúc, các nhóm sau đây đã được công nhận cho được hưởng quy chế miễn thuế là United Methodist Church, Board of Christian Social Concern, United Church of Christ, Council for Christian Social Action; và Giáo hội United Presbyterian Church, Board of Chistian Education đã thành lập và tài trợ cho Indochina Education Council.  4979 Lần lượt thì cái Hội đồng này cũng  đã tài trợ cho dự án Indochina Mobile Education Project (Don Luce), Project Air War (Fred Branfman) và cái trung tâm đưọc miển thuế là Indochina Resource Center. 4980  Bọn IRC đã vẫn xúc tiến vận động Quốc hội một cách bất hợp pháp mặc dù đã đang bị yêu cầu phải cung cấp tài liệu hồ sơ lưu trử cho Ủy ban Hạ viện Về các Đề mục quốc tế (House Committee on International Affairs). 4981

Cái Hội đồng Board of Church and Society of the United Methodist Church với quy chế miển thuế đã đứng ra như là một mặt trận công khai để làm nguồn cung cấp tiền bạc chính yếu cho bọn gián điệp của Hà Nội trong tổ chức United Campaign to End the War and the United Campaign to Honor the Peace Treaty  và tổ chức tiếp nối là Coalition for a New Foreign Policy.  4982 Stewart Mott, tên thừa kế của công ty General Motors, đã sử dụng đám ‘Methodist’ để rửa 90.000 đô cho Liên minh Coalition to Stop Funding the War. 4983

Tụi AFSC / NARMIC đã từng cộng tác chặt chẻ với IPC nhân những lần tổ chức hội họp, từng dùng chung nhân viên văn phòng cũng như là ban khảo cứu của Indochina Resource Center  4984  với mấy tên Don Luce, David Marr, Gareth Porter, Mike Klare, và Fred Branfman. 4985  Chúng ta có biết được tên tuổi của một số cá nhân từng tham dự hội nghị Germantown qua các tài liệu liệt kê danh sách những  tham dự viên trong số hai mươi nhóm hội thảo vào ngày 27. 4986

Trong số các tổ chức và đám đại diện đáng chú ý nhất thì đã là: WSP, Trudi Young; Indochina Peace Campaign, Tom Hayden, Susan Wind, Marianne Schneller, Steve Cagan, 4987 Ira Arlook, Nina Mohit; gián điệp của bọn Khmer Đỏ Sokum Hing 4988 Allen Imbarrato; Chicago Seven, John Froines; NARMIC, Merlin Rainwater; Indochina Resource Center, Fred Branfman, G.C. Hildebrand, Bill Goodfellow; AFSC John McAuliff, Gail Pressberg, Jack Malinoski, Từ Anh Lô; WILPF, Roland và Paula Westerlund, Beatrice Pearson, Rosalie Riechman; Medical Aid for Indochina, Bill Zimmerman; 4989 Liên Hiệp Việt Kiều tại Mỹ, Trần Quốc Hưng. 4990

Cũng tại hội nghị này vào cuối tháng 10 năm 1973, một nhánh  trước đó nguyên thuộc IPC mà đã từng được thành lập vào cuối năm 1972 với tên gọi là Coalition to Stop Funding the War (Liên minh để Ngăn chặn Tài trợ Chiến tranh) bèn đổi tên thành United Campaign for Peace in Germantown (Liên Chiến dịch vì Hòa bình ở Germantown) và sau đó thì lại đổi nữa để thành United Campaign to End the War and the United Campaign to Honor the Peace Treaty. 4991

 Sau chuyến đi của Hayden đến Ba-lê để nói chuyện với Việt cộng, tổ chức IPC mà từng đã được thành lập với một mục tiêu rỏ ràng, nay đâm ra theo đuổi vô số là mục tiêu, và đã trở thành một chiến dịch chính trị với chiến lược rỏ ràng cùng với những mục tiêu chiến thuật khá cụ thể. Các chiến thuật đó đều đã được nghiên cứu để chỉ nhằm đạt cho được một chiến thắng của cộng sản tại Việt Nam mà thôi.  

Trước cuộc họp ở Ba-lê, một tài liệu về chiến lược của IPC ghi ngày 7 tháng 10 đã có ghi cả một danh sách dài những dề mục chúng cần phải điều chỉnh như là mục tài trợ chiến tranh, tù chính trị, ân xá, viện trợ y tế và lập kế hoạch đối phó khi có khủng hoảng. 4992 Cái tài liệu tiền hội nghị được đúc kết và gần như chắc chắn là đã được soạn thảo tại Ba-lê. Nó đã tập trung “rõ ràng” vào một vấn đề tử yếu duy nhất là vụ tù chính trị và một mục tiêu duy nhất được nhắm đến đã là các dân biểu Quốc hội  trong các tiểu bang. IPC tuyên bố Nam Việt Nam đã có cho tới 200.000 tù chính trị mà rất nhiều người bị giam trong những cái chuồng cọp rất ư là vô nhân đạo, và cũng đã khiến có cho tới sáu triệu người tị nạn. Bộ sậu IPC – Hà Nội đã từng cứ khăng khăng la lối ỏm tỏi về cái cáo buộc dối trá này cả 10 năm thì nay, theo đúng một kế hoạch chính trị, sẽ cứ tiếp tục như vậy trong suốt cả hai năm nữa. Nếu được mọi người tin thì câu chuyện này sẽ làm suy suyển  tính hợp pháp của chính quyền VNCH và giúp dễ dàng hơn để thuyết phục một Quốc Hội hậu Watergate rất ư là cả tin hầu cắt đứt viện trợ còn lại cho Nam Việt Nam và Campuchia.

Việc cáo buộc là tù chính trị bị đối xữ nghiệt ngã đã là một vấn đề đạo đức rất quan trọng đối với người Mỹ mà đã không hề bị tranh cải lại hay giãi tỏa đi. Thêm vào đó, còn có hai đòi hỏi khác không hề được ghi xuống tài liệu ngày 7 tháng 10 là việc bồi thường chiến tranh và việc thiết lập một “chính phủ hòa giải dân tộc”, 4993 mà đã là các điều kiện trong hòa ước Ba-lê từng dâng hiến cho Hà Nội mọi thành quả của một chiến thắng toàn vẹn, vừa phá hoại Thiệu về phương diện chính trị mà cũng là cả một sự cướp bóc tàn tệ kẻ đã thua trận rồi. October Pledge to End the War (Cam kết Tháng 10 Chấm dứt Chiến tranh) nay được thay bằng Indochina Peace Pledge (Cam kết Hòa bình Đông Dương). Tất cả mọi quy định được minh định “rõ ràng” ở Germantown đều chỉ là những chủ đề tuyên truyền chính cống của Bắc cộng, 4994 bọn IPC đã từng nhận được chỉ thị phải tận tình làm sáng tỏ, phải sử dụng cùng phối hợp trong môi hành động.

Bọn IPC bèn chuẩn bị một chiến dịch cơ sở rất tinh vi tại các tiểu bang chủ chốt và các khu vực bầu Quốc hội để gây áp lực địa phương vào các thượng nghị sĩ và các dân biểu Hoa Kỳ phải bỏ phiếu cắt đứt viện trợ cho Thiệu. Geoffrey Pope tại Atlanta cho biết, chúng sẽ “phân tích căn kẻ để làm sao mà thực hiện việc này cho thật đúng với ý nghĩa của nó”. 4995  Với loại chiến thuật mà khã dỉ đa số người Mỹ thưoơng chịu chấp nhận thì nay chúng sẽ tập trung vào Quốc hội.

Từ Sài Gòn, Đại sứ Graham Martin bèn yêu cầu Dân Biểu Ron Dellums cho vào Hồ sơ Lưu Trử Quốc hội cái “cẩm nang” đó và Dellums đã thực hiện theo đó vào ngày  31 tháng 10 năm 1973. 4996 Kế hoạch này sau đó đã được phổ biến rỏ ràng với các chi tiết chiến thuật trên văn bản Organizers Guide For the United Campaign to Honor the Peace Agreement của IPC đề ngày 9 tháng 2 năm 1974, một tài liệu mà đã thể hiện tới một mức độ cao về một khả năng chính trị rất ư là chuyên nghiệp. 4997 Đó cũng chính là những gì Hà Nội muốn – một chiến lược rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng.

Indochina Resource Center (Trung tâm Tài nguyên Đông Dương) cùng IPC xuất bản những truyền đơn vá các thơ ngõ làm mẫu để tất cả các nhóm liên kết với chiến dịch cùng nhau sử dụng.

Liên lạc viên quốc gia với các địa phương đã là Karen Nussbaum (Boston), Ira Arlook (Cleveland) và ngay chính cả cái Trung tâm Tài nguyên IPC của Tom Hayden và Carol Kurtz. Các tên IPC thường xuyên đi khắp đó đây toàn nước đã được “tài trợ bởi toàn quốc” để đi đến các khu vực, các tiểu bang và các khu vực bầu cử Quốc hội, nơi mà chúng sẽ có khã năng hoạt động tốt nhất. Các địa chỉ liên lạc Tiểu bang của IPC đã là: New York, Suzanne Ross; New Jersey, Eldridge; Pennsylvania, David Hughes; Ohio, Jay Westbrook; Michigan, John R, Illinois; GARDELS-Culran; Texas, Dan Thibodeau; Arizona, Nina Mohit; Oregon, Brunner và Willens và California, Ren Mabey với Shari Whitehead. Tại Washington thì bọn IPC đã có một tay vận động hành lang làm việc toàn giờ là Larry Levin mà đã được cho phép sử dụng một phòng họp trong các văn phòng của Dân Biểu Ron Dellums (Dân chủ – California).

Tại điện Capitol, Tom và Jane đã có tới 60 phụ tá và cũng tuyển dụng 25 nhân viên làm việc cho một cái gọi là Ủy ban Điều Hợp Điện Capitol. 4998  Đó đã chính quả là một thực tế mà người dân nộp thuế đã phải tài trợ cho một chiến dịch chính trị gọi là địch vận của Hà Nội ngay bên trong Hoa Kỳ.

Quay về tiếp tục cuộc đi vòng vòng của IPC, lần này thì Tom và Jane đã có tới cả 20 vệ sĩ mặc áo choàng và có mang cà-vạt đi theo, và đã được trả cho tới độ 1.000 đô cho mổi lần thuyết trình và Tom thì cứ việc tha hồ mà cân đo tiền bạc thu chi trong mỗi lần dừng chân. IPC bèn giới thiệu cái dự án giáo dục lưu động nổi tiếng của Don Luce về những cái “chuồng cọp”. Nhân một buổi nói chuyện của Hayden / IPC về cái chủ đề mà Hà Nội từng đã chuẫn phê là tù chính trị tại Đại học Missouri ở Kansas City, đám đồng tài trợ cho vụ này đã National Lawyers Guild, Vietnam Veterans, Young Socialists Alliance, Women’s Liberation Union, United Mexican American Students và đảng CS Mỹ. 4999 Vào tháng 11 thì Jean Pierre Debris cùng André Menras đã tham gia theo cái chương trình đi vòng vòng của IPC này để mô tả các điều kiện sinh sống tại nhà tù Côn Sơn, nào là chật nghẹt, nào là tra tấn, nào là tẩy não. 5000 Chúng tha hồ tường thuật những mẫu chuyện cực kỳ khủng khiếp,  như là phụ nữ đã bị cưởng dâm bằng ống nước và vỏ chai Coca, các tù nhân thì bị còng năm này qua tháng nọ, bị châm điện vô các bộ phận nhạy cảm và bị nhồi dộng vô miệng nào là dầu xe hơi và cả nước xà phòng. 5001

Suốt thu năm 1973 và xuân năm 1974, (trừ giai đoạn có một lần phải đi Bắc Việt nhân một vụ khác), Tom Hayden, Jane Fonda và đoàn tùy tùng cùng đi lưu diễn khắp 40 thành phố trong 10 tới 12 tiểu bang theo đúng chỉ thị về truyên truyền địch vận của Hà Nội ban ra từ Ba-lê và cũng thi hành một chiến dịch chính xác từng được tinh luyện ở đó và Germantown. Tuy là các chương trình của IPC đã được xưng là cây nhà lá vườn, nhưng các chỉ thị từ Trung Ương Cục Miền Nam và biết bao lần tụ họp với  Việt cộng đã cho thấy là sự thật thì lại đã khác hẳn.

Trong khi đó, lập trường từ Hà Nội và của tổ gián điệp của chúng là IPC, đã được công bố ra cùng một lúc trên chính trường quốc tế tại Moscow.

*****

 

4962  Tin Thơ VVAW, không ngày tháng [dạo trước Tháng 9], năm 1973.

4963  FBI, Chicago gởi cho Giám đốc, Chiến dịch Indochina Peace Campaign, IS, 9 tháng 10 năm 1973; “Peace isn’t for every Tom, Bob and Jane”, tin cắt trong báo, Chicago, không ghi ngày tháng.

4964  Meg Rosenfield, “900 Turnout to Hear Fonda, Hayden”, Washington Post, 5 tháng 9 năm 1973.

4965  Mario Savio, “It Happened One Night…”, Takeover,  10-24 tháng 10 năm 1973.

 4966  Như trên.

 4967  “Radical Lawyer Turns Trial of Admitted Bomber Into Circus”, The Pink Sheet,  29 tháng 10 năm 1973.

 4968  Max Friedman, Hội đồng Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay vì điều trần với Chủ tịch Ủy ban House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 403.

 4969   Có các phần nhấn mạnh  trong nguyên bản, IPC, “Indochina: A National Planning Conference, October 26-28, in a camp near Dayton, Ohio, initiated by the Indochina Peace Campaign”, không ngày [Tháng 10 Năm 1973] do Max Friedman cung cấp; Những tài liệu vể hội nghị cũng nằm trong các tài liệu của Jan Waggoner Suter, 1954-1985, MSS-059 tại Trung tâm Ward M. Canaday Center, Đại học University of Toledo. Suter, một sinh viên tốt nghiệp từ Harvard và đã từng là một luật sư chống quân dịch khi nhiệm cách cho tổ chức Toledo Area Council of Churches, 1969-1973.

 4970  Max Friedman nói với Canfield, 5 tháng 6 năm  2008.

 4971  Lý Văn Sáu đã là phát ngôn viên của VC tại bàn Hòa đàm Ba-lê, cũng là một tay viết báo mà cũng là Đại sứ Bắc cộng tại Cu-ba. Politics in Brief, “Cuban hero’s birthday celebrated”, 13 tháng 6 năm 2008. 

Http://english.vietnamnet.vn/politics/2008/06/788292/

 4972  IPC, “Peace Groups Unite on ’74 Plan”, Indochina Focal Point, 16-30 tháng 11 năm 1973, do Max Friedman cung cấp.

 4973  Như trên.

 4974  Tom Hayden, IPC, “A Vietnamese Vision: Interview with Ly Van Sau, ‘Be with Us on the Long March’” trong “Peace Groups Unite on ’74 Plan”,  Indochina Focal Point, 16-30 tháng 11 năm 1973 do Max Friedman cung cấp.

 4975  IPC, “Peace Groups Unite on ’74 Plan”,  Indochina Focal Point, 16-30 tháng 11 năm 1973, do Max Friedman cung cấp.

 4976 Max Friedman, Ủy ban Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho điều trần với Chủ tịch Ủy ban Hạ viện House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 403.

4977  Tổ chức International Committee to Free South Vietnamese Prisoners from Detention, Torture and Death đã trực thuộc AFSC, War Resisters League, Catholic Peace Fellowship and Canadian Council of Churches. Các nguồn tin: Ngăn hồ sơ CCPF 1/13, Các lưu trử về Catholic Peace Fellowship Records, Văn khố Đại học University of Notre Dame Archives, Bộ Sưu tầm Ann Buttrick Collection, Thư viện Đại học University of Toronto Library; Các Lưu trử về War Resisters League, hộp 25, Bộ Sưu tầm DG 040, Bộ Sưu tầm Swarthmore College Peace Collection.

4978  IPC, “Indochina: A National Planning Conference, October 26-28, in a camp near Dayton, Ohio, initiated by the Indochina Peace Campaign”,  không ghi ngày [Tháng 10 Năm 1973];  Tom Hayden, “Cutting Off  Funding for War: the 1973 Indochina Case”, Huffington Post, 20 tháng 3 năm 2007 tại huffingtonpost.com.

4979  Indochina Education Council, tài liệu quảng cáo, không ngày tháng.

4980  Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho điều trần với Chủ tịch Ủy ban Hạ viện House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 403.

4981  Max Friedman nói với Canfield, 26 tháng 11 năm 2008.

4982  Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho điều trần với Chủ tịch Ủy ban Hạ viện House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 403.

4983  Fortune, Số Tháng 3 Năm 1974; được viện dẫn trong tài liệu của Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho điều trần với Chủ tịch Ủy ban Hạ viện House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 405.

4984  Wells, The War Within, trang 567-8 ghi chú 102-3 có nêu ra “Notes from IPC National Meeting, Feb 16-18, 1973 (IPC papers SHSW); Santa Barbara IPC“, “IPC’s Original, Continuing and current goals”, dạo đầu 1973; Hirsch, “Notes on Congressional Pressure”, 31 tháng 7 năm 1973; Trung Tâm IPC Boston/Cambridge Resource Center gởi cho các văn phòng tiểu bang IPC, 15 tháng chạp năm 1972; Tom Hayden, “Cutting Off Funding for War: the 1973 Indochina Case”,  Huffington Post, 20 tháng 3 năm 2007.

4985  SDS và NACLA (Ủy ban American Committee on Latin America). Thuộc một gia đình gốc CS lâu năm. Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng 2 năm 2008. Wells, The War Within , trang 567-8 ghi chú 102-3 có nêu ra “Notes from IPC National Meeting, Feb 16-18, 1973 (IPC papers SHSW); Santa Barbara IPC“, tài liệu gốc của IPC, “Continuing and Current Goals”, dạo đầu 1973; Hirsch, “Notes on Congressional Pressure”, 31 tháng 7 năm 1973;  Trung tâm IPC Boston/Cambridge Resource Center gởi cho các văn phòng tiểu bang  IPC, 15 tháng chạp năm 1972; Tom Hayden, “Cutting Off  Funding for War: the 1973 Indochina Case”,  Huffington Post, 20 tháng 3 năm 2007.

4986  “Workshops for Saturday”, [27 tháng 10 năm 1973] do Max Friedman cung cấp.

4987  Anh (em?) trai của Leslie Cagan. Rick Perloff, “Radical Family Values: The Activism Gene Rarely Skips A Generation. But Even Protesters Kids Insist On Doing Things Their Own Way”, Cleveland Free Times, Bộ 13, Số 38, 11 tháng giêng năm 2006.

4988  Một đại biểu của Mặt Trận Khmer Đỏ, Mặt trận Đoàn kết Quốc gia National United Front.

4989  “Workshops for Saturday”, [27 tháng 10 năm 1973] của Max Friedman cung cấp.

4990  Wells, The War Within , trang 567-8 ghi chú 102-3, có nêu ra trong “Notes from IPC National Meeting, Feb 16-18, 1973 (IPC papers SHSW); Santa Barbara IPC“, Nguyên bản của IPC, “Continuing and current goals”, dạo đầu 1973; Hirsch, “Notes on Congressional Pressure”, 31 tháng 7 năm 1973; Trung Tâm IPC Boston/Cambridge Resource Center gởi cho các văn phòng IPC tiểu bang, 15 tháng chạp năm 1972; Tom Hayden, “Cutting Off Funding for War: the 1973 Indochina Case”, Huffington Post, 20 tháng 3 năm 2007.

4991 IPC, Organizers Guide For the United Campaign to Honor the Peace Agreement, 9 tháng 3 năm 1974; http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1660323/posts

4992  IPC “Proposed Strategy for Action in the Coming Year”,  7 tháng 10 năm 1973 cung cấp bởi Max Friedman.

4993  IPC, “Indochina: A National Planning Conference”, 26-28 tháng 10, tại một địa điểm gần Dayton, Ohio, do Indochina Peace Campaign khởi xướng, không ngày [Tháng 10 Năm 1973].

4994  Các tài liệu vận động của AFSC/NARMIC, “From the New NARMIC slide show”, “THE POST-WAR War”, “Dollars for War, Dollars for Repression” mẫu để mua, NARMIC Publications, Tháng 11/73 tại FBI, FOIA, A, AFSC.

499  IPC, “Peace Groups Unite on ’74 Plan”, Indochina Focal Point, 16-30 tháng 11 năm 1973 do Max Friedman cung cấp.

4996  “Political Prisoners in South Vietnam and the Philippines”, Các phiên điều trần, tiểu ban Subcommittee on Asian and Pacific Affairs thuộc Ủy ban Committee on Foreign Affairs, 1 tháng 5 và 5 tháng 6 năm 1974, trang108.

4997  Chính tác giả cũng đã từng viết và áp dụng những kế hoặch như vậy trong các lần vận động bầu cử như là những sáng kiến về vấn đề đi bỏ phiếu bầu.

4998  Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 74.

4999  Daily World, 1 tháng 11 năm 1973, trang 11.

5000  “Frenchman  interned in Nam speaks on ‘Thieu prisoners’”, Jambar, Đại học Youngstown State University,  2 tháng 11 năm 1973, trang 5; “Peace Campaign Tour in Syracuse”, Peace Newsletter, Syracuse Peace Council, Số Tháng 11 Năm 1973, trang 11.

5001  IPC, “Released Frenchmen Speak: 200,000 in Saigon Jails”, Indochina Bulletin, Số  25, Tháng 4 Năm 1973, trang 1-2, có chen vô trong bản tin của Syracuse Peace Council, Peace Newsletter, Số Tháng 4 Năm 1973, SPC [Số] 682.

 *****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #172”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #172 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: