Roger Canfield’s Americong #17

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 17

 Các Nhóm Đấu Tranh Trên Mặt Trận Thứ Nhì

 Đài  Phát thanh Stateside

 Đầu năm 1966, Steve Fisher và Joe Epstein đã thu băng các chương trình phát thanh của đài họ là “Radio Stateside” tại Los Angeles để cho phát lại từ Đài Hà Nội. 1469  Âm nhạc được xen kẽ với lời kêu gọi quân nhân Mỹ đào ngủ hay trở nên những kẻ phản đối có lương tâm và để liên lạc với Ủy ban Ngày Việt Nam … tại Berkeley.” 1470  Hannah Hà Nội  đã tuyên bố

 Chúng tôi phát đi những băngthu gửi cho chúng tôi từ những người Mỹ phản chiến. Tôi tin rằng đây là những điều hiệu quả nhất . [Chúng tôi]  nghĩ các chương trình phát thanh này đãvài hiệu quả, vì chúng ta thấy được là phong trào phản chiến ở Mỹ đang bành trướng, phát triển và vì vậy chúng tôi nghĩ rằng chương trình phát thanh của chúng tôi làmột hỗ trợ cho phong trào phản chiến này. “  1471

 “Nick” James Rowe, một tù binh chiến tranh bị Việt Cộng bắt mà đã trốn thoát được (để rồi hai mươi năm sau đó bị ám sát bởi Phi Cộng thuộc Quân đội Nhân dân Mới trên đường Timoz Avenue, Quezon City), sau này đã viết :

 Đài phát thanh Giải phóng, “Tiếng nói của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia [Việt Cộng] đã sử dụng các chương trình tuyên truyền của “RadioStateside” … Các bản tin đều được đọc bằng một thứ tiếng Anhnghe được của các tên Mỹmà các hành vi biểu tình … đãlà những hình thức hỗ trợ địch. Chúng tôi đãphải lắng nghe những bình luận gia Mỹ … ca ngợi  các hành động của quân giải phóng. Đài phát thanh Radio Stateside [đã]  … chuẩn bị … và đãgửi cho Mặt trận [Việt Cộng] để sử dụng trong các nỗ lực tuyên truyền chống lại quân đội Mỹ.  1472

Abbie Hoffman sau này sẽ thất bại một nỗ lực tương tự, WPAX.

Chuyền Đi Vòng các Đại Học của Hayden

 Sau chuyến đi  Moscow, Bắc Kinh và Hà Nội vào cuối năm 1965, Hayden đã ngày càng dấn thân và đi thuyết trình chống chiến tranh trong mùa xuân năm 1966.

 Tại Đại học Michigan vào ngày 3 tháng 4 năm 1966, Hayden đã “biện hộ cho những việc cần phải làm để chống hệ thống quân dịch … Y gợi ý là các sinh viên nên xem xét để từ chối điều luật  hoãn dịch [sinh viên]  2-S … và nên khước từ phải qua những thử nghiệm với mục đích chọn lọc kiểm tra.”

Tại trường City College of New York,  vào ngày 13 tháng 5 năm 1966, Hayden đã tuyên bố như vậy nhân một cuộc ngối lỳ để phản đối tại văn phòng của Chủ tịch City College, nơi mà FBI đã báo cáo là y thêm một lần nữa “kêu gọi phản đối hệ thống quân dịch có chọn lọc. ”  1473

Ngày 4 tháng 6 năm 1966, sau khi hoàn thành chuyến đi xuyên lục địa thăm các đại học, Hayden đã tiên đoán sẽ có phản kháng chế độ quân dịch trong các khuôn viên đại học mà có thể “dẫn đến bạo lực ” nếu các ban giám đôc “đàn áp ”  sinh viên.  1474  Hayden đã ngày càng mang âm hưởng của Bettina Aptheker.

Văn Phòng Trung Ương Miền Nam Việt Nam Báo cáo về các Mục Tiêu Tuyên Truyền tại Mỹ

Hà Nội thông báo cho cán bộ ở miền Nam về các hoạt động của họ trong nhân dân Mỹ, có lẽ như là một khích lệ là họ đã không đơn độc trong cuộc đấu tranh.

Ngày 14 tháng 6 năm 1966, Tiểu ban Hoạt động Nước ngoài của Văn phòng Trung ương miền Nam Việt Nam (Central Office South Vietnam – COSVN) trực thuộc Bắc Việt đã phân phối một Báo cáo về Tuyên truyềnNgoại giao  1475  mô tả những nỗ lực tuyên truyền tại Mỹ và ở ngoại quốc: “Động viên nhân dân Mỹ … Chúng tôi luôn luôn … cố gắng để động viên thanh niên, trí thức và các giáo phái để phản đối chiến tranh … ” COSVN ra lệnh cho cán bộ liên lạc trực tiếp với phong trào phản chiến, ” Hãy nỗ lực toàn diện để tranh thủ sự hỗ trợ … tạo thành một mặt trận thống nhất hành động chống lại bọn đế quốc. … Hãy lưu tâm đến nhiệm vụ tuyên truyền. … ”

Nhắm vào Gia Đình các Quân Nhân Mỹ

Bọn Cộng sản cũng ráng liên lạc với các gia đình Mỹ. “[Chúng ]  động viên gia đình các binh sĩ Hoa Kỳ bị gởi đi Việt Nam phải phản đối việc này.”  Và “thúc đẩy thân nhân các người lính hãy khởi động phong trào phản chiến.” Đây là những hành động trực tiếp đánh phá kỷ luật và tinh thần của quân đội Mỹ. 1476

 Quả thật đó là một chiến thuật có giá trị từng được lặp đi lặp lại đối với người Mỹ sau đó. Cindy Sheehan, sáng lập viên  của Gold Star Families đã là mẹ của một Thủy Quân Lục Chiến tử trận ở Iraq mà đã tham gia phong trào phản chiến thì lại  được chú ý tới nhiều hơn là gia đình những người đã quyết định không phản đối. Sheehan và bọn hoạt động viện cho “hòa bình”  đã giúp đở và an ủi một kẻ thù đang muốn chiến thắng về quân sự chứ không chủ trương hòa bình.

Phong Trào Phản Chiến Khuyến Khích Đào Ngũ

Làm đúng y như là thi hành chỉ thị của COSVN, Hayden và những bọn khác đã hành động trực tiếp đánh phá kỷ luật và tinh thần của quân đội Mỹ. Dựa nơi yếu tố là người Mỹ mau quên, Hayden sau đó đã phủ nhận là y từng đã làm bất cứ điều gì để khuyến khích quân đội Mỹ đào ngũ. Ấy vậy, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1966, Hayden đã công khai cổ võ cho, từ việc phản đối quân dịch rồi sang tọa kháng rồi quay sang tích cực chống đối với những tiên liệu hăm dọa sẽ có  bạo động … và ngay sau đó là những chiến dịch phản chiến ngay trong quân đội hiện dịch. Hayden và những bọn khác đã hỗ trợ Fort Hood Defense Committee (do Cộng sản lãnh đạo)  biện hộ cho ba quân nhân đã từ chối đi quân dịch tại Việt Nam. Với những phiên tòa Mặt Trận rất hiếm hoi không gây được tiếng vang nào , chính phủ Mỹ đã không làm gì với bọn đào ngũ  và càng không làm gì với bọn “chủ hòa” mà đang hoạt động nhằm viện trợ và ủng hộ chương trình tuyên truyền của địch chống lại quân đội Mỹ.

Bộ Ba Fort Hood

Ngày 30 tháng 6 năm 1966, bộ ba Fort Hood  – binh nhứt  James Johnson, binh nhì  David Samas và Dennis Mora – đã tổ chức một cuộc họp báo ở New York và đã sử dụng câu bùa chú quen thuộc từ Hà Nội là khước từ phục vụ cho một chiến tranh “bất hợp pháp và vô đạo đức”  tại Việt Nam.

 Bộ ba Fort Hood đã bị kết án 5 năm, đã phải ở tù 2 năm tù và bị sa thải khỏi quân đội với những lý do nhục nhã nhưng lại đã trở thành các biểu tượng của phe cực tả 1477  cũng như phong trào phản chiến.

 Bài  “Ballad” của Pete Seeger dành cho Bộ Ba Fort Hood

 Tên từng bị nhận diện là đảng viên đảng Cộng Sản Mỹ 1478, tay cộng sản xung phong hàng đầu  1479  mà cũng là một tên cách mạng về văn hóa 1480 là Pete Seeger đã viết một bài hát  tựa đề là “Ballad cho Bộ Ba Fort Hood”.

Kế tiếp, binh nhì Jimmy Johnson, kẻ cũng đến từ Harlem,
Người muốnm một luật sư nhưng đành phải rời đại học trước khi tốt nghiệp;
Anh phải có tiền nuôi gia đình, đã làm việc tại một ngân hàng,
Bây giờ
bạn hãy lắng nghe những lời của anh ta và cho tôi biết những gì bạn nghĩ:

“Tôi đã dành rất nhiều thời giờ để đọc và thảo luận về Việt Nam,
“Chính phủ đã
không thành thực nói với chúng ta về chuyện Sài Gòn
“Đã
qúa lâu rồi, tôi từng nghe theo một cách mù quáng, nay tôi phải bày tỏ lập trường.
“Cuộc đấu tranh vì tự do có thể được thực hiện ngay tại đất
nước của chúng ta.” 1481 

Các tù binh chiến tranh Mỹ chắc chắn là đã không được đối xử tử tế hơn là bon Bộ Ba Fort Hood.

Năm Mươi Tù BinhChiến Tranh bị Dẫn DiễnHànhBị Đấm Đá ở Trung Tâm phố Hà-nội – 6 tháng năm 1966

Theo lệnh của Đảng Cộng sản, vào ngày 6 tháng 7 năm 1966, hơn 50 tù binh  Mỹ đã bị bịt mắt, còng tay từng cặp và chở bằng xe tải về trung tâm thành phố  Hà Nội  “để gặp nhân dân Việt Nam”, nơi mà họ phải chịu hình phạt đi giữa đám đèn pha chiếu thẳng mặt, rừng máy ảnh và đám đông điên cuồng.

Các đám đông hai bên lề đã mắng chửi, ném gạch và vỏ chai vào họ. Trong hơn một tiếng đồng hồ, một số người Việt đã vượt qua hàng rào rồi đá, đấm, khạc nhổ và hành hung các tù binh bị còng tay nên vô phương tự vệ trong gần hai dặm đường. Số tù binh bị đánh đập đẫm máu này đã bị “đánh cho răng bị rung rinh, sóng mũi bị gẫy, mắt bị bầm đen”  với quá nhiều vết xưng, vết bầm tím và vết cắt. Những hành động của đám đông hỗn loạn đã làm hư các kế hoạch cho một bộ phim tuyên truyền và một phiên tòa biểu diễn để xử các tội ác chiến tranh ngay tại một sân vận động. Cuộc diễn hành đã bị lên án trên khắp thế giới.  1482

Vào tháng 7 năm 1966, Giám đốc FBI Hoover đã ra lệnh cho các hoạt động ‘túi  đen’ (black bag) nhằm xâm nhập bất hợp pháp vào các cơ sở để lấy tin và băng cớ phải chấm dứt và ông ta tái khẳng định quyết định của mình vào tháng Giêng năm 1967. 1483 Sau đó thì hành vi xâm nhập bât hợp pháp mà không cần chụp ảnh phía trong nhà cùng văn phòng vẫn được tiếp tục để kiểm tra việc ‘theo dõi’ về điện tử của các nơi mà Chưởng lý đã cho phép đặt gài các máy vi-âm – ngay trong cho các phòng, nhưng không được nghe trộm điện thoại.

Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Harry S. Truman và Lyndon B. Johnson 1484  cùng Chưởng lý  J. Howard McGrath, James McGranery, Herbert Brownell, Jr, William Rogers, Robert F. Kennedy và B. Nicholas Katzenbach  1485  đều đã cho phép J. Edgar Hoover được sử dụng máy vi-âm và nghe trộm điện thoại.

Ngay lúc FBI vừa ngưng thì tả phái lại gia tăng tranh đấu chống chiến tranh. Trong mùa hè năm 1966, Văn phòng Quốc gia của SDS đã cho luân lưu thông điệp đề nghị của Bettina Aptheker hầu tổ chức một cuộc Đình công vì Hòa bình Toàn quốc của Sinh viên để Phản đối và cuối cùng, Tom Hayden đã kế tiếp lời kêu gọi của Aptheker bằng kêu gọi gia tăng các chiến thuật tranh đấu cùng với việc chiếm đóng các khuôn viên đại học .

Người dân Mỹ không tin như vậy. Trong tháng 6 năm 1966,  chỉ có 35% người dân Mỹ nghĩ rằng Việt Nam đã là một sai lầm (49% thì không nghỉ như vậy).  1486

Vòng Liên Hoan của Quốc tế Cộng sản:Geneva và Clear Lake, Iowa.

Cùng lúc Hayden công khai trở thành thân cận hơn với Cộng sản cũng như là dấn thân tranh đấu hơn trong các hoạt động phản chiến thì cánh tả Mỹ cũng vậy.

Lynd bây giờ nhớ lại là vào mùa hè năm 1966,  “Tôi nhận được ra là cái phong trào đẹp đẻ này  … đã hướng về một nơi nào đó mà tôi không muốn đi tới.” Đó là “sự khởi đầu của nổi niềm cô đơn vào cuối những năm 60 và đầu 70.” Mùa hè năm 1966 đó, Lynd đã tham dự một cuộc họp quốc tế ở Geneva. Todd Gitlen viết, “nhưng không khí đã có vẻ rất đáng lo ngại mà cũng có vẻ rất quen thuộc.” Lynd đã ghi nhận, “Đó là vòng liên hoan của Quốc tế Cộng sản.”  1487

Tại Hội nghị Geneva về Giáo Hội và Xã hội do Hội đồng Thế giới của các Giáo Hội (World Council of Churches)  tài trợ năm 1966 thì “Hội nghị đã rất chỉ trích  thái độ tiêu cực của các giáo hội về các thay đổi có tính cách cách mạng và đã kêu gọi các giáo hội cần phải phát triển một đặc tính căn bản của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng.” Do đó, “chiếu theo Hội nghị Geneva, nhân chứng Thiên chúa giáo trong một thế giới cách mạng có nghĩa là hành động có hiệu quả và tích cực cho sự thay đổi của thế giới.” 1488  Một trong những cuộc cách mạng như vậy thì dĩ nhiên là đang xẩy ra tại Việt Nam.

Ngoài việc thi hành theo đúng cách các đồng chí cộng sản móm ý thì sự kiện Lynd đã kịp thời tiết lộ cho phong trào phản chiến thấy  là y sợ cái “vòng liên hoan của Quốc tế Cộng sản” đã lại lộ ra rõ ràng thêm một lần nữa tại hội nghị SDS vào cuối tháng 8 ở Clear Lake, Iowa. John Maher, người mà anh trai là một thành viên của Đảng Lao động nhân dân theo chủ nghĩa Mao (Maoist People’s Labor Party), đã báo động về việc bọn cộng sản đang đi theo đường hướng Sì-ta-lin-nít của đảng Cộng sản Mỹ CPUSA và yêu cầu có kỷ luật trong nội bộ SDS.

Maher đã muốn các thành viên SDS mà bị buộc phải theo kỷ luật của đảng Cộng sản Mỹ CPUSA thì phải công khai tuyên bố chống lại nó. Một quyết nghị của Maher đã bị đánh bại 41 chống  3. 1489  Bettina Aptheker, con gái của người đàn ông từng đề xướng chủ trương của CPUSA do Liên-xô đã tài trợ, đã nói chuyện với giới lãnh đạo SDS và một lần nữa kêu gọi một cuộc đình công của sinh viên cho hòa bình. SDS đã không quyết định. Hayden thì ủng hộ quan điểm phải đình công của Bettina. Bắc Việt thì đã vô cùng hân hoan.

Hà-nội  Công Bố Mặt Trận Thứ Nhì ở Hoa-kỳ, Động Viên Cánh Tả và Quân-đội Mỹ

Ủy ban Điều hơp Quốc gia nhằm Chấm dứt Chiến tranh ở Việt Nam (National Coordinating Committee to End the War in Vietnam – NCCEW) đã trở thành cực tả.

Ủy ban đã loan báo có những hoạt động chống chiến tranh trong ngày 4 tháng 7 và ngày 6 tháng 8 năm 1966 (Ngày Hiroshima ). Giống như Tom Hayden, NCCEW ủng hộ các ứng cử viên “hòa bình” Ted Weiss, Robert Scheer (Ramparts) và Herbert Aptheker, CPUSA.  1490  Hayden cũng ủng hộ Paul Jacobs, một ứng cử viên Thượng viện Hoa Kỳ của cả hai đảng Lao động Xã hội   (Socialist Workers Party)  và đảng Hòa Bình và Tự do (Peace and Freedom Party). 1491 Hayden, bắt chước theo Che Guevara, dường như đã đi dự một trong những cuộc biểu tình Jacdob mà đã có mang theo một khẩu súng cạt-bin.  1492

Bên ngoài Tòa Bạch Ốc, vào ngày 6 tháng 8, độ 3.000 người đã mang  cờ Việt Cộng và hô to “LBJ, bao nhiêu trẻ em đã bị ông giết chết hôm nay.” Vào cuối tháng 8, tờ Vietnam Courier tuyên bố, “một lực lượng ghê gớm và đó đã là mặt trận thứ hai chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ.”  1493

Quân Đội Mỹ Thu Lượm Tin Tình Báo và Thảo Kế Hoặch cho Các cuộc Nổi Loạn

 Phó Bộ Trưởng Quốc phòng Cyrus Vance đã ra ​​lệnh cho quân đội Mỹ nghiên cứu sơ đồ các thành phố lớn khã dỉ cho việc dàn quân và để phân tích “các mô hình hoạt động.”  Bây giờ thì ngay Quân đội cũng cảm thấy là phải tự vệ để tránh ” cuộc chiến tranh khã dỉ có thể có đề nhằm lật đổ chính phủ, phá hoại và thậm chí cả du kích chiến. ” Quân đội cũng thu thập tin tình báo về “mối đe dọa ngày càng gia tăng của phong trào phản chiến đầy bạo lực. ”  1494

Đến cuối năm 1967, Chưởng lý Ramsey Clark thành lập một đơn vị để “tận dụng mọi tin tình báo đã có sẵn,”  chủ yếu dựa vào khã năng phản tình báo của quân đội. 1495  Chính quyền Johnson đã ra lệnh, Ramsay Clark đã đồng ý và quân đội đã tiến hành những hoạt động phản gián mà luật pháp đã không cho phép.

Hà-nội Theo Dõi

Hà Nội theo dõi các cuộc bạo loạn ở Mỹ. Vào cuối tháng 8 năm 1967, tờ Vietnam Courier của Bắc Việt chạy bản tin về một cuộc bạo loạn trong thành phố Detroit  (5 ngày bạo loạn, 43 người chết, 1.189 người bị thương và hơn 7000 bị bắt) và lại lần nữa tuyên bố phong trào phản chiến Hoa Kỳ  là “Mặt trận thứ hai chống lại chủ nghĩa đế quốc.”  1496

 Trong khi đó thì số cán bộ Mỹ của Mặt trận thứ hai đã đang được thuyết trình ở Đông Dương.

 *****

 1469  Trongtháng giêng rồi vào ngày 16 tháng 2, 17 tháng 8 năm 1966, các băng thu âm này đã được phát thanh đi bởi đài Radio Hanoi. 

 1470  House Committee on Internal Security, Travel to Hostile Areas (19 và 25 tháng 9 năm 1972), trang 7692.

 1471   Hanoi Hannah http://www.brainyquote.com/quotes/quotes/h/hanoihanna224073.html

1472  Rowe, trang 266 và 293.

1473   Reunion, trang 199-201.

1474   “War Critics Plan Stepped Up Drive.” New York Times, 4 tháng 6 năm 1966.

1475  AIRGRAM, A-579, kèm với tài liệu Việt Cộng ngày 15 tháng 6 năm 1966, Nhiệm sở Sài-gòn gởi cho Bộ Ngoại Giao ngày 4 tháng 4 năm 1967, (Texas Tech University, Vietnam Center Archives), trang 1. Nêu ra trong sách của James Rothrock, Divided We Fall, trang 6-8. 

1476   Như trên

1477   James Johnson và Dennis Mora, “Revolutionary Role of Black & Puerto Rican Workers,” 13 tháng 5 năm 1972, Harlem Institute of Marxist Studies. Công bố trong Daily World, 4 tháng 5 năm 1972.

1478   Báo cáo hàng năm của Ủy ban Committee on Un-American Activities for the Year 1952,  trang 72.

1479   Max Friedman nói với tác giả, 15 tháng 8 năm  2008, chiếu theo: CPUSA and Guardian fundraisers into 90s. 

1480   Howard Husock, “America’s Most Successful Communist, City Journal, mùa hè  2005 tại city-journal.org.

1481   http://www.peteseeger.net/balladforthood.htm

1482   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 195-201; James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà xuất bản Tiếng Mẹ , 1984, trang 152.

1483   http://foia.fbi.gov/foiaindex/adc.htm

1484   Các hồ sơ của Hoover “Possible testimony by Hoover regarding FBI use of electronic listening devices before the U.S. Senate Committee on the Judiciary, Subcommittee on Administrative Practice and Procedure,” 0001 Xấp hồ sơ 129, 21 tháng 12 năm 1965 – 10 tháng giêng năm 1967, http://www.lexisnexis.com/documents/academic/upa_cis/10756_FBIFileHooverOffConfFile.pdf

1485   Các hồ sơ của Hoover, “Microphone Surveillances,” 0101 Xấp hồ sơ 114, 10 tháng 11 năm 1950 – tháng 7 năm 1966, trang 120. http://www.lexisnexis.com/documents/academic/upa_cis/10756_FBIFileHooverOffConfFile.pdf

 1486   Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’s Griffin, 1997, trang 16.

1487   Gitlen, Sixties, trang 261

1488   Paul Ramsey, Who Speaks for the Church? A Critique of the 1966 Geneva Conference on Church and Society, Nashville: Abingdon Press, 1967; T.V. Philip, “Edinburgh to Salvador: Twentieth Century Ecumenical Missiology,”  tôn giáo trên mạng tại  http://www.religion-online.org/showchapter.asp?title=1573&C=1521; World Council of Churches, World Conference on Church and Society, 1966 (báo cáo chính thức), Geneva, WCC, 1967; Norman Goodall (ed.), The Uppsala Report, Geneva, WCC, 1968, trang 7.

1489   Kirkpatrick Sale, SDS…, trang 285-6.

1490  New York Times, 4 tháng 6 năm 1966.

1491 John Feliz, Louis Barnet, Daniel Orr, Network of Networks, Los Angeles: National Foundation to Fight Political Corruption, Inc., 1983, trang 83.

1492   Peter Collier và David Horowitz.

1493   Vietnam Courier, 29 tháng 8 năm 1966.

1494   John P. Finnegan, Military Intelligence, đúc kết bởi Romana Danysh,Army lineage series, Center of Military History, United States Army, Washington, D. C., 1998 Chương 9: Vietnam and Beyond,  trang 155. http://www.history.army.mil/books/Lineage/mi/ch9.htm

1495   Paul Cowan, Nick Egleson và Nat Hentoff, State Secrets: Police Surveillance in America (New York: Holt, Rinehart, and Winston, 1974), trang 14-15.

 1496  Vietnam Courier, 29 tháng 8 năm 1966.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #17”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #17 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: