Roger Canfield’s Americong #66

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

 

Chương 66

Tháng 11 Năm 1969 – Đợt Tuyển Mộ Đầu

Của Các Lữ Đoàn Venceremos

 

Các Liên hệ  và Việc Tài Trợ  Của Cu-ba

Ngay lúc khởi đầu thành lập các Lữ Đoàn Brigades Venceremos, “Sáng kiến, soạn thảo và tổ chức các chuyến đi của những Lữ đoàn Venceremos đều do giới  lãnh đạo SDS phụ trách.” 3137 Từ tháng chạp năm 1968 cho tới tháng 11 năm 1969, Bernardine Dohrn đã rất nhiều lần tiếp xúc với Phái đoàn Cuba tại Liên Hiệp Quốc.

Vấn đề ăn ở của họ ở Cuba sẽ được miễn phí và do chính phủ Cuba đài thọ, 3138  khiến Castro đã phải chi tới khoảng $40.274. 3139

Tuyển Mộ và Tổ Chức Trên Toàn Quốc

Sau khi ăn nằm tại Cuba từ tháng giêng đến tháng 4 năm 1969 để được huấn luyện, 3140 Julie Nichamin và một ủy ban của một văn phòng tại New York đã chia nước Mỹ thành tám khu vực và sau này thành mười lăm khu vực để thực hiện việc tuyển mộ một cách nghiêm túc và có hệ thống nhóm đầu tiên với đầy đủ nhân số của Brigades Venceremos (cuối tháng 11 năm 1969  tới tháng 2 năm 1970).

Lúc ban đầu, bọn lãnh đạo khu vực đã là Nichamin, Diana Oughton, John Butney (nguyên âm) Bruce Goldberg, Brian Murphy, Bill Thomas, Bill Drew, Phoebe Hirsch, Jerry Long. Từ Havana, cơ quan Đảng Cộng sản Cuba là Granma cũng có ghi nhận Arlene Bergman của Phong Trào; Allen Young của Liberation News Service; Jerry Long của Chicago Newsreel; John McAuliff  của Committee of Returned [Peace Corps] Volunteers;  Al Martinent  của La Raza; Dave Dellinger của Liberation magazine; Đảng Black Panther và Revolutionary Union Movement (Liên minh Phong trào cách mạng). 3141

“Hãy tìm người chấp nhận chiến đấu.”

Theo một thành viên SDS từng tham gia, về sau này thì không phải ai cũng xứng đáng để được tuyển vô các nhóm Venceremos :

Tại cuộc họp ở Cuba với Việt Cộng, Văn Ba có nói với chúng tôi: “Khi bạn đi vào thành phố thì ráng tìm những kẻ chiến đấu nhiệt tình nhất chống với cảnh sát. Đó chính sẽ là người mà bạn có thể hàn huyên cả đêm thâu. Đừng để ý tới những tên chỉ lo nói hay ho mà thôi. Hãy tìm các kẻ sẳn sàng chiến đấu.”  3142

Toán đầu tiên của Lữ đoàn Venceremos

Toán đầu tiên của Lữ đoàn Venceremos đã được  tuyển mộ rất kỷ lưỡng, một nhóm gồm 216 người và đã ra đi lần lượt thành ba toán vào các ngày 28 tháng 11,  1 và 5 tháng 12 năm 1969. 3143

Trong số này đã có các thành viên của Weathermen: Nichamin, Pierre Joseph Barthel, Neal Birnbaum, Marianne  Camp, Sonia Helen Dettman, Linda Sue Evans, Laura Ann Obert, Nicholas Britt Riddle, Sheila Marie Ryan, Jeffrey David Sokolow, Mallorie N. Tolles, Robert Greg Wilfong và Donna Jean Willmott.  3144 Ngoài ra còn có Willie Brand và Wendy Yoshimira, 3145 Bert Garskof, 3146  Sandy Pollack, Leslie Cagan. 3147

Sandy Pollack , thành viên  của cả CPUSA, WPC và SDS sẽ phục vụ trong Ủy ban Quốc gia Venceremos (1971-1985), đã giúp thành lập U.S. Peace Council (1979) và đã đi khắp nơi với tư cách là điều hợp viên đoàn kết quốc tế, 3148 đã từng dẫn đầu các cuộc biểu tình quần chúng cổ võ cho việc ngưng nghiên cứu về hạch tâm và cũng ủng hộ cộng sản ở Trung Mỹ trước khi y thị bị chết trong một chuyến bay của hãng hàng không Cu-ba khi bay tới Nicaragua. 3149 Leslie Cagan sẽ lãnh đạo  Mobilization for Survival và các tổ chức kế tiếp, kể cả United for Peace and Justice, nhằm phản đối “cuộc chiến tranh thường trực và việc xây dựng đế quốc” của  Mỹ ở Iraq và những nơi khác.

Những Lời Chúc Mừng Đặc Biệt

Người Cu-ba đã đặc biệt chúc mừng khi họ tới bến tàu:

Mọi người đều đứng trên boong tàu … mặc áo màu cam với phù hiệu Venceremos  Brigada … [và] … đưa  tay nắm chặt chào theo kiểu đoàn kết cách mạng. 3150

Ngay lập tức, họ biết được họ là một đội tiên phong đặc biệt và họ đã đến được một nơi cũng đặc biệt. “Cu-ba [đã] thực là … tươi sáng, sống động và gần kề.” 3151 Họ đi bằng xe buýt tới các vùng xa vắng – một khoản chi phí mà Cu-ba đã phải trả $10.000 cho mổi nhóm.

Đến nơi, viên giám đốc trại khi chào mừng họ đã nói: “vụ thu hoạch đường đã được dành riêng cho nhân dân Việt Nam anh hùng” và để “giúp chống lại sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.” Lữ đoàn lần đầu tiên gặp số Việt cộng tại đó mà đã tặng cho chúng “những chiếc nhẫn làm bằng kim loại của máy bay Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam.” 3152 Rồi cũng được ghi nhận rất là chính thức, “Một số người đến đã nhận được nhẫn làm từ xác B-52 bị bắn hạ trên trời Việt Nam.” Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, địch đã bắn rớt chỉ có 18 chiếc B-52. 3153 Tất cả các chiếc nhẫn đều từng bị trả với máu của các phi hành đoàn Mỹ đã hy sinh.

Sản Xuất Mía Cây Chỉ Là Con Số Không

Thông thường, các thời khóa biểu kéo dài từ 4 đến 10 tuần của họ đều đặc nghẹt nhưng thì giờ dành cho công tác cắt mía cây, hái cam hay dạy trẻ thì lại rất hiếm hoi. Năng xuất cắt mía cây của một thanh niên Mỹ khoẻ mạnh chỉ bằng 16% của một người cắt mía cây Cu-ba, $83 trị giá sản xuất cho cả một thời gian 4 tới 6 tuần, 3154 và ít hơn là ba đô la một ngày – chi phí chỉ đủ để đi xe buýt xuyên Cu-ba. Chi phí chuyên chở, thực phẩm và cư trú là khoảng $ 272, nhân lên cho 216 người. Trừ đi giá trị của mía cây được cắt rồi thì lữ đoàn đã phí tổn cho Castro $40.724. 3155

Tuy nhiên chắc chắn là các nguồn sinh lực của đám Lữ đoàn viên Mỹ cũng đã  làm tăng giá trị được cho các sứ mệnh cách mạng Cộng sản.

Chuẩn Bị Về Tâm Lý

Bọn tham gia đã bị đem bỏ đắm chìm  trong một loại trại lính để bị tẩy não, được huấn luyện quân sự cơ bản, cá tính thì bị phá nát để ý thức tập thể được cơ hội phát triển. Đã liên tục có những cuộc họp tự phê  – da đen phê bình da trắng, phụ nữ phê bình đàn ông, v. v. . .  Cá nhân thì bị chỉ trích về tư tưởng phân biệt chủng tộc, về tính ích kỷ, về việc quá giữ vệ sinh, về việc sử dụng ma túy hay thái độ tư sản. 3156

Bị tổn thương về tâm lý hay ý thức hệ cũng đều hữu ích. Một người đã nói: “Tôi bị cái bịnh chính cống của Mỹ: tự ý thức về giai cấp trung lưu, không có khả năng để cảm nhận.”  3157  Một phúc trình của Chicago SAC gởi cho Giám đốc FBI ghi nhận, “Không còn gì để mà phải nghi ngờ là Cu-ba … đã cung cấp loại huấn luyện kỹ thuật, đã nhồi sọ … và … tạo cảm hứng … để phá hủy cả hệ thống nước Mỹ …” 3158

Giáo dục về chính trị của chúng chỉ nhằm độc tài toàn trị.

Nhồi Sọ Về Cách Mạng

Đã có “những tuần chỉ dẫn, giảng dạy và truyền bá nhồi sọ bởi những tên Cộng sản Cu-ba, Việt Cộng, Bắc Việt  được lựa chọn kỷ càng và một đoàn đại biểu đến từ Liên Xô.” 3159 Tuy mang danh là đến Cu-ba để cắt mía cây, thật ra thì đám Lữ đoàn Venceremos đã được nhồi sọ về tuyên truyền cách mạng và chiến thuật; chúng được thuyết trình bởi những tên thuộc các chế độ Cộng sản đến để chỉ ca ngợi phong trào phản chiến; chúng được cho xem phim về Cách mạng Cu-ba; và lại được tuyên xưng là đội tiên phong của một cuộc cách mạng tại Mỹ. Fidel Castro đã có đến thăm các Lữ đoàn. Một đại diện của Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam đã tuyên bố: “Cu-ba, Việt Nam và quý bạn sẽ chiến thắng.” Jaime Crombet, một tên cộng sản trẻ tuổi nói là y biết người Mỹ bây giờ đã sẵn sàng “để chiến đấu và thay đổi cái xã hội bất công … tại Hoa Kỳ. 3160

Hơn “năm tuần … những cuộc thảo luận kéo dài … Weatherman nhận chỉ thị phải tăng gia trình độ đối đầu ở Mỹ để giúp MTGPQG và Bắc Việt có thể chiến thắng ở Việt Nam.”  3161

FBI thì lại đã nghỉ là chuyến đi chỉ nhằm “đào tạo du kích  theo yêu cầu của một số nhỏ, chứ không phải là ‘những điệp viên để thu lượm tin tình báo Mỹ’ “. 3162

Tinh Vi Về Nghệ Thuật Cầm Quyền: Bọn Khủng Bố. Bọn Tuyên truyền. Bọn Gián điệp.

Hơn xa giá trị của vài bao đường, chương trình Cu-ba nhằm tổ chức đám Brigades Venceremos đã cung ứng được những sản phẩm ngọt ngào nhưng lại không có giá trị về nông nghiệp, đó chính là nghệ thuật cầm quyền tinh vi. Ba sản phẩm của nghệ thuật lãnh đạo đất nước này đã là hàng ngàn tên tuyên truyền, một số lượng gián điệp không rõ là đã có bao nhiêu và một số nôm na nồng cốt tức là bọn khủng bố Weatherman.

Một số đã bí mật đi tới các nước Cộng sản thù địch như Liên Xô, Trung cộng, Bắc Triều Tiên, Bắc Việt và Đông Âu, có lẽ để được đào tạo làm gián điệp. 3163 Bọn khủng bố. Bọn Tuyên truyền. Bọn Gián điệp.

Một số Lữ đoàn viên đã được đào tạo kỹ lưỡng về khủng bố cách mạng – đặt bom, tuyên truyền, gây quỹ, v. v. . . 3164  Sau khi trở về, một số cựu Lữ đoàn viên Venceremos đã trở thành các tên khủng bố mang tính cách mạng. Trong toán đầu, vào năm 1970 thì Willie Brand và Wendy Yoshimira bèn tham gia vào “những vụ đặt bom ngân hàng, phòng thí nghiệm hạt nhân, xe cảnh sát và các mục tiêu chính trị khác.” 3165  Wendy đã là một tên cách mạng và sau đó là tay bạn bí mật của Pattie Hearst đang đào tẩu ở Pennsylvania và San Francisco. 3166  Dĩ nhiên, các cựu Lữ đoàn viên nổi tiếng nhất đã là thành viên của Weathermen Underground  –  Bill Ayers, Kathy Boudin, Bernardine Dohrn, Terry Gold , v. v. . .

Gián Điệp Tình Báo

Ngoài công tác tuyên truyền và khủng bố thực sự, nhiệm vụ khác của Lữ đoàn Venceremos là thu lượm tin tình báo quân sự, chính trị và kinh tế Mỹ cho bộ phận của Cu-ba tương đương với KGB của Liên Xô, tức là DGI. 3167 Cứ theo FBI thì:

Mục tiêu tối hậu của việc DGI tham gia kế hoặch Lữ đoàn Venceremos là để tuyển mộ những kẻ đã có thành kiến chính trị mà một ngày nào đó sẽ có thể có được một chức vụ, bầu cử hay bổ nhiệm, trong Chính phủ Hoa Kỳ mà sẽ có thể cung cấp cho Chính phủ Cu-ba khã năng có được tin tình báo về chính trị, kinh tế  và quân sự. 3168

 

Mật vụ Cu-ba DGI cũng quan tâm đến “các sinh hoạt, cá tính và khuynh hướng chính trị” của các nhóm Mỹ và một vài cá nhân mà sẽ cung cấp được một địa chỉ lien lạc hay một hình thức hỗ trợ nào khác nhằm yểm trợ các hoạt động tình báo ở Mỹ. 3169

Đa số những tên được tuyển dụng cho các hoạt động tình báo đều tình nguyện. 3170 Nhiệm vụ quan trọng nhất của Nichamin đã là phải thiết lập liên lạc với Phái đoàn Cuba, 3171 và có lẻ luôn cả Phái đoàn Việt Cộng. 3172

Tháng giêng năm 1969, Nichamin đã viết chỉ thị cho Bernardine Dohrn, “nếu cần được giúp đỡ về bất kỳ điều gì thì chỉ cần đem thơ này tới Jimenez tại Phái bộ …”.  Jesus Jimenez Escobar, Đệ Nhất Bí thư tại Phái bộ Cu-ba ở Liên Hiệp Quốc, 3173 đã là “móc chính” mà Havana và bọn lãnh tụ da đen cực đoan và các nhóm sinh viên đã dùng để cố vấn, tuyên truyền và hướng dẫn chúng. 3174

Sau các lần gặp gở trong tháng 7, Huỳnh Văn Ba cũng đã giữ liên lạc điện thoại với văn phòng quốc gia Weatherman 3175 do SDS kiểm soát để chuyển các yêu cầu cho Bernardine Dohrn và để thảo luận với Mark Rudd. Rudd có cho Ba biết về một số New Left Notes ngày 29 tháng 8 năm 1969 dày  tám trang tựa là “Việt Nam đã Thắng”. Số này đã được dành riêng cho “Tháng 7 tại Cuba – Mười Điểm và Các Sinh Hoạt tại Cuba”. 3176

Chính Phủ Mỹ Trục Xuất Các Gián Điệp Cu-ba

Tại Liên Hiệp Quốc trong năm 1969, FBI đã có quyết định trừng phạt ba viên chức Cu-ba – rỏ ràng không phải để đánh vào vụ mùa cắt mía cây ở đó mà chính là để dẹp hoạt động tình báo của Cu-ba và Việt cộng ở Mỹ. Vào ngày 10 tháng 2 năm 1969, Jesus Jimenez Escobar đã bị trục xuất khỏi Mỹ.  3177

Cho tới năm 1970 thì đã có hai viên chức – Alberto Boza Hidalgo Gato và Lazaro Eddy Espinosa Bonet bị tuyên bố persona non grata ~ nhân vật bất khã nhận vì “các lý do đã có liên lạc với bọn cực đoan và dính líu tới chất nổ” và suy đoán liên quan đến “một âm mưu chống Tổng thống Nixon …” 3178 Boza có phấn hành kiểm tra duyệt trước đơn xin của du khách muốn tới Cuba và thường xuyên gặp gở bọn Mỹ cực đoan cũng như là đã làm việc với tình báo Liên Xô ở New York. 3179

Tên đầu não DGI chính thức tại Mỹ là Teofilo Acosta đã hoạt động ở New York trong Liên Hợp Quốc (1970-1976) và sau đó tại Washington, DC trong phân bộ Cuban Interest Section. 3180

Liên Xô KGB điều khiển DGI của Cu-ba

Điều quan trọng cần lưu ý là KGB của Liên Xô đã hoàn toàn kiểm soát DGI sau mùa xuân năm 1969. 3181 Vào thời của toán đầu tiên của bọn Venceremos lúc  tháng 11 năm 1969 thì KGB đã thanh lọc ra khỏi DGI tất cả những tên Cu-ba, trong đó kể luôn Cộng sản Cu-ba, mà đã không chịu trung thành với Liên Xô. Bọn Cu-ba đã không còn là những tên cộng sản “độc lập” nữa, chớ chưa nói gì chỉ là những nhà cải cách nông nghiệp và cắt mía cây. Các chuyên gia về chất nổ và chiến tranh du kích của Liên Xô ở Cuba vào thời điểm rất có thể đã là Anton Skylarsky và Tướng Enrico Lister, cả hai đều là cựu chiến binh của các Lữ đoàn Quốc tế tại Tây Ban Nha. 3182 Những Lữ đoàn viên Venceremos mà đã cung cấp tin tình báo cho DGI thì coi như cũng đã phục vụ cho KGB dù chúng có biết hay không đi nữa.

Trong khi bọn Venceremos hỗ trợ các phong trào du kích do Liên Xô / Cuba hậu thuẫn thuộc thế giới thứ ba nhưng thực sự chúng lại chỉ tuân theo đường hướng của Moscow. Venceremos không hề ủng hộ các phong trào tuy Mác-xít  nhưng phi Liên Xô ở châu Phi. Những lữ đoàn kiểu do Liên Xô kiểm soát đó đã có một lịch sử dài ngay tại Tây Ban Nha vào thập niên ba mươi. 3183 Chính ngay cái đám Cộng sản ‘sai lầm’ thì cũng có thể bị biến thành kẻ thù tùy theo ngẫu hứng của các tên cực độc tài như Lê-nin, Sì-ta-lin, Mao, Hồ và Pol Pot.

Bọn Venceremos Đã Đều Là Gián Điệp Cu-ba Của Liên Xô

Các Lữ đoàn Venceremos rõ ràng đều là những gián điệp của Cu-ba Liên Xô. Chúng là những tên tuyên truyền, và một số là những tên khủng bố và nhân viên tình báo. Leonard Boudin, cha đẻ của Kathie Boudin (còn có thêm tên là Janet Patricia Scott, Kay Lavon Kennedy), đã có chế độ Castro như là một thân chủ  về pháp luật và đã ghi danh như là một đại diện chính thức của Chính phủ Cu-ba! 3184 Nếu Katy mà đã chịu yêu cầu được chính thức xác nhận các mối dây liên hệ kinh tài Cu-ba của y thị tại New York và Washington thì chắc chắn chúng cũng đã sẳn sàng đưa các mẫu đơn cho y thị điền để đóng dấy xác nhận rồi. 3185

Một số Lữ đoàn Venceremos đã là hạt nhân của tụi Weathermen khét  tiếng.

Rất sớm, Ban Chấp hành Quốc gia Lữ đoàn Venceremos (năm 1970) đã là Nichamin, Dellinger, Arlene Eisen Bergman, Karen Ashley, Gerald Long và một số khác. 3186 Nichamin, Ashley và Long đều đã là bọn Weathermen. Chỉ có Dellinger là không thuộc nhóm nhưng đã không bao giờ phản đối tình trạng bạo lực mà thỉnh thoảng y vẫn từng cảm thấy quả thật là đáng kinh tởm.

Tiêu Diệt Con Quỷ Đế Quốc Ngay Từ Bên Trong

Để kết thúc chuyến đi vào tháng 11 năm 1969 tới Cu-ba, Julie Nichamin (cũng dùng các tên như Sharon Ann Englander, Kiana Lena DeJulio, Linda S. Peterson, Ruth Ann Powers, Ruth Ellen Powers, Tanjia) đã viết chung một tuyên bố với Bắc Việt và Việt Cộng để gây một ấn tượng đầy bi kịch tính:

Và chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ rời khỏi đây với một quyết chí mới để mang về cho anh chị em chúng tôi; một quyết chí tiêu diệt cái con quái vật đế quốc từ bên trong cũng như phần còn lại của các dân tộc trên thế giới đang phá hủy chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài.

(đã ký) Julie Nichamin, Ủy ban Quốc gia của Lữ đoàn Venceremos. 3187

Cu-ba Tiển Đưa: “Hãy trả giá bằng máu”.

Khi đang trở về Canada từ Cuba trên tàu  Jose A. Echevarría Motor Vessel, Julian Torres-Rizo, tên nhân viên DGI Cu-ba và cũng là cố vấn Venceremos, đã  khuyên các tân lữ đoàn viên mới được đào tạo là “kinh nghiệm cách mạng của các bạn … [giúp] … các bạn … thêm quyết chí tiến hành cuộc đấu tranh, dù cho chúng ta có thể phải trả giá bằng máu”. Y đã nói,” Một nhà cách mạng Hoa Kỳ phải chấp nhận … là mình đến từ một xã hội mà cần phải bị tiêu diệt. ” 3188

Rizo đã kết hôn với một thành viên và cũng là người tổ chức của lữ đoàn từ Chicago, Gail Reed, mà sẽ viết cho Venceremos!, GranmaNew World Review, tiền thân là Soviet Russia Today. 3189

Trong khi đó, những sự kiện mời vừa bị tiết lộ trên đất liền tại Mỹ Lai, Nam Việt đã sớm cung cấp them lúa cho nhà máy tuyên truyền Hà Nội xây nát. Nhiều năm tháng khiếu nại sai sót thì giờ đây dường như đã trở thành quá đúng đối với những người đã luôn luôn sẳn sàng để thù ghét nước Mỹ. Mục tiêu đi tìm các kẻ chịu tin là chính phủ Mỹ thường xuyên thi hành chính sách thiêu sống và diệt chủng đột nhiên trở thành một việc dễ dàng hơn nhiều.

*****

3137  Một báo cáo không phân loại của FBI, trang 16, 18, 19 như được nêu trong  Herald of Freedom,  27 tháng 7 năm 1979, trang  4.

3138  Karen Nussbaum trong New York Post, 10 tháng 8 năm 1970; Allen Young, Liberation News Service, viện dẫn trong 3. (U) US Leftists Recruiting Persons to Work in Cuba tại  speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html.

3139  Adair Cong Record, 24 tháng 2 năm 1970,  trang  H1195.

3140  FBI, FOIA, Weather Underground.  Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 120.

3141  Granma, 10 tháng 8 năm 1969, trang 12.

3142  “Vietnam Supplement,” SDS, New Left Notes, 1969, viện dẫn trong tài liệu của Gannon, Bộ II,  trang 245. 

3143  Adair Cong Record, 24 tháng 2 năm 1970, trang H1195; Chicago Tribune,  28 tháng  11 năm 1969.

3144  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 131; Công bố (thiều Wilfong) Thượng nghị sĩ  Eastland, “The Venceremos Brigade—Agrarians or Anarchists?” Congressional Record, 16 tháng 3 năm 1970, tài liệu S 3758-S3762 trong Phụ Đính B của Hạ viện, Ủy ban  Committee on Internal Security, The Theory and Practice of Communism in 1972 (Venceremos Brigade), Phần  2, Nhiệm kỳ 92, Khóa 2, 16, 18 và 19 tháng 10 năm 1972, trang 8132-34.

3145  Patti Hearst, Patti Hearst: Her Own Story, New York: Avon Books, 1982, trang  305.

3146  Truyền đơn Venceremos Brigade, “The Man Can’t Bust Our Revolution,” công bố buổi thuyết trình vào ngày 7 tháng 2 năm 1970 của “Giáo sư Bert Garskof (Federal City College) thảo luận về chuyến đi Cu-ba mới đây của ông …” Lưu ý là Garskof đã KHÔNG có trong danh sách của tóan đầu tiên mà đã ra đi. 

3147  Thượng nghị sĩ  Eastland, “The Venceremos Brigade—Agrarians or Anarchists?” Congressional Record, 16 tháng 3 năm  1970, hồ sơ S 3758-S3762 trong Phụ Đính B của Hạ viện, Ủy ban  Committee on Internal Security, The Theory and Practice of Communism in 1972 (Venceremos Brigade), Phần  2, Nhiệm kỳ 92, Khóa 2, 16, 18 và 19 tháng 10 năm  1972, trang 8132 của 8130-8134.

3148  Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay vì ra điều trần với Chủ tịch Hạ viện Ủy ban Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Hearings, Committee on Oversight,  12-13 tháng 3 năm  1987, trang 400.

3149  John Rees, Information Digest, 8 tháng 2 năm 1985; “To Cuba with love-Death of Sandy Pollack,” National Review,  8 tháng 3 năm 1985.

3150  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 96.

Hollander, trang 357 ghi chú 26.

3151  Hollander, trang 244 ghi chú 66.

3152  Adair Cong Record,  24 tháng 2 năm 1970, trang H1195.

3153  103fieldbatteryAA.net.

3154  Eastland, trang 7464. Adair Cong Record, 24 tháng 2 năm 1970, trang H1195.

3155  Adair Cong Record, 24 tháng 2 năm 1970, trang H1195.

3156  Hollander, trang 229-230 ghi chú 126.

3157  Hollander, trang 210 ghi chú 105.

3158  Phúc trình SAC Chicago gởi cho Giám đốc, trang 39, 42-42. Đọc thêm: Rothrock, Divided…,  trang 97-98.

3159  Eastland, trang 7465.

3160  Combat, Bộ 2, Số 3, 1 tháng 2 năm  1970.

3161  Ron Jacobs, The Way The Wind Blew: A History Of The Weather Underground, Verso, 1997, trang 28.

3162  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 126; Đọc thêm: Ron Jacobs, The Way The Wind Blew: A History Of The Weather Underground, Verso, 1997, trang 28.

3163  Tài liệu tình báo giải mật của Chính Phủ Mỹ liên quan các tiếp xúc giữa cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Trình bày như là bằng chứng chiếu theo sự thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” tại www.usasurvival.org.

3164  Đọc: Khai trình của Geraldo Peraza, Thượng viện, Tiểu ban Subcommittee on Security and Terrorism, Các Phiên Điều Trần, 26 tháng 2 năm 1982, trang 21-24, viện dẫn trong tài liệu của S. Steven Powell, Covert Cadre, trang 31 ghi chú 18; Eastland, trang 7465; James L. Tyson, Target America: The Influence of Communist Propaganda on U.S. Media, trang 27; Fontain, trang 138 ghi chú 34 nêu ra bởi Passony và Bouchey, trang 82.

3165  Patty Hearst có thể đã lẫn lộn Robert Avakian của đám Venceremos trong khu vực Vịnh San Francisco với bọn Venceremos Brigades của Castro. Cả Brand lẫn Yoshimira đều không có tên trong danh sách của các Lữ đoàn 1 tới 5. Đánh tên sai hay gọi bằng tên giả có thể đã xẩy ra trong các danh sách. 

3166  Xem:  Pattie Hearst.

3167  Bittman, trang 28.

3168   Phúc trình của FBI nêu ra tại Herald of Freedom, 27 tháng 7 năm 1979; Rev. Lobby ; Bittman, trang 28.

3169  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 125.

3170  Fontain, trang 137 ghi chú 29 nêu ra tron phúc trình FBI, Report…Weather Underground…, 20 tháng 8 năm 1976, trang 90, 120 và 126.

3171  Fontain, trang 138 ghi chú 34 viện dẫn Passony và Bouchey, trang 82. Xem thêm: Eastland, trang 7464.

3172  James L. Tyson, Target America: The Influence of Communist Propaganda on U.S. Media, trang 27.

3173  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 390; Tài liệu tình báo giải mật của Chính Phủ Mỹ liên quan các tiếp xúc giữa cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground.

Trình bày như là bằng chứng chiếu theo sự thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 22 tại www.usasurvival.org.

3174  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC THÔI – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 23, Giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

3175  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 96.

3176  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 105.

3177  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 392.

3178  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 nêu ra trong FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 139;

Tài liệu tình báo giải mật của Chính Phủ Mỹ liên quan các tiếp xúc giữa cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Trình bày như là bằng chứng chiếu theo sự thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 22 tại www.usasurvival.org.

3179  Tom Charles Huston, Phúc trình  Đặc biệt Dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC THÔI – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 24, Giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

3180  Xem: Bittman .

 3181 Ashby, trang 58.

3182  Max Friedman, “Behind Terrorism in the U.S.: Castro’s Cuba,” Washington Intelligence Report, Washington: the U.S. Anti-Communist Congress, Inc. Bộ III, Số 10, Tháng 11 năm 1970, trang 3.

3183  Các Lữ đoàn Quốc tế tại Tây-ban-nha dạo cuối thập niên ba mươi đã được giao cho những sứ mệnh rất đặc biệt. Andre Marty, một tên cộng sản Pháp tổng chỉ huy của các Lữ đoàn Quốc tế tại Tây-ban-nha , đã tổ chức bắt cóc và xử tử chiếu theo lệnh trực tiếp của Rô-dép Sì-ta-lin. Xem: John J. Dziak, Chekisty: A History of the KGB, Lexington: Lexington Books, 1988, trang 100; Cũng xem: Utopia in Power ; Bittman.

3184  James L. Tyson, Target America: The Influence of Communist Propaganda on U.S. Media, trang 37.

3185  Về kinh nghiệm Venceremos, đọc: Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 210, 219-20, 227-8 mà đã nêu Sandra Levinson và Carol Brightman, (eds.), Venceremos Brigade: Young American Sharing Life and Work of Revolutionary Cuba, New York: 1971, trang 2, 50, 69, 125-7, 170, 219, 317, 328, 342, 388 và 385.

3186  Dân biểu Larry McDonald Cong. Record, 27 tháng 4 năm 1976, trang  E 2119.

3187  Dân biểu Larry McDonald Cong. Record, 27 tháng 4 năm 1976, trang E 2119; Cũng như Eastland, Cong Rec., trang 7464.

3188  Julian Rizo, “Final Talk to the Contingent,” trong Venceremos Brigade, New York Regional Committee,  “Venceremos Brigade Preparation Course,” không ngày tháng [1974] tại lần diển văn của nhân viên cộng sản Cu-ba DGI  Julian Rizo với bọn Khủng bố  Weather Underground, tại  America’s Survival, Inc  www.usasurvival.org.

3189  Herbert Romerstein, “What Was the Weather Underground,” America’s Survival, trang 11-12. 

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #66”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #66 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: