TS Roger Canfield Tiểu Sử

Tiểu sử của tác giả quyển “Mỹ-cộng . . . “

http://americong.com/?page_id=16

ROGER B. CANFIELD

Nhà văn / Biên tập viên, Nhân viên quảng cáo, Nhà tư vấn về chính trị

Các bản tin báo chí, diển văn, và Quan điểm Xã luận vối tư cách là tùy viên báo chí và cố vấn chính trị cho Thượng nghị sĩ và ứng cử viên Phil Wyman, Giám sát viên và Giám đốc thành phố Bruce Kranz,  Quận Placer và Thành phố Colfax, Ủy ban Thẫm quyền về Nguồn Nước Hoa ký (American River Authority), và Hội đồng đập Auburn. Phó Chủ bút, Tạp chí Quân sự / Military Magazine  (phụ trách hàng tháng từ 6/05-4/06). Chủ bút không thường trực, Tin tức du lịch quốc tế  / International Travel News (Ma-cao, Do thái, Jordan, Phi-luật-tân, Việt Nam và Cam-pu-chia). Tác giả ba kịch bản. Phụ trách bản tin cho AP, Fox, Bee, Băng tần 10, Hannity và O’Reilly (Minuteman). Ấn hành các bài báo trên Sacramento Bee, Sacramento Union, Worldnetdaily, New American, Military, International Travel News, American Thinker.

Nhiếp ảnh gia—International Travel News, Do-thái, Jordan, Phi-luật-tân, Việt-Nam, Kam-pu-chia, Ma-cao.

Chiến dịch Bầu cho Tom McClintock làm Thống đốc, nhân viên trong Ban Tham mưu, tháng 9-tháng 11 năm 2003, tháng 9-tháng 11 năm 2004. Nghiên cứu và viết kế hoạch chuyển tiếp nhiệm kỳ Thống đốc: Tom McClintock. Dự thảo cuốn sách  ‘McClintock của California’. Phân tích dữ liệu thăm dò ý kiến. Nghiên cứu về Vấn đề và Đối lập.

Giám đốc Thông tin Công cộng, tháng 5 năm 2001- tháng 9, 2003. Cục Thuỷ Lợi California, Phòng Giáo dục Dùng nước. Viết bài cho DWR People, DWR News, trang mạng DWR và các bản tin liên quan đến việc kiểm soát lũ lụt, Kế hoặch Cập nhật về nguồn Nước California (Bản tin 16-05), lưu vực sông Klamath, an ninh sau 9/11 . Thỉnh thoảng là Quyền Trưởng Chi nhánh Dịch vụ thông tin và quyền Biên tập viên của dịch vụ tin tức hàng ngày trên mạng Internet – California Water NewsEnergy New. Phụ trách nhiều thông tin sau vụ 9/11 và huấn luyện tại Dịch Vụ Khẩn Cấp của Văn phòng Thống đốc, Sacramento và San Luis Obispo. Hội đồng Khai phá.

Nhà văn tự do . “Đập Auburn: Tương lai của chúng tôi,” Tạp chí Lịch sử Sacramento, “Khủng bố ở khu phố Tàu,” New American; Tác giả của “Đồng chí cùng chiến đấu” , bốn cuốn sách về Búp bê Trung Quốc (750.000 bản in), và Thương nhân Trung Quốc, ( 500.000 ấn bản) Hội đồng Tình báo Mỹ , tháng 6 và tháng 8 năm 2000 (500.000 ấn bản). Xâm chiếm vô hình  (600.000 ấn bản) USIC, tháng 6 năm 2002 và Các con ngựa Thành Troy Trung Quốc: Chiến binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa học Gia và Điệp viên Trung-cộng chiếm đóng quốc nội Hoa-kỳ, Tạp chí Quân sự, tháng chạp năm 2002. Viết cho Viện Bảo tàng Quân đội California. Phổ biến Tin tức và  viết  các bài bình luận độc lập cho Dân Biểu Phil Wyman; hướng dẫn các phái đoàn đi tìm hiểu tại Panama tháng 4 năm năm 2000 và 2001, xuất bản các bản tin về Trung Quốc tại Panama, WorldNetDaily, 23 tháng 4 năm 2000; tổ chức hai cuộc họp báo ở Panama City, Panama (được đăng trên năm ấn phẩm tại Panama), và đã viết ba bản tin cho WorldNetDailyTạp chí quân sự về sự hiện diện của Trung Quốc ở Panama; xuất bản “Trổi dậy lớn tại Panama: Trung Quốc bung ra khỏi chiến lược vòng đai Thái Bình Dương,” Tạp chí quân sự; viết về lịch sử về các nguồn gốc của CNN tuyên bố là Mỹ sử dùng khí độc tại Việt Nam “Tailwind”. Xuất hiện ở  DispatchesWorldNetDaily – CNN đã sa thải các nhà báo có trách nhiệm; đã viết các bài bình luận độc lập trong ba lần, Dự án số 13 và hạn chế về hạn kỳ cho ứng cử viên Quốc hội Phil Wyman; viết báo cáo cho Trung tâm Báo chí Phương Tây về các chất phụ thêm vào xăng MTBE và về các trả lời của cơ quan về hậu quả đối với sức khỏe; viết một báo cáo về các lựa chọn trong chính sách và các hành động chính trị của California AFL-CIO; đã viết một bài báo, New American, về tác động của việc thực thi của Luật về Các Loại bị liệt kê bị diệt chủng liên hệ đến việc bảo trì và sửa chữa đê trong mùa lũ lụt 1990-1997 ở California và dọc theo sông Mississippi, Missouri, Ohio, và sông Hồng.

Ngòi bút chính (Tư vấn Chính), Dân Biểu Scott Baugh, lãnh đạo thiểu số, phiên nhóm của Đơn vị Truyền thông. Tháng 4, 1999-tháng 1, 2000. Hàng ngày viết 2 tới 5 bản tin, bình luận độc lập, diển văn, và phát biểu về phúc lợi, giáo dục, ngân sách, tội phạm, bảo hiểm y tế, thuế, lao động, bầu cử, kinh doanh, đề tài nguồn nước và động vật hoang dã. (250 đến 2000 danh từ hàng ngày). Phụ trách bản tin Capitol cho đảng Cộng hòa, chuẩn bị các thành viên của cơ quan lập pháp phát biểu trên đài phát thanh và truyền hình và các hội nghị tin tức.

Principal Consultant, Assemblymen Bob Margett and “Rico” Oller, Vice-chairmen, Assembly Committee on Labor and Employment, GOP, Nov 1997-April 1999; wrote news releases, statements, speeches, and talking points on labor, elections, business, and wildlife issues; researched policy and meet weekly with the California Employer Council at the Ca. Chamber of Commerce, drafted legislation and amendments; analyzed legislation and reported support of and opposition to bills; made vote and policy recommendations to GOP members of the Legislature on workers compensation, workers’ health and safety, minimum wage, overtime pay, labor union governance, public contracting, apprenticeship training, operations of Department of Industrial Relations, Employment Development Department.

Principal Policy Consultant, CA State Assembly, Utilities & Commerce Committee, Assemblyman Mickey Conroy, Chairman, Dec. 1995-Feb 1997. Worked as writer, analyst, media spokesman, and researcher on telecommunications, electricity, universal service, cellular, telemarketing, slamming, and trade issues; Wrote conference report on AB 1890, first comprehensive deregulation of electric industry in the U.S.  Also deregulation of telephones and cellular phones and universal phone service inCalifornia.

Editor, Freedom Court Reporter, Legal Affairs Council, and executive director, U.S. Intelligence Council, (see above) 1994-2001.

Writer, freelance. Wrote and published articles in magazines — California City, New American, Human Events, Military, National Review, Dispatches, Worldnetdaily, Western Journalism Center. 1972-2000; researched and wrote newsletters – Freedom Court Reporter, LAC, and others for USIC, IPMA, and IACP 1973-2000; wrote op eds for newspapers – most ofCalifornia’s dailies and many weeklies inCentral Valley. Advisories. Press Kits.

Press Secretary, Assemblyman/Senator Phil Wyman, March 1992-Dec. 1994. Developed and implemented a strategic media plan which created nearly daily news — print, radio, or TV — coverage by mid to late 1994; wrote news releases, op. Eds, letters to editor, and flyers; arranged news conferences; set-up TV and radio interviews, and interviews before print editorial boards; developed press kits; staffed Agriculture Committee for all GOP members; wrote/targeted most extensive constituent mail “franking” program in the Senate; wrote and placed radio commercials. Qualified as Public Information Officer, CEA III, Dept of Conservation.

Chief of Staff/Press Secretary, Assemblyman. Bernie Richter, Dec. 1992-feb 1993. Wrote fifty news releases on legislation and community issues and hired staff for new Assemblyman.

Radio talk show host, 770AM, KPLA, “Under the Dome,” Dec. 1991-March 1992. Produced, hosted, and co-hosted political insider interview program about California policy issues and politics — Monday-Friday, on air one hour; co-hosted with Senator Leroy Greene — Saturdays, on air 2 hours; interviewed Democrat Senate leader Bill Lockyer, Assemblymen Conroy, Alby and Richter, U.S. Senate candidate Bruce Herschenson, Governor’s cabinet, and others; produced policy issue programs: education, welfare, taxes, environment, agriculture.

Research aide (temporary), Congressman John T. Doolittle, Full Time 12/1/91- 1/30/92.

Newspaper Columnist, Sacramento Union. August 1990- Oct 1991. Researched and wrote a political insider daily political column, “Under the Dome; produced three hundred and fifty columns of 15 to 20 column inches; covered over one thousand separate news, rumor, and color items about California’s Capitol and politics;utilized public and confidential sources from Legislature, Governor’s Office, and government agencies.

Campaigns — Writing, Media and Research Consultant, 1988-97. Managed statewide grass roots campaign and media relations opposing Prop. 117 (Mountain Lion protection etc) April 1990-July 1990 which moved public opinion 22% in 3 weeks; wrote book on Jane Fonda and Tom Hayden, April 1988-April 1990.

Campaign and other projects. Initiated press/communications for fund raising events for Nicaro Relief Fund, Nicaraguan refugees. Researched/wrote opposition research reports (Pombo,Wyman,Jordan); rehearsed TV and radio appearances and debates. Senator John Doolittle; set up public events. Governor’s press conference room, city hall, other sites; assisted campaign consultants such as John Feliz (McClintock), Steve Presson (Wyman), Kenny & Associates (Brock), W. Johnson & Associates (Pombo, Wyman, Jordan), Michael Berman (Rosenthal), Mark Thompson & Associates; delivered mail to post offices in San Diego.

Principal Policy Consultant, Assy Republican Caucus, Dec 1984-March 1988;

Conducted research and interviews, and wrote bill analyses and news releases; covered many policy areas including Transportation, Housing, Trade, and Veterans issues; developed, under Assemblyman Ernest Konnyu, the Assembly Republican “Agenda of Opportunity,” 1985-1988, a major media and legislative action plan promoting public policies from agriculture through zoning. Hired staff.

GOP Nominee, U.S. Congress, 4th Congressional District, March 1982-Nov 1982; July 1983-Nov,. 1984. Won two contested GOP primary elections, largely because of earned major media coverage, “good copy”; produced greater earned coverage than most better financed races in the same media market; stimulated 22nd highest spending race out of 435 contests in the U. S. Congress in 1984.

Police Administrator/Consultant, City ofSan Mateo, August 1975-August 1979. Created and sold major organizational changes (patrol, detectives, crime analyses, computers, communications and radio dispatch); communicated proposed changes throughout organization and to city council, Board of Supervisors, and to Chiefs of Police and City Councils of nineteen cities; produced media coverage of changes in nineteen cities.

Senior Research Associate, International Personnel Management Association, Washington, D.C. Feb 1974-June 1975. Researched and wrote on personnel selection, affirmative action, and drug abuse; edited content and style of articles published in Public Administration Review, Public Productivity Review, Police Chief, and Western City;Published articles in professional journals and newsletters.

Assistant Professor, M.P.A. Program, City University of N.Y., N.Y. July 1973-Jan 1975. Helped found, edit and write the Public Productivity Review; presented speeches and academic papers before multiple panels and conferences nationwide. “Management-Labor Productivity Simulation: City of Deficitprone,” with Marc Holzer, in The Labor Relations Experience, Steven Spirn, ed. (Sun Lake, Arizona: Thomas Horton and Daughters, 1982). Originally published in Public Productivity Review, Vol. II, No. 4 (1976), pp. 38-47.

Instructor, Menlo College, San Mateo. Sept. 1970-June 1973. Taught Political Science and writing skills (as part of all courses); published two satirical articles in National Review (1972).

Lecturer, American University, Pasadena City College, Cal State LA, Golden Gate University. 1969-1978.

Military, U.S.N., Communications. ATN 2, (E-50. Base commander nominated for U.S. Naval Academy. Sept 1959-June 1964 (prior toGulf ofTonkin Resolution).

EDUCATION (Multiple scholarships and fellowships)

Ph.D. – Government, Claremont, American Government, Public Administration, 2/73. organized Committee for Academic Freedom and stopped shutdown of university during war protest. Published dissertation. Roger B. Canfield (1973). Black Ghetto Riots and Campus Disorders: A Subculture and Philosophical Study of Democratic Legitimacy and American Political Violence.San Francisco: R & E Research Associates; Samuel Chapman, et al., (eds.) (1974).

M.P.A. – Public Administration, Syracuse University, Minor: Economics, 2/69.

BA – Political Science,ClaremontMcKennaCollege, Minor: Economics, 6/67.

Junior colleges (USAFI,San Diego, Palomar) 1961-1964.

H.S. dropout May 1959.

*******

Video giới thiệu tác phẫm của Roger Canfield

http://www.youtube.com/watch?v=ryNZvGWyl9A

*******

2010, Tiến sĩ Roger Canfield xuất bản quyển “Comrades In Arms: How the Ameri-cong won the Vietnam war against the common enemy-America”

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ

Author Roger Canfield’s book: Comrades in Arms: How the Ameri-Cong Won the Vietnam War Against the Common Enemy- America. Comrades in Arms tells the story of how the peace movement collaborated with Hanoi by describing the Americans who met the enemy in Hanoi and Paris, where they agreed to common strategies and tactics- not to achieve peace, but to defeat U.S. imperialism- and by exploring propaganda themes, Communist atrocities, and agents of influence throughout the war.

Tác phẫm của Roger Canfield: Các đồng chí cùng chiến tuyến: Làm thế nào Mỹ-Cộng thắng cuộc chiến Việt Nam trước kẻ Thù Chung Mỹ. Sách viết  về chuyện làm thế nào phong trào chủ hòa hợp tác với Hà Nội bằng cách tường thuật vụ các người Mỹ đã gặp kẻ thù ở Hà Nội và Ba Lê, nơi mà họ thỏa thuận cùng chung chiến lượcchiến thuậtkhông phải để đạt hoà bình, nhưng để đánh bại đế quốc Mỹ – và sách cũng nghiên cứu cùng khám phá các chủ đề tuyên truyền , các tội ác cộng sản, và các điệp viên gây ảnh hưởng trong suốt chiến tranh.

*******

http://www.buttondepress.com/Canfield.htm

Why the Vietnam War is Relevant Today

Vì Sao Ngày Nay Cuộc Chiến Việt Nam Trở Thành Chính Đáng

Extracted from Comrades in Arms; How the Ameri-Cong won the Vietnam War Against the Common Enemy—America by Roger Canfield*

Trích từ Các đồng chí cùng chiến tuyến: Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam trước kẻ Thù Chung Mỹ của Roger Canfield*

How did the American side lose in Vietnam? The Vietnam War was a political war, a unified struggle, dau tranh, of politics as much or more than arms. The enemy inHanoi made the streets ofAmerica and the lobbies of Congress, the crucial battlefield, the political struggle, which effectively limited U.S military strategy, tactics and weapons, exhausted the political will ofAmerica’s leaders, killed congressional support for allies in Indochina and ultimately abandoned the people ofSouth Vietnam. Peace brought not the Communist promised national salvation of reconciliation, democracy, and prosperity, but liquidation of political dissenters, reeducation camps, forced relocations to new economic zones, child labor, human trafficking, religious persecution, corruption, oppression and poverty. Will history repeat itself in the long war against Islamic terrorism or in the coming conflict withChina?

Làm thế nào mà phía Mỹ thua tại Việt Nam? Cuộc Chiến Việt Nam là một chiến tranh có tính cách chính trị, một cuộc đấu tranh hợp nhất, đấu tranh, nhằm dành quyền cai trị nhiều hơn là giao chiến bằng  vũ khí. Kẻ thù ở Hà Nội đã biến các đường phố ở Mỹ và các nhóm dành ảnh hưởng tại hành lang của Hạ Viện, thành chiến trường chính yếu, một cuộc đấu tranh chính trị, mà đã hạn chế một cách có hiệu quả chiến lược chiến thuật  quân sự, và vũ khí của Mỹ , và đã làm  kiệt lực  ý chí chính trị của các nhà lãnh đạo Mỹ, cùng chấm dứt sự hỗ trợ của quốc hội cho các đồng minh tại Đông Dương và cuối cùng là bỏ rơi người dân miền Nam Việt Nam. Hòa bình đã không mang lại lời hứa của Cộng sản về hòa hợp hòa giải quốc gia, về dân chủ và về thịnh vượng, mà ngược lại đưa tới các vụ thủ tiêu các nhà bất đồng chính kiến, các trại cải tạo, các việc cưởng bách tái định cưvùng kinh tế mới, nạn lao động trẻ em, nạn buôn người, nạn đàn áp tôn giáo, nạn tham nhũng, cùng áp bức và đói nghèo. Liệu lịch sử có sẽ lặp lại trong cuộc chiến lâu dài chống khủng bố Hồi giáo hay trong các cuộc xung đột sẽ  đến với Trung Quốc?

That was then. Now Jidahist terrorists and Red China practice Hanoi’s dau tranh franchise. They operate near freely in the open stirring up dissent that they do not allowed in their midst. When does dissent become treason? How can republics wage long wars against fanatical and bloody tyrannies when their enemies know their vulnerabilities to popular abhorrence of the barbarity of war and the sacrifice of innocent civilians? How is it possible for democracies to wage war against opponents for whom there are no innocent civilians, women and children? How long can civilized peoples, valuing human life, forbear seeing daily reports of mass butchery of steel upon human flesh let alone horrific loses of civilians and innocents as well as combatants in war?

Lúc đó vậy. Bây giờ  bọn khủng bố Jidahist Trung Cộng đang thi hành phương sách đấu tranh của Hà Nội y như  theo kiểu nhãn thương mãi đặc quyền. Chúng gần như hoạt động  một cách tự do công khai trong việc khuấy động chống đối, một việc mà ngay trong nước chúng thì chúng cấm đoán. Khi nào bất đồng chính kiến trở thành tội phản quốc? Làm thế nào những chế độ  cộng hòa tiếp tục chiến đấu được với những chế độ độc tài cuồng tín và khát máu  khi kẻ thù của họ biết rõ các yếu điểm của họ là dân chúng kinh tởm sự man rợ của giặc giã cùng việc các thường dân vô tội bị hy sinh? Làm sao các nền nền dân chủ có thể chống lại được những kẻ thù mà không hề biết thường dân vô tội, các phụ nữ và trẻ em, là gì? Còn bao lâu nữa mà các dân tộc văn minh, biết kính quý đời sống con người, còn có thể chịu đựng được các tường trình hàng ngày về cảnh dùng sắt thép để tàn sát con người, đó là chưa nói đến những thiệt hại kinh hoàng của dân thường và người vô tội cũng như các chiến binh trong trận chiến?

Until we understand the political warfare ofVietnamand of the Jihadists we shall never achieve today’s limited counter insurgency and counterintelligence goals let alone victory. There is “one war” to win or to lose, both military and political, counter terrorism and counterinsurgency. There are signs that the domestic element may again be the critical political battlefield in the war against Islamic terrorism. Water on the faces, panties on the head, deprivation of sleep, and playing of heavy metal music have been transformed from humiliation to wild claims of torture previously defined as great pain and suffering. Responding to such distorted enemy propaganda, domestic echo chambers thoughtlessly repeat inflated allegations ofU.S.atrocities, terror and torture at Abu Ghraib,Guantanamoand Haditha. The Obama administration has been persuaded to closeGuantanamoand to grant enemy combatants in wartime American Constitutional rights, the same Miranda rights, attorneys, and criminal trials given to pickpockets, shoplifters and delinquents.

Nếu chúng ta không hiểu được kiểu chiến tranh chính trị của Việt Nam và các bọn thánh chiến, thì chúng ta  sẽ không bao giờ đạt được thành quả với cái kiểu chống nổi loạn có tính cách hạn chế này, đó là chưa nói tới chiến thắng hay không.  Có “một cuộc chiến” để thắng hay thua, luôn về quân sự và chính trị, nhằm đánh lại khủng bố và nổi dậy. Có những dấu hiệu cho thấy là yếu tố quốc nội một lần nữa có thể sẽ  là chiến trường chính trị quan yếu trong cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo. Việc nhỏ nước trên mặt, đội quần lót trên đầu, không cho ngủ, và chơi nhạc kích động điếc tai đã bị biến  đổi từ chỉ là một  sỉ nhục để trở thành những lời tố cáo vô lý là  tra tấntrước đây từng được định nghĩa như  là có tính cách đau đớn và đau khổ. Đề đáp lại loại tuyên truyền bị bóp méo như vậy của đối phương , các diển đàn trao đổi trong nước cứ tiếp tục lặp đi lặp lại các cáo buộc bị thổi phồng về các khủng bố,  tàn bạo và tra tấn của Mỹ  tại những nhà tù Abu Ghraib, Guantanamo và Haditha. Chính quyền Obama đã bị thuyết phục để đóng cửa Guantanamo và cho phép các chiến binh thù địch trong thời chiến quyền hiến định của Mỹ, cũng chính các quyền Miranda, các luật sư, và các phiên tòa y như đã dành cho bọn  móc túi, cắp vặt ở tiệm  và bọn  phạm tội.

InVietnam it was most of the top leaders of the peace movement whose Hanoi-approved atrocity propaganda emasculated American military power. Skillful propaganda, usually unanswered, significantly restrained U.S military actions: insideNorth Vietnam,CambodiaandLaos; against dikes, dams, harbors and supply routes; and using napalm, cluster bombs, B-52s.

Việt Nam chính  là hầu hết các bọn lãnh đạo hàng đầu của phong trào hòa bình mà luận điệu tuyên truyền về vấn đề  tàn bạo đã được Hà Nội chuẩn chấp đã làm suy yếu  sức mạnh quân sự của Mỹ. Cái cách tuyên truyền khéo léo , nếu thường không bị phản ứng lại ngay, đã hạn chế một cách đáng kể các hành động quân sự Mỹ: ở Bắc Việt Nam, Kampuchia và Lào;  đánh đê, đập, bến cảng và các tuyến đường tiếp liệu sử dụng bom lữa, bom chùm, phóng pháo B-52.

This is a politically incorrect history of the antiwar movement inAmericaduring the Vietnam War. It fills a black hole in history, a story of active collaboration, fellow traveling and treason never previously told and relentlessly denied. It shows howHanoimade the peace movement the critical element in its political strategy for victory in  revolutionary war, a people’s war, and how theU.S.never developed a significant understanding of political struggle let alone a counter strategy.

Đây là một lịch sử sai lầm về chính trị của các phong trào phản chiến ở Mỹ suốt  trong chiến tranh Việt Nam. Nó che  lấp  một vết nhơ trong lịch sử, một câu chuyện về sự hợp tác tích cực, cùng đồng đi du lịch và phản quốc chưa từng bao giờ được nói trước đây và luôn luôn bị chối bỏ. Nó cho thấy Hà Nội đã bằng cách nào dùng phong trào hòa bình như là một yếu tố cốt yếu trong chiến lược chính trị nhằm dành chiến thắng trong chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân, và vì sao Mỹ chưa bao giờ khuếch trương được  một sự hiểu biết đáng kể về  đấu tranh chính trị mà chưa nói tới một chiến lược để chống lại.

Since this vulnerability remains, the Vietnam War is still very relevant to American strategies to confront Islamic terrorism and the rapidly rising power of Communist-ruled China. Properly understood the Vietnam War puts a new light on the problems to be solved in waging war against Islamic terrorism, gathering intelligence on domestic terrorists and agents of foreign powers, and preparing for emerging military powers, e.g. China. Today Jihadist political appeals are recruiting terrorists born in the USA. Today Chinahas persuaded the world that it is no longer Communist, voices from its network of prisons, lao gai, are silent, executions and organ harvesting can happen to anyone, and typical responses to its spies and military modernization are indifference orU.S. corporate technological collaboration with the suppression of speech, assembly and petition insideChina.  Thousands of Chinese spies operate unimpeded in theUSA

Cũng vì kẻ hở  này vẫn còn, chiến tranh Việt Nam vẫn còn rất thích đáng đối với các chiến lược của Mỹ để đối đầu với khủng bố Hồi giáo và đối với Trung Cộng mà cường lực đang  tăng nhanh. Nếu hiểu được cuộc chiến tranh Việt Nam thì coi như hiểu thêm về các vấn đề cần giải quyết thoả đáng  trong tiến trình chống khủng bố Hồi giáo, hay thu thập tin tình báo về khủng bố quốc nội và các điệp viên của các cường quốc nước ngoài, và chuẩn bị cho các cường lực quân sự đang lộ diện, ví dụ như Trung Cộng. Ngày nay các hấp dẫn về chính trị của Jihadist đang được dùng để tuyển dụng những kẻ khủng bố sinh ra ở Mỹ. Ngày nay Trung Cộng đã thuyết phục thế giới rằng họ không cònCộng sản, các tiếng nói vọng từ  mạng lưới các nhà tù, lao gai, đã lặng câm, việc hành quyết và mổ cắp nội tạng có thể xảy ra cho bất cứ ai, và phản ứng điển hình đối với  gián điệp và việc hiện đại hóa quân đội của họ là một sự thờ ơ hoặc là sự cộng tác về kỷ thuật của công ty Mỹ trong việc đàn áp tiếng nói, tụ họp, và đưa kiến nghị bên trong Trung Quốc. Hàng ngàn gián điệp Trung Cộng đang hoạt động không bị cản trở ở Mỹ.

During the Vietnam War, the progressive American peace movement enthusiastically disseminated Hanoi’s psychological warfare and Orwellian propaganda and condemned the plain truth as lies. Hanoi’s political struggle movement among the American people (dich van) vilified U.S. conduct of the war (making the USA appear uniquely brutal, immoral and unjust), obscured Viet Cong atrocities, deified communist leaders and romanticized the valor and prowress of enemy troops. This propaganda program created many myths about Vietnam still largely unchallenged. Dich van “turned skeptical newsmen credulous, made careful scholars indifferent to fact, blinded honorable men to immorality.” Today’s history books onVietnam are marginally different from political posters on the streets ofHo Chi Minh City (Saigon) claiming falsehoods to be true. 

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, phong trào hòa bình cấp tiến Mỹ đã  nhiệt tình phổ biến tài liệu  tâm lý chiến của Hà Nội và luận điệu tuyên truyền kiểu Orwellian cũng như cáo buộc sự thật như là một láo khoét. Phong trào đấu tranh chính trị của Hà Nội trong nhân dân Mỹ (địch vận) đã phỉ báng phương sách  tiến hành chiến tranh của Mỹ (làm cho Hoa Kỳ có vẻ cực kỳ  tàn bạo, vô luân và bất công), đã che khuất các tàn ác của Việt Cộng, tôn thờ các nhà lãnh đạo cộng sản và lãng mạn hóa giá trị cùng lòng dũng cảm của quân địch. Chương trình tuyên truyền này đã sáng  tạo nhiều huyền thoại về Việt Nam mà tới nay vẫn chưa bị đánh đổ. Địch vận “đã làm cả tin các thông tín viên đang hoài nghi, khiến các học giả trở nên thờ ơ với thực tế, che mắt những người  đáng kính trước vấn đề vô luân.”  Ngày nay sách lịch sử về Việt Nam thật không khác gì các áp phích chính trị trên đường phố TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn) tuyên bố đầy những giả dối mà lại gọi là đúng.

Hanoi’s entire political propaganda went largely unanswered and unfiltered into the history books while the enemy’s influential role in the peace movement warrants no more than a few minor footnotes in history. Our children are taught the war propaganda ofHanoiand of the progressive left that an imperialist capitalistU.S.conducted an illegal, unjust and unwinnable war inVietnam, a place far, far away from our national interest.

Toàn chương trình tuyên truyền chính trị của Hà Nội đã xẩy ra mà không bị phản ứng và đã len lõi  vào các sách lịch sử trong khi vai trò ảnh hưởng của đối phương trong phong trào hòa bình đã được đề cập tới không gì nhiều hơn là một vài chú thích nhỏ trong lịch sử. Trẻ em của chúng ta được giảng dạy về  tuyên truyền chiến tranh của Hà Nội và của tả phái cấp tiến  rằng một tư bản đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh bất hợp pháp, bất công và không thể nào chiến thắng tại Việt Nam, một nơi xa, rất xa với lợi ích quốc gia của chúng ta.

Many of the same organizations, individuals and propaganda themes now arise in opposition to the long war on terror inIraqandAfghanistan. From the Vietnam era United For Peace and Justice includes AFSC, Center For Constitutional Rights, Coalition for Peace and Justice, Communist Party, Episcopal Peace Fellowship, IPS, Fellowship of Reconciliation, National Lawyers League, Peace Action, Pledge of Resistance, Students for a Democratic Society, Unitarian Universalists, United Congregational Church, United Church for Christ, United States Student Association, Veterans for Peace, Vietnam Veterans Against the War, War Resisters League, and WILPF. Indeed, members of Progressives for Obama hold the same views aboutthe wars inIraqandAfghanistanreenacted as they did aboutVietnam. The following Vietnam War protesters supported Barack Obama for President; Bill Ayers, Noam Chomsky, Carl Davidson, Bernardine Dohrn, Thorne Dreyer, Terry Dubose, Roxanne Dunbar-Ortiz, Barbara Ehrenreich, Daniel Ellsberg, Richard Flacks, Jane Fonda, Jon Frappier, Todd Gitlen, Al Haber, Tom Hayden, Howard Machtinger, John McAuliff, Jeff Jones, Mike Klonsky, Mark Rudd, Stanley Sheinbaum, Steve Tappis, Arthur Waskow, Quinton Young, and others.

Cũng cùng rất nhiều các tổ chức, cá nhân và các chủ đề tuyên truyền tương tự lại tái phát sinh để chống đối các cuộc chiến lâu dài chống khủng bố ở Iraq và A-phú-hãn. Cũng như t thời  Việt Nam, Đoàn Kết cho Hòa Bình và Công Lý (United for Peace and Justice) cũng  bao gồm AFSC, Trung tâm cho Các Quyền Hiến Định ( Center For Constitutional Rights), Liên minh vì Hòa bình và Công Lý (Coalition for Peace and Justice), Đảng Cộng sản, Đoàn Thể  Giám mục về Hòa bình (Episcopal Peace Fellowship), IPS, Đoàn Thể Hòa Giải (Fellowship of Reconciliation), Liên Đoàn Luật Sư Quốc Gia, Hành Động cho Hòa Bình, Cam Kết Kháng Cự (Pledge of Resistance),Sinh Viên cho Một Xã hội Dân chủ ,  Đại Đồng Đoàn Kết (Unitarian Universalists), Giáo Hội Đoàn Kết (United Congregational Church), Giáo Hội Đoàn Kết Vì Chúa, Hiệp Hội Sinh viên Hoa Kỳ, Cựu Chiến Binh cho Hòa Bình, Cựu Chiến Binh Việt Nam Chống Chiến Tranh, Liên Đoàn Chống Chiến Tranh, và WILPF.  Thật vậy, các thành viên của nhóm Cấp tiến cho Obama  cũng có quan điểm  về các cuộc chiến tranh ở Iraq và A-phu-hãn y như họ đã từng chủ trưong về Việt Nam. Các kẻ sau đây mà từng  phản đối chiến tranh Việt Nam nay  hỗ trợ cho Barack Obama để làm Tổng thống , Bill Ayers, Noam Chomsky, Carl Davidson, Bernardine Dohrn, Thorne Dreyer, Terry Dubose, Roxanne Dunbar-Ortiz, Barbara Ehrenreich, Daniel Ellsberg, Richard Flacks, Jane Fonda, Jon Frappier, Todd Gitlen, Al Haber, Tom Hayden, Howard Machtinger, John McAuliff, Jeff Jones, Mike Klonsky, Mark Rudd, Stanley Sheinbaum, Steve Tappis, Arthur Waskow, Quinton Young, và những kẻ  khác .

The pervasive perception that American wages unjust wars has eroded the very legitimacy of theAmerica’s exceptionalist claim to be the regime of liberty. The nations of the world listen not to Barack Obama, butrise to applaud Robert Mugabe, Hugo Chavez, and Fidel Castro. Indeed, since most of what we think we know aboutthe Vietnam War is false, we have distorted visions of ourselves, of our place in the world and of how wars should be fought. Napoleon said, “History is a fraud agreed upon.”

Nhận thức phổ biến rằng Mỹ gây ra nhiều cuộc chiến tranh  không chính đáng đã phá vở tính cách chính đáng của cam kết đặc biệt của Hoa Kỳ về chế độ tự do của mình. Các quốc gia trên thế giới  không lắng nghe Barack Obama, nhưng đứng lên  hoan nghênh Robert Mugabe, Hugo Chavez, và Fidel Castro. Thật vậy, bởi vì tất cả những gì chúng ta nghỉ là chúng đã biết về chiến tranh Việt Nam đều sai, chúng ta  đã  có những cái nhìn méo mó ngay về chính mình, về vị trí của mình trên toàn thế giới và vế cách nào phải tham chiến. Nã-phá-luân đã  nói, “Lịch sử là một trò gian lận có thỏa thuận“.

History largely records flowered peace activists spontaneously gathering by the thousands wearing PEACE and JUSTICE on their T-shirts and in their hearts.

Phần lớn thì Lịch sử ghi lại cảnh đầy hoa lá cành khi hàng ngàn các kẻ tranh đấu cho hòa bình bất chợt tụ hợp lại với áo thun đang mặc  in HÒA BÌNH với CÔNG LÝ cũng như là trong tim họ.

Antiwar activists are seldom glimpsed reliably going to multiple meetings and conferences with the enemy, usingHanoipropaganda themes and carrying Viet Cong flags. Though unreported, such meetings, themes and flags were common. Until now, history provides no hint aboutthe intimate political relations of the leaders of American antiwar movement with the enemy from 1962-1975 in Hanoiand Parisand across the globe. America’s antiwar movement happily passed almost any story of the Vietnamese Communists— Viet Nam Cong San or shortened the Viet Cong—ever told. Americans collaborating with the enemy and seeking a communist victory are still near universally praised for their commitment to peace and social justice. Historians of the peace movement ignore or summarily dismiss the multiple dealings of the leadership of the American antiwar movement with the top leadership of North Vietnam.  “No evidence has ever been produced for foreign communist involvement in the anti-Vietnam War Movement,” Tom Wells, writes in his The War Within. The antiwar movement was not a movement inspired or led by foreign powers,” write Nancy Zaroulis and Gerald Sullivan in their Who Spoke Up? Compare this with The spontaneous antiwar movements in the US have received assistance and guidance from the friendly [Viet Cong/North Vietnam] delegations at the Paris Peace Talks…. The PCPJ [People’s Committee [sic] for Peace and Justice]…maintains relations with us…” from the Viet Cong’s Circular No. 33/VP/TD.

Ít khi mà chúng ta thoáng  thấy được các nhà hoạt động chống chiến tranh này đi họp và hội thảo với địch, rồi sử dụng các chủ đề tuyên truyền của Hà Nội và mang cờ Việt Cộng. Mặc dù không được tường trình, các cuộc họp như vậy, các chủ đề và cờ đã rất là phổ thông. Cho đến nay, lịch sử đã không hề đá động gì tới các liên hệ chính trị mật thiết của các nhà lãnh tụ của phong trào phản chiến Mỹ với địch từ 1962-1975 tại Hà Nội và Ba Lê  và trên toàn cầu. Phong trào phản chiến của Mỹ hầu như phổ biến một cách hân hoan bất kỳ chuyện gì có được của người Cộng sản Việt – Cộng Sản Việt Nam hoặc rút ngắn là Việt Cộng . Các công dân Mỹ hợp tác với kẻ thù và tìm kiếm một chiến thắng cho cộng sản vẫn còn được  khen ngợi khắp nơi về  cam kết của họ đối với hòa bình và công bằng xã hội. Các nhà sử học của phong trào hòa bình bỏ qua hoặc rất đơn giản loại bỏ các tiếp xúc của giới lãnh đạo của phong trào phản chiến của Mỹ với các lãnh đạo hàng đầu của miền Bắc Việt Nam . “Không có bằng chứng nào đã được xuất trình về  sự tham gia của cộng sản nước ngoài trong các phong trào chống chiến tranh Việt Nam“, Tom Wells đã  viết trong tác phẫm Chiến tranh Nội Bộ. “Phong trào chống chiến tranh không phải là một phong trào gợi ý hay điều khiển bởi các cường quốc nước ngoài”,  Nancy Zaroulis và Gerald Sullivan đã viết trong  Ai Đã Nói Lên ? Hãy so sánh điều này với “Các phong trào chống chiến tranh tự phát tại Mỹ đã nhận được sự trợ giúp và hướng dẫn từ các phái đoàn bạn [Việt Cộng / Bắc Việt Nam] tại cuộc đàm phán hòa bình Paris …. PCPJ [Ủy ban nhân dân [sic] cho hòa bình và công lý] … duy trì quan hệ với chúng tôi … trong Thông tư  Việt Cộng số 33/VP/TD.

 Time and againHanoi, Cuban and Soviet bloc meetings and conferences across the planet forged international unity on dates, events and propaganda themes upon often bickering leftist groups inAmerica. Aided by CIA reports willfully blind to domestic subversion, because it, pristinely, was not the CIA’s business, widely claimed that the antiwar movement had neither connection to the Soviet controlled nor funded Communist Party,USAnor to the enemy inHanoi. Yet such collaboration largely happened in broad daylight in plain view for anyone whose eyes and ears were open. Worldwide newspapers, movement publications, personal memoirs, radio broadcasts captured enemy documents and classified documents of the day recorded bits and pieces of what was going on. There were millions of unconnected dots, yet American intelligence agencies had ten years to collect and analyze them and generally failed to do so.  Many politicians and members of congressional committees, whose careers depended upon understanding politics, believed the Vietnamese Communist were influencing the American antiwar movement and found sufficient evidence everywhere to proclaim it and found their voices muted, if not silenced, political correctness.    

Rất nhiều lần như vậy các cuộc gặp gở và hội hợp của khối Hà Nội, Cuba và Liên Xô trên toàn thế giới đã cùng nhau đúc kết thống nhất về ngày tháng, biến chuyển, về các chiêu đề tuyên truyền  để áp đặt lên các nhóm cánh tả ở Mỹ Châu mà thường tranh  cãi nhau . Vô tình được bỏ qua trong các phúc trình của  CIA mà đã hoàn toàn nhắm mắt làm ngơ trước việc mưu đồ lật đổ chính phủ, bởi vì, thật rỏ ràng nó không thuộc phạm vi của CIA, nó đã  tuyên bố công khai rộng rãi là  phong trào phản chiến đã không hề liên hệ đến đảng Cộng sản Mỹ mà Liên Xô kiểm soát cùng tài trợ, cũng như không dính líu tới đối phương ở Hà Nội. Vậy mà sự hợp tác này đã xảy ra ngay vào ban ngày trước mắt bàng quan thiên hạ cho bất cứ ai có mắt và tai mà còn chịu nghe và nhìn. Báo chí trên toàn thế giới, ấn phẩm của các phong trào, hồi ký cá nhân, các chương trình phát thanh,  tài liệu tịch thu từ kẻ thù bị bắt và tài liệu mật đã ghi lại từng ly từng tý những gì đã đang diễn ra. Đã có hàng triệu điểm rời rạc không có liên quan, nhưng cơ quan tình báo Mỹ đã có cho tới mười năm để thu thập và phân tích chúng và nói chung đã không làm như vậy. Nhiều chính trị gia và thành viên của các  ủy ban quốc hội, mà sự nghiệp chính trị phụ thuộc vào sự hiểu biết về chính trị, tin rằng Cộng sản Việt Nam đã ảnh hưởng đến phong trào phản chiến Mỹ và đã tìm thấy đủ bằng chứng ở khắp mọi nơi để công bố nó để rồi phải im lặng,nếu không nói là bị che miệng, chỉ vì yếu tố  chính trị đúng đắn.

Most histories excoriate the secret decision-making and lies of American political and military personalities butsoftly pedal past the publicly proclaimed brutal political strategies and deceitful tactics of the Vietnamese Communists. American antiwar leaders were an integral part of Hanoi’s war winning strategy for People’s Revolutionary war.  Hanoitargeted the antiwar movement and U.S.media politically. This was a well-designed program of unified “political actions among the enemy” (dich van) which was one of three pincers of  “political struggle” (dau tranh chinh tri) equal to or greater than “armed struggle” (dau tranh vu trang) inHanoi’s grand strategy for winning of revolutionary war against a stronger enemy. Hanoi put its theories into successful political practice developing a political campaign plan in Paris, disarm South Vietnam, launching it at German Town, implementing it out of the offices of Rep. Ron Dellums and others and finally persuading the U.S. Congress to cut, run and betray South Vietnam despite magnificent allied successes on the battlefields and in the hamlets of South Vietnam after 1968.    

Hầu hết các câu chưyện đều đã lột trần các quyết định bí mật cùng các gian dối của các nhân vật dân sự và quân sự Mỹ  nhưng lại  bàn phớt qua các chiến lược chính trị tàn nhẫn từng được  phổ biến công khai và các chiến thuật gian trá của Cộng Sản Việt Nam. Các lãnh tụ Mỹ chống chiến tranh là một thành phần nằm trong  chiến lược thành công của Hà Nội về cuộc chiến Cách Mạng Nhân Dân. Về chính trị, Hà Nội đã nhắm vào các phong trào phản chiến  và giới báo chí Mỹ . Đây là một chương trình được bố trí kỷ lưỡng để thống nhất “các hoạt động chính trị trong khối các kẻ thù” (địch vận) mà là một trong ba gọng kềm của ” đấu tranh chính trị” (đấu tranh chính trị) được xem như là  bằng hoặc lớn hơn “đấu tranh vũ trang” (đấu tranh vũ trang) trong tổng chiến lược  của Hà Nội để dành thắng lợi từ tay một đối phương mạnh hơn . Hà Nội đã áp dụng thành công các lý thuyết của họ vào thực tế chính trị bằng cách mở rộng một chiến dịch chính trị tại Ba Lê, bó tay miền Nam Việt Nam, phát động tại Thị Trấn Đức, thực hiện nó ngay từ  văn phòng của Dân Biểu Ron Dellums và nhiều dân biểu khác và cuối cùng thuyết phục Quốc hội Mỹ phải cắt bỏ, rồi bỏ  chạy và phản bội miền Nam Việt Nam,  bất chấp những thành công tuyệt vời của đồng minh trên chiến trường và trong các ấp chiến lược miền Nam Việt Nam sau năm 1968.

The consequences of a false history are many beyond the military consequences of a lost war. Since the conventional Vietnam War template of U.S.government war criminals and innocuous peacemakers is carried to the present, our children are taught a deconstructive history not only of the Vietnam War, butalso of a grievously flawed America. Many do not believe Americais worth defending. Very many Americans of left progressive persuasions presume that every U.S.military endeavor is evil imperialism, a futile exercise rather than a defense of U.S.national interests or of freedom. Those who have learned to hate the Vietnam War have come to hate in turn the politicians, the warriors and Americaitself.  Howard Zinn, an antiwar activist and traveler to Hanoi, wrote the extraordinarily hateful A Peoples’ History of the United States, which has become required reading in thousands of American high schools and colleges.

Hậu quả của việc tường thuật lịch sử gian dối có ảnh hường nhiều hơn chỉ là đơn sơ một cuộc thất trận. Kể từ khi mô hình theo tập quán của các tội hình về chiến tranh Việt Nam trong chính quyền Mỹ  cùng các kẻ đi tìm hòa bình  được mang ra sử dụng cho tới nay, con em chúng ta bị giáo huấn về một lịch sử có tính cách chỉ tàn phá không chỉ về cuộc chiến Việt Nam mà còn về một nước Mỹ đau thương hư xấu. Nhiều người nghỉ là nước Mỹ cũng không đáng để được bênh vực. Rất nhiều người Mỹ thuộc cánh tả cấp tiến đã phỏng đoán là mọi cố gắng quân sự Hoa Kỳ đều chỉ có tính cách đế quốc xấu xa, một hành vi vô ích hơn là một việc bảo vệ quyền lợi Mỹ hay là bảo vệ tự do.  Các kẻ mà đã học được cách chán ghét  cuộc chiến Việt Nam thì rốt cuộc cũng thù ghét các chính trị gia, các chiến binh và ngay cả chính nước Mỹ. Howard Zinn, một kẻ hoạt động chống chiến tranh và cũng từng đi Hà Nội, đã viết quyền sách Một Lịch Sử Nhân Dân của Hoa Kỳ cực kỳ đầy căm thù, mà đã trở thành sách phải cần đọc trong hàng ngàn trường trung và đại học Mỹ.

That “HateAmerica” legacy is based in major part on the stories we tell aboutourselves inVietnam. Political leaders are quick to adopt a cutand run policy toward any international conflict, to pursue a diplomacy of talk therapy, and to doubt thatAmericahas any strategic interests anywhere whatsoever. Indeed, the left never finds any American interest or strategic necessity to ever go to war.Americacannot survive if near half its citizens believe it is an evil imperial capitalist power worthy of destruction, or a nation whose sins required unending apologies. If this dark vision is our understanding ofVietnamand of our history ofAmerica, then defending theU.S.against Islamo fascism or Chinese Communism are likewise causes unworthy of a nickel of treasure or a drop of blood. At a minimum the orthodox lessons ofVietnaminject premium doses of caution, reluctance tending toward timidity and appeasement—all signaling weakness and an absence of will to potential enemies. Defeatism has a large and growing constituency at home, which has been well noticed abroad.

Di sản “Thù Mỹ” đã dựa  một phần lớn trên những câu chuyện mà chính chúng ta đã tự thuật khi ở tại Việt Nam. Các nhà lãnh đạo chính trị thường có khuynh hướng chấm dứt để bỏ chạy đối với mọi tranh chấp quốc tế,  để theo đuổi chính sách ngoại giao thương thảo, và đa nghi rằng nước Mỹ có bất kỳ lợi ích hay cần thiết chiến lược bất cứ nơi nào. Thật vậy, cánh tả  không bao giờ tìm thấy bất kỳ lợi ích gì của Mỹ hay chiến lược cần thiết gì mà phải giao chiến. Mỹ không thể tồn tại nếu gần phân nửa công dân tin rằng nó là một đế quốc tư bản xấu xa xứng đáng bị hủy diệt, hoặc là một quốc gia tội lỗi đòi hỏi một chuổi dài lời xin lỗi bất tận. Nếu tầm nhìn tăm tối này là sự hiểu biết của chúng ta về Việt Nam và về  lịch sử Mỹ của chúng ta , thì việc bảo vệ Mỹ chống lại chủ nghĩa phát xít Hồi giáo hay cộng sản Trung Quốc cũng tương tự chỉ là những duyên cớ không xứng đáng thậm chí cho một đồng tiền năm xu hay cho chỉ đổ một giọt máu.  Ở mức tối thiểu những bài học chính thống về  Việt Nam làm tăng thêm phản ứng thận trọng,  miễn cưỡng đến mức rụt rè và tìm cách  xoa dịu –  tất cả đều cho thấy sự yếu đuôi và thiếu ý chí đối với các  kẻ thù tiềm tàng. Tinh thần chủ bại được một số lớn  càng ngày càng đông người chấp nhận, mà ở ngoại quốc người ta đã rất để ý tới.

Whatever we may think of ourselves, from the experience ofVietnam, our enemies have learned how to defeat theUnited Statesmilitarily on its home front. The formula is simple and effective: expand the field of combat to include psychological and political measures to influence troop morale, public opinion and political will. A former intelligence officer, civic action officer inVietnamand historian Bill Laurie contends the enemy can expect no effective push back, no answers to propaganda, no sustained program to respond to lies with truth. There can be no pushback against hidden things in the mist in the shadows of long forgotten battles.

Cho dù chúng ta nghỉ ra sao về mình thì từ kinh nghiệm Việt Nam,  kẻ thù của chúng ta đã học được cách để đánh bại Hoa Kỳ về quân sự ngay tại quốc nội. Công thức này rất đơn giản và hiệu quả: mở rộng lĩnh vực đấu tranh để  bao gồm luôn  các phương tiện tâm  lý và chính trị nhằm  ảnh huởng tới  tinh thần quân đội, công luận và ý chí chính trị. Một cựu sĩ quan tình báo, một viên chức về sinh hoạt công dân tại Việt Nam và cũng là nhà sử học, Bill Laurie đã tranh luận là kẻ thù không mong đợi một phản ứng ngược lại mà có kết quả,  cũng không trông đợi các đáp ứng về tuyên truyền hay một chương trình nói lên sự thật trước các lời xuyên tạc. Không thể nào đẩy ngược lại được mọi dấu diếm trong hỏa mù tối tăm của từng bao nhiêu trận chiến đã bị lãng quên.

Today the Chinese and the Jihadists understand the value of American public opinion and politics to their war winning strategies. The Islamic Jihadists and Communist Beijing understand well the lessons ofVietnamwhen waging war against theUnited States. Our Islamic-Jihadists and Chinese adversaries are using many of the same tactics and strategies that gave victory toHanoiin the Vietnam War. In al Qaeda training manuals captured terrorists are told to claim torture. In captured al Qaeda manuals Osama bin Laden tells us he knows the lessons ofVietnam. Osama watches American public opinion polls and believes troop morale and political will are waning under the impact of a long war against terror. And President Obama responds with Miranda rights and court trials for enemies caught on battlefields and closesGuantanamoprison because false enemy propaganda.

Ngày nay, Trung Quốc và bọn thánh chiến Jihadists hiểu được giá trị của ý kiến công chúng và chính trị Mỹ để áp dụng cho các chính lược nhằm dành chiến thắng cho chúng. Bọn thánh chiến Hồi giáo và cộng sản Bắc Kinh hiểu rất  rõ bài học về Việt Nam khi tiến hành chiến tranh chống lại Hoa Kỳ. Bọn thù địch thánh chiến Hồi giáo  và Trung Quốc của chúng ta đang sử dụng cùng nhiều chiến thuật và chiến lược mà đã giúp Hà Nội chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam. Trong các tài liệu huấn luyện  tịch thu từ các tay khủng bố bị bắt giam  thì bọn chúng được khuyến khích áp dụng hình thức tra tấn. Trong các tài liệu huấn luyện của al Qaeda bị tịch thu từ các điệp  viên bị bắt giữ của chúng, Osama bin Laden đã cho chúng ta biết là y biết những bài học rút từ Việt Nam. Osama theo dõi các thăm dò dư luận công cộng Mỹ và y tin rằng tinh thần quân đội và tính cách cương quyết chính trị sẽ suy yếu dưới tác động của một cuộc chiến chống khủng bố lâu dài . Và Tổng thống Obama lại trả lời với tiêu chuẩn các quyền Miranda và các phiên tòa đối với các  kẻ thù bị bắt trên chiến trường và đóng cửa nhà tù Guantanamo vì tuyên truyền sai lầm của đối phương  .

Today there is more at stake than there was inVietnam. On 9/11 the Jihadists struck the American homeland.  Today’s Chinese agents of influence, informers, and spies far outnumber any such forces Hanoi recruited and deployed in the USA.Yesterday’s television war by delayed Teletype and film delivered by courier from Vietnam is today’s global war of instantaneous telecommunications of words, numbers and images often withoutcorroboration of sources or the discipline of editors. As it was inVietnam, enemy propaganda is unfiltered and worse, still unanswered. Today to the pen, barrels of ink and megawatts of radio transmitters used during Vietnam War must now be added trillions of gigabytes of the Internet, cell phones, text and graphics messaging, fiber optic transmission, satellite communications and other telecommunications capabilities and products that did not exist during the Vietnam War.  If information is power then the deregulated telecommunications industry and its revolution of new tools is a force multiplier in politics greater than the tools ever available toHanoi.  Today, the Chinese Communist regime has enlisted Yahoo, Google, Cisco, and Microsoft to suppress domestic dissent and uses cash to buy American politicians and business leaders In the interest of business corporations use the false defense of moral ambiguity, another legacy ofVietnampoorly understood. Can the smart politics of our enemies (asymmetrical, low tech, high concept) defeat our smart bombs yet again?  Will military and civil successes in the villages ofIraqandAfghanistanagain be lost in American town squares, faculty clubs, progressive party caucuses and the media? If not there how can we cope with third world nuclear powers and Chinese expansionism?

Ngày nay có nhiều nguy hiểm hơn là vào thời Việt Nam. Ngày 9 / 11 thánh chiến Jihadists đã tấn công quê hương Mỹ. Ngày nay các điệp viên tuyên truyền, các điềm chỉ viên, và các  gián điệp của Trung Quốc đông hơn nhiều nếu so với các lực lượngHà Nội đã từng tuyển dụng và triển khai tại Hoa Kỳ. Loại truyền hình phát chậm do teletype và phim quay chuyển về  từ Việt Nam của thời xưa thì nay là một cuộc chiến toàn cầu gồm các chuyển tiếp viễn thông với chữ, số và hình ảnh mà thường không nói rỏ xuất xứ  hay nguồn cung cấp. Cũng như vào thời kỳ Việt Nam, việc tuyên truyền của địch không được kiểm soát thậm chí còn không được đáp ứng. Ngày nay, cùng với ngòi bút, các lọ mực megawatts phát tuyến từng sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, bây giờ phải thêm vào hàng nghìn tỷ gigabytes trên Mạng, điện thoại di động, gởi điện tin và hình,   truyền thông bằng dây cáp quang, vệ tinh thông tin liên lạc và nhiều  khả năng viễn thông khác cùng các sản phẩm mà không hề có vào thời  chiến tranh Việt Nam. Nếu quả thật thông tin là sức mạnh thì việc ngưng áp dụng các luật lệ về công nghiệp viễn thông và cuộc cách mạng đem tới các dụng cụ mới thật  là một nhân tố về  chính trị lớn lao hơn nhiều khi  so với các công cụ mà Nội đã dùng. Ngày nay, chế độ Cộng sản Trung Quốc đã thuê Yahoo, Google, Cisco, và Microsoft để đàn áp phong trào bất đồng chính kiến trong nước và sử dụng tiền mặt để mua các chính trị gia  và các nhà lãnh đạo kinh doanh Mỹ. Vì lý do thương mãi, các tập đoàn kinh doanh đã sử dụng phương cách tự biện minh bằng một thái độ  đạo đức mơ hồ, di sản của một thời Việt Nam chưa từng được hiểu rõ. Các chính sách  chính trị khôn ngoan của kẻ địch (bất tương xứng, kỷ thuật thấp, khái niệm lại cao) có thể lại đánh bại loại bom thông minh của chúng ta một lần nữa hay không? Các chiến công quân sự và thành quả dân sự trong các làng mạc của Iraq và Afghanistan có lại  một lần nữa bị tiêu hũy ngay tại các quảng trường trong các thị trấn Mỹ, trong các câu lạc bộ đại học, trong các cuộc họp kín của các đảng cấp  tiến và giới truyền thông? Nếu không thì  làm thế sao chúng ta còn có thể đối phó được  với các cường quốc hạt nhân của thế giới thứ ba và với khuynh hướng bành trướng của Trung Quốc?

Today’s outrageous claims are reminiscent of then routine, butrarely challenged, reports of American torture and atrocities in Vietnam where rogue isolated incidents of U.S. atrocities were described, at best, as morally equivalent to the systemic Viet Cong policy of terror. Like the Viet Cong, today Jihadists rely upon a culpable media to pass on outrageous claims of American atrocities. George Soros funded a study claiming 650,000 deaths in Iraqfrom 2003 to 2005, abouteight times the actual number. The New England Journal of Medicine published research showing far fewer deaths over a longer period, 151,000, from 2003-2007. Hezbullah, using civilian shields and phony evidence (recycled corpses, dustless children’s toys, broken religious icons, unfired bullets, colorful objects coincidentally photographed, planted, found amongst gray bomb rubble) fed atrocity stories on the Hezbullah’s war with Israel in southern Lebanon to an uncritical media in 2006. Torture stories in the Iraq War were manufactured out of distorted versions of incidents at Abu Ghraib andGuantanamo. From a firefight at Haditha with insurgents hiding “among civilians and …aided by them” Rep. John Murtha, D-Johnstown, claimed it was a cold-blooded massacre that courts martial largely proved not to have happened. After September 11, 2001, when the U.S. desperately sought facilities to house enemy combatants captured in Afghanistan for four months it turned to Camp X-ray, a former refugee holding area for Cuban and Haitian refugees. Photos showing barbed wire, cages and shackled prisoners in orange jumpsuits crossed the planet claiming to reveal inhumane conditions and soon torture. Sen. Patrick Leahy, Barack Obama and others declared that this propaganda was a recruiting tool for Al Queda rather than learning the true story later revealed by FBI, DOD and other investigations. Prisoners have excellent medical care, 5-6,000 calories daily, recreational opportunities, satellite TV, library, and institutionalized respect for their religion. Tales of the toilet and urine desecration of the Koran though proven false rated 4,677 mentions compared to 90 references to the heroism Sgt. Paul Smith, recipient of the Medal of Honor. Nasal feeding tubes for fasting prisoners are humane, standard hospital equipment. “No prohibited acts were found and conditions are humane,” according to a Pentagon study. Reports of torture atGuantanamo were false: all interrogations are voluntary while sitting in L-Z-Boy chair. An FBI study based on interviews of 450 FBI employees found no prisoner beaten, burned, electrocuted or subjected to frightening insects or animals. Yes, a few detainees were subjected to sleep deprivation, loud music, bright lights, isolation, and some held in painful positions. There was one case of water boarding. Life is far, far better in Guantanomo than in most American state prisons and county jails.

Các tuyên bố thái quá của ngày nay làm gợi nhớ lại những báo cáo thường xuyên về việc tra tấn và các hành vi  tàn ác của Mỹ tại Việt Nam , nhưng rất hiếm khi bị cải chánh, tại các nơi mà các hành vi lẻ loi tàn bạo gây ra bởi vài thành phần vô kỷ luật của Mỹ đã bị mô tả tuyệt nhất  như  tương đương về mặt đạo đức với các chính sách khủng bố có hệ thống của Việt Cộng . Cũng giống như Việt Cộng, các thánh chiến Jihadists ngày nay dựa vào một giới truyền thông tự có mặc cảm tội lổi để phổ biến những cáo buộc vô lý về các  hành vi tàn bạo của Mỹ. George Soros đã tài trợ cho một công trình nghiên cứu mà đã tuyên bố có 650.000 tử vong ở Iraq từ năm 2003 đến 2005, khoảng tám lần số lượng thực tế. Tạp chí Y học New England đã xuất bản tài liệu nghiên cứu cho thấy đã có rất ít hơn nhiều các trường hợp tử vong trong một thời gian dài hơn, 151.000 từ 2003-2007 . Hezbullah đã từng  sử dụng đồng loại làm lá chắn đở đạn  và lại dùng các bằng chứng giả mạo (dùng lại tử thi, đồ chơi trẻ em được chùi rữa lại, các  hình tượng tôn giáo bị bể, đạn dược chưa bắn, cùng các đồ vật đầy màu sắc cố tình  thu xếp để bị nhìn thấy giữa đống đổ nát xám xịt do bom gây ra) đã cung cấp các chuyện về tội ác chiến tranh trong  cuộc chiến của chúng với Do Thái  ở miền nam Lebanon cho một giối truyền thông nhu mì vào năm 2006. Các chuyện về  tra tấn trong cuộc chiến tranh Iraq đã được sáng chế ra từ các phiên bản méo mó về các việc tại Abu Ghraib và Guantanamo.  Chỉ từ một vụ đọ súng ở Haditha với quân nổi dậy “trà trộn trong dân thường và … sự trợ giúp của họ“, Dân biểu John Murtha, đảng Dân chủ -Johnstown, tuyên bố đó là một vụ thảm sát cố tình mà sau đó các tòa án mặt trận đều đã phán quyết không hề  xảy ra.  Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, sau bốn tháng  tìm kiếm trong  tuyệt vọng cơ sở để giam giữ các tù binh bị bắt tại Afghanistan thì Mỹ đã quyết định dùng Trại X-ray, một trại tỵ nạn dành cho người Cuba và Haiti. Các hình ảnh về dây thép kẻm gai, các chuồng cùng hình các tù nhân bị xích trong những bộ đồ nhảy dù màu cam đã được phổ biến khắp thế giới để tố cáo các điều kiện vô nhân đạo và theo sau đó là việc tra tấn. Thượng nghị sĩ Patrick Leahy, Barack Obama và những người khác tuyên bố rằng đây chỉ là tuyên truyền để  tuyển dụng của  Al Queda thay vì học hỏi từ câu chuyện thật mà sau đó FBI, Bộ Quốc phòng và các điều tra viên khác đã  tiết lộ. Các tù nhân đều được chăm sóc y tế tốt đẹp, có 5-6,000 ca-lô-ri  mỗi ngày,có  cơ hội giải trí, có truyền hình vệ tinh, có thư viện, và tôn giáo của họ được tôn trọng. Các chuyện kể về thánh kinh Koran bị  xúc phạm bỏ xuống nhà vệ sinh hay quăng vô  nước tiểu dù  đã được chứng minh là láo khoét cũng vẫn được nhắc tới 4.677 lần so với 90 lần dẫn chiếu về gương anh hùng của Trung Paul Smith, người nhận được Huân chương Danh dự. Nuôi dưởng bằng ống xuyên mủi các  tù nhân tuyệt thực  là một hành vi nhân đạo, theo đúng tiêu chuẩn bệnh viện. “Không có hành vi bị cấm nào đã được tìm thấy và các điều kiện đều nhân đạo”, theo một nghiên cứu của Lầu Năm Góc. Các báo cáo về tra tấn ở Guantanamo là sai: tất cả các cuộc thẩm tra đều  tự nguyện và đương sự vẫn ngồi trên ghế LZ-Boy trong suốt thời gian đó. Một cuộc nghiên cứu của FBI dựa trên các cuộc phỏng vấn của 450 nhân viên FBI đã không tìm thấy được là có tù nhân từng bị đánh đập, đốt , tra điện hoặc bị dùng côn trùng hay thú vật để đe dọa. Đúng, có  một vài tù nhân đã không được cho ngủ, với nhạc lớn, đèn sáng, bị cô lập, và một số bị giữ trong những tư thế khã dỉ làm đau đớn. Có một trường hợp tù nhân bị kiểu nhỏ nuớc trên mặt bịt bằng bao ny-lông.  Đời sống ở Guantanomo đã rất tốt, tốt hơn nhiều nếu so với tại hầu hết các nhà tù  tiểu bang  và nhà tù quận Mỹ.

Today many still hateAmericabased upon the dark tales ofVietnamand their current sequels. Like LBJ and Nixon inVietnam, a passionate minority believed anything hateful said aboutPresident Bush—and his successor, Barak Obama. Bush blew up theWorldTradeCenter. Bush spills American blood for Iraqi oil. Bush is the biggest terrorist in the world. Bush is listening in on the telephone and e-mail messages of millions of Americans, (an impossibility). “Bush Lied People Died.” It is a surreal return to “Hey, Hey, LBJ. How many kids did you kill today?” What they hated Bush most for was winning the war inIraqby refusing to follow the cut, run and betray template ofVietnam.

   Ngày nay vẫn còn nhiều người ghét Mỹ khi căn cứ trên những câu chuyện đen tối về Việt Nam và các phần tiếp diễn sau đó. N L. B. Johnson  và Nixon tại Việt Nam, một thiểu số say  mê tin bất cứ điều gì đáng ghét về Tổng thống Bush và người kế nhiệm ông, Barak Obama. Bush đã cho nổ tung Trung tâm Thương mại Thế giới. Bush đã làm máu Mỹ đổ đầy để lấy dầu Iraq. Bush là trùm khủng bố trên thế giới. Bush đang nghe lén điện thoại và theo dõi  e-mail của hàng triệu người Mỹ, (một việc vô phương). “Bush Đã Nói Láo, Dân Đã Chết“. Đúng là việc trở về không thể nào ngờ được của thời  “Ê, Ê, LBJ. Mày giết bao nhiêu trẻ hôm nay?“. Điều họ ghét nhất là Bush đã chiến thắng tại Iraq bằng cách đã  từ chối để tiếp tục mô hình cắt giảm, bỏ chạy và phản bội Việt Nam.

  Vietnambecame a template for destroying, “deconstructing,” the legitimacy of ordinary patriotism through ridicule of simple acts and symbols of loyalty and allegiance, the pledge, the flag, and assaulting the integrity of the nation’s leaders as universally liars, fools and war criminals.  “It is almost a truism of leftist politics that … dissent which rises to the level of treason is … patriotic,” according the discerning blogger Socrates. Yet if you believe your country is doing wrong, do you have a right to aid the enemy and claim love of the very country you are betraying? Butit is surely Orwellian “verbal acrobatics” that treason is transformed into patriotism. How is stopping troop trains—inhibiting a war effort and aiding the enemy—an act of patriotism?

Việt Nam đã trở thành một khuôn mẫu để phá hủy, “phản xây dựng”,  tính hợp pháp của lòng yêu nước thông thường, thông qua những hành vi chế giễu đơn giản về biểu tượng của lòng trung thành và phục tùng, cam kết, lá cờ, và tấn công tính chính trực của các nhà lãnh đạo của quốc gia khi cho họ chỉ  là những kẻ nói dối khắp nơi, những tên khùng  và những tội phạm chiến tranh. “Nó gần như là một sự thật hiển nhiên của chính trị cánh tả mà … bất đồng chính kiến khi tăng lên đến mức độ chấp nhận  phản quốc là … yêu nước,” chiếu theo blogger đầu ốc minh mẫn là Socrates. Tuy nhiên, nếu bạn tin rằng quốc gia của bạn làm sai, bạn có quyền để hỗ trợ kẻ thù và đồng thời tuyên bố mình yêu nước mà mình đang phản bội? Nhưng quả thật đúng là rất Orwellian “đu dây nhào lộn với lời nói” khi tội phản quốc được chuyển thành lòng ái quốc. Làm thế nào để chận xe lửa chuyển quân và giúp đỡ kẻ thù –  một hành vi yêu nước?

BlameAmericaand hateAmericaconstituencies, fed by the unanswered tales of the Vietnam War, have since spread widely from the antiwar movement into grade school histories into the mainstream left. As inVietnamsome of the most vociferous purveyors of hate declare themselves for love, peace and social justice. So the hatred of Bush—and his successor—cannot be separated from the war inIraqand the unified strategy of war now used everywhere againstUSmilitary power and diplomacy.  

Số cử tri mà  hằng chuyên đổ lỗi cho Mỹ và thù ghét Mỹ, được mớm ý bằng những câu chuyện về chiến tranh Việt Nam mà chưa hề bao giờ được phản bác, đã lan rộng từ phong trào chống chiến tranh  vào cả  sinh hoạt các trường học và luôn vào dòng chính của tả phái. Cũng như ở Việt Nam một số những người luôn luôn om sòm phổ biến hận thù  nhất thì lại tự cho là mình nghiêng về  tình yêu, hòa bình và công bằng xã hội. Vì vậy, sự thù hận đối với Bush và người kế nhiệm – không thể bị tách ra khỏi cuộc chiến ở Iraq với  chiến lược chiến tranh  thống nhất đang được sử dụng ở khắp mọi nơi chống lại sức mạnh quân sự và ngoại gia của Mỹ.

Ronald Reagan said the Vietnam War cause was honorable and noble. Rudyard Kipling said rather too modestly, “The first casualty of war is truth.” By Kipling’s measure, the best liars appear to have won not only the Vietnam War, but also our memory of it. A Vietnamese proverb has it that the “winners are kings, losers are pirates.” The liars’ tales are the stories most told about Vietnam in books, media, and classrooms.  We try to answer these tales with undeniable facts.

    Ronald Reagan đã nói căn nguyên của chiến tranh Việt Nam thì thật vinh dự và cao quý. Rudyard Kipling thì lại nói một cách khá khiêm tốn, “Nạn nhân đầu tiên của chiến tranh là sự thật.”  Theo cách nói của Kipling, các tên nói láo giỏi nhất có vẻ như đã giành chiến thắng không chỉ là ở Việt Nam, mà cũng chiến thắng luôn trong ký ức của chúng ta. Một câu tục ngữ Việt Nam đã nói  rằng “được làm vua, thua làm giặc.” Các lời kể của bọn nói dối thường được đề cập tới  trong sách vở, báo chí, và trường học. Chúng tôi cố gắng để trả lời những câu chuyện này bằng  những sự kiện không thể nào phủ nhận.

     In late December 2004, Medea Benjamin speaking for Code Pink, Global Exchange, and Families for Peace announced her intent to donate $600,000 in medical supplies and cash to the families of the terrorist insurgents fighting American troops inFallujah,Iraq. Today too little is made of the beheadings of civilian antenna repairman Nick Berg and journalist Danny Pearl compared to continuing uproar over the humiliations terrorist combatants suffered at Abu Ghraib, the holding of enemy combatants in war withoutMiranda rights at Guantanamo and the false claims of American premeditated murder of innocent civilians at Haditha.  The Jihadists glorified the beheadings and the U.S investigated Abu Ghraib,Guantanamoand Haditha and prosecuted wrongdoers.

    Vào cuối Tháng Chạp  năm 2004, Medea Benjamin phát ngôn cho Code Pink, Global Exchange, và Các Gia đình vì Hòa bình đã công bố ý định của y thị để đóng góp 600.000 đô về dụng cụ y tế và tiền mặt cho gia đình của bọn khủng bố  nổi dậy chống lại quân đội Mỹ ở Fallujah, Iraq . Hiện nay đã có ít phản ứng đối với việc chặt đầu Nick Berg, một người dân thường chỉ làm nghề sữa ăng-tên,  và nhà báo Danny Pearl so với làn sóng náo động cứ tiếp tục trong việc tố cáo những sỉ nhục dành cho bọn chiến binh khủng bố tại Abu Ghraib, việc giam giữ các chiến binh  thù địch trong chiến tranh mà không màng tới  quyền Miranda tại Guantanamo và những tuyên bố sai lầm về việc Mỹ cố  ý giết thường dân vô tội ở Haditha. Bọn thánh chiến tôn vinh các vụ chặt đầu và Hoa Kỳ đã điều tra nhà tù Abu Ghraib, Guantanamo và Haditha và đã truy tố các kẻ phạm tội.

   Today, the Congress and the nation are similarly divided over the war against Islamo Fascism. A restrained President and military have in effect granted sanctuaries to the Jihadists in Southern Lebanon,Syria,Yemen,Saudi Arabia,Iran, andNorthwest Pakistan. Just likeCambodiaandLaoswere during the Vietnam War. Indeed, terrorists and farm workers easily cross American borders withMexicoandCanada.

    Ngày nay, Quốc hội và toàn nước cùng bị chia rẻ trong vấn đề của cuộc chiến chống bọn Phát-xít Hồi. Một Tổng thống với một quân đội đang bị kềm lại quả thực đã cung cấp nơi ẩn náu an toàn cho bọn thánh  chiến ở miền Nam Lebanon, Syria, Yemen, Ả Rập Saudi, Ba Tư, và Tây Bắc Hồi Quốc. Cũng giống như Cam-pu-chia và Lào trong chiến tranh Việt Nam. Thật vậy, cả khủng bố lẫn  người nông dân đều  dễ dàng vượt qua biên giới giữa  Mỹ với Mexico hay Gia-nã-đại.

    Presidents Johnson and Nixon, Democrat presidential candidate Hubert Humphrey, Attorney General Katzenbach, FBI director Hoover, CIA Director George Bush and many others (passim) complained about the enemy influencing the antiwar movement. Admiral U. S. Grant Sharp, who headed the US Pacific Command said the national will was destroyed by “a skillfully waged subversive propaganda campaign, aided and abetted by the media’s bombardment of sensationalism, rumors, and half-truths” about the war.

     Các Tổng thống Johnson và Nixon, ứng cử viên tổng thống đảng Dân chủ Hubert Humphrey, Chưởng lý Katzenbach, Giám đốc FBI Hoover, Giám đốc CIA George Bush và nhiều người khác (nơi này nơi khác) đã phàn nàn về việc kẻ thù đã  ảnh hưởng đến phong trào phản chiến. Đô đốc Mỹ Grant Sharp, Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Thái-Bình-Dương  Mỹ cho biết ý chí quốc gia đã bị phá hủy bởi “một chiến dịch tuyên truyền khéo léo tiến hành nhằm  lật đổ chính quyền, được hỗ trợ và tiếp tay bởi giới truyền thông chỉ muốn tin giật gân, tin đồn, và phân nữa sự thật” về chiến tranh.  

      The complicity of theU.S.antiwar movement in the fall ofVietnam,LaosandCambodiato Communist terror and aggression has been downplayed to a fault in most American histories of the era. Marxist historian Eugene Genovese finally came to say that many American radicals, like himself, were “accomplices to mass murder” inIndochina. He is among mere handfuls admitting they were wrong in supporting the communists inVietnam.

Việc đồng lõa của phong trào phản chiến Mỹ trong việc sụp đổ của Việt Nam, Lào và Campuchia vào tay bọn  khủng bố và xâm lược Cộng sản đã bị đánh giá thấp về  lỗi lầm trong hầu hết tài liệu lịch sử của thời đại. S giả mác-xít Eugene Genovese cuối cùng đã nói rằng nhiều người Mỹ cấp tiến, như chính ông, đã là “những kẻ đồng lõa trong việc giết người tập thể”  ở Đông Dương. Ông hiếm hoi  là một trong những kẻ đã thừa nhận mình sai lầm khi hỗ trợ bọn cộng sản ở Việt Nam.

Left uncorrected, the history of the Vietnam War becomes a tale of the twilight of a great civilization. WillAmerica, the regime of liberty, fade from history in its growing inability to cope with future enemies (Islamo-fascists, or Chinese totalitarians?) for fear of resurrecting the phantom demons ofVietnam?Hanoi, except for Weatherman, never brought its forces intoU.S.territories.Vietnam, while a vital milestone in the Cold War, never presented the global challenge thatChinanow does.Chinaand Islamo Fascists may deliver nuclear weapons to our homeland by shipping container.

     Nếu không được hiệu đính, bài  sử về chiến tranh Việt Nam sẽ  trở thành chuyện kể  về lúc xế tàn của một nền văn minh lớn. Nước Mỹ, chế độ của  tự do, sẽ rồi phai mờ tan biến trong lịch sử vì tiếp tục không có khả năng đối phó với kẻ thù trong tương lai (Phát-xít Hồi,  hoặc bọn độc tài Trung Quốc) vì sợ vực dậy lại các ám ảnh ma quỷ của thơi chiến tranh Việt Nam? Khôngkể  tới Weatherman, Nội đã  không bao giờ đem lực lượng vô lãnh thổ Mỹ. Việt Nam, tuy từng là  một cột mốc quan trọng trong cuộc Chiến tranh Lạnh, đã không bao giờ tượng trưng cho thách thức toàn cầu mà Trung Quốc hiện nay tiêu biểu. Trung Quốc và Phát-xít Hồi có thể đem vô quốc nội  vũ khí hạt nhân trong các  kiện hàng trên tàu.

     It is time to introduce the characters and to tell the story as yet untold.

     Outof an epic cast of thousands only a few achieved notoriety…until today. . . *.

      Đả tới lúc để giới thiệu các nhân vật và kể câu chuyện chưa được kể.
     Trong ngàn
diễn viên chỉ vài người có tiếng tăm
 … cho đến ngày hôm nay. . . *.

 

 Aspire to inspire before you expire.

http://www.americong.com/

PDF download  19.95 $US

CD                      14.95$US


Một phản hồi to “TS Roger Canfield Tiểu Sử”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: