Roger Canfield’s Americong #182

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộcchiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

**********

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Phần XII:

 LỜI CUỐI:

 

 182. Huyền Thoại Của Một Nước Mỹ Cảnh Sát Trị:

        Liệu Nixon Đã Từng Quá Ư Là Đúng Không?

183. Cho Dù Bất Kỳ Điều Gì Đã Xẩy Ra Cho Tom và Jane  

184. Joan Baez Trắc Nghiệm Lương Tâm Bọn Tả Phái, 1979

185. John Kerry

186. Chúng Nay Ở Đâu Kìa?

187. Tang Vật D: Hayden, Gián Điệp Bắc Cộng?

 

*****

Chương 182

Huyền Thoại Của Một Nước Mỹ Cảnh Sát Trị:

Liệu Nixon Đã Từng Quá Ư Là Đúng Không?

 

 Quyền Phản Đối và Sự Cần Thiết Của Tình Báo Quốc Nội

Thực sự quả là cực kỳ vô lý khi có ai mà chủ trương bọn biểu tình phản chiến thời  Việt Nam phải có cho được một cái quyền tuyệt đối, bất chấp hậu quả và không được quyền đụng chạm đến, để chúng toàn quyền ngăn chận việc bảo vệ chế độ  tự do của Hoa Kỳ và để rồi tiến hành một cuộc cách mạng hầu lật đổ chính quyền. Như David Horowitz và Peter Collier đã từng nói là đã có nhiều tên vẫn cứ sinh hoạt rất là an toàn mà không hề biết sợ hậu quả về tội phản quốc. Việc chính quyền Mỹ cần phải thu thập tin tình báo quốc nội và đôi khi đã truy tố những tên đã cộng tác với kẻ thù trong thời gian chiến là một chức năng chính đáng của mọi chính phủ. 5145

Nhiều tên tả phái đã lập luận là tất cả các tuyên bố về nền an ninh quốc gia đều chỉ là một màn khói hầu che đậy sự đàn áp các đối thủ chính trị. Nhưng trong thời chiến thì yếu tố an ninh quốc gia phải là một thực tế cụ thể vượt xa mọi hoang tưởng của trí óc.

Chiến tranh Việt Nam nguyên là một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh, một cuộc chiến sống còn trên địa cầu mà kết quả đã vẫn chưa được rỏ ràng. Kẻ cực thù của tên điệp viên Liên Xô Alger Hiss là Whittaker Chamber từng phải nghỉ là mình đã lở theo phe thua cuộc mất rồi. Toàn bộ chính sách ngăn chặn và các hệ quả như là hòa dịu, chiến tranh hạn chế, lý thuyết trò chơi và sử dụng áp lực tiệm tiến cộng với kiểu leo thang có tính toán thì thực sự đều vô dụng để chống lại bọn tử thù Cộng sản chuyên viên xâm lược của nhân loại. Chúng ta đã gần như là  thua mất trận Chiến tranh Lạnh do hệ quả của cuộc chiến Việt Nam khi mà ý chí của Mỹ cũng đã cứ lùi bước ở khắp mọi nơi trên thế giới nếu xui xẻo mà Ronald Reagan đã không được bầu lên kịp thời. Với việc ký quyết định hành pháp ‘pardon ~ ân xá’ cho các nhà lãnh đạo FBI  là Felt và Miller, Reagan cho thấy ông có được một sự hiểu biết căn bản về nhu cầu hoạt động tình báo quốc nội, tuy vẫn nằm trong các hạn chế quy định bởi hiến pháp, một khía cạnh mà mãi đến nay vẫn còn bị quá nhiều người không hiểu được vì sao.

Rất là không may, những bài học mà đa số lịch sử từng dạy về các hành động của một “nhà nước cảnh sát trị” Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam đều là hoặc hoàn toàn sai lầm hoặc bị bóp méo đến độ quá ư là lố bịch về tầm quan trọng của các sự lạm dụng của chính phủ. Sự việc đã thành rất phổ biến để thách thức quyền lực hợp pháp của chính quyền trong việc thu thập thông tin tình báo thiết yếu để tiến hành một cuộc chiến tranh hầu bảo vệ quốc gia.

Quyền Phủ Quyết Của Bọn Bất Đồng Chính Kiến ​​Đối Với Nguyên Tắc Đa Số và Sự Sống Còn Của Quốc Gia?

Quyền hạn của đám bất đồng chính kiến ​​đã được nâng lên một vị trí cao hơn cả sự sống còn của quốc gia, một hiệp ước tự sát dựa trên một Cộng hòa Weimar có tính cách tuyệt đối về định nghĩa của quyền tự do ngôn luận.

Stephen Young có viết trên tờ Wall Street Journal 5145 để nhận xét là chiến thắng Bắc cộng đã không chỉ do phong trào phản chiến và cùng chung với sự kiện là các quyền  thiểu số vẫn có thể cùng tồn tại với nguyên tắc đa số quyết định. Điều này chỉ đơn giản là một sự hiểu biết không đầy đủ các nguyên tắc cộng hòa về quyền tự trị. Quyền của thiểu số không thể được đặt ngang hàng với nguyên tắc đa số, và không nên được biến chế méo mó thành hoặc là một quyền phủ quyết quyết định của đa số hoặc là  một sự tái định nghĩa tính cách đại diện của chính quyền. Như Đại tá Joseph P. Martino, Không quân Hoa Kỳ (về hưu) từng đã viết:

… Ta phải có quyền chống lại [bọn] bất đồng chính kiến​​ mà đã có những hành vi hợp tác với kẻ thù. Ta không được cho phép đối phương can thiệp vào chính trị nội bộ của chúng ta, cho ngay cả dưới hình thức giả dạng bất đồng chính kiến​​. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng”. 5146

Các quyền cho phép bọn thiểu số phủ quyết nguyên tắc đa số quả là một sự thách đố có tính cách tương đương với việc chấp nhận chế độ độc tài và toàn trị, một mục tiêu thật sự mà nhiều tên “trí thức” trong phong trào “chủ hòa” đã thực sự nhắm đến. Tuy nhiên, Đại hội Lập Hiến tháng 8 năm 1787 đã có sẳn một giải pháp hầu dung hòa nhu cầu của một chính quyền trung ương mạnh mẻ với các quyền hạn được quy định rỏ ràng và một Bill of Rights (Quyền Công Dân) mà sẽ sớm đề cao vĩnh viển các quyền dân sự cá nhân.

Tu chính án số 1 đã không hề lẻ loi hay nằm ngoài các phần còn lại của Hiến pháp.

Thomas Jefferson, vị cha đẻ mà cũng là một người chủ trương ủng hộ các quyền cá nhân, đã viết, “Các luật cần thiết, để sinh tồn, để bảo vệ đất nước của chúng ta trong cơn hiểm nguy, đều nằm ở một trí ưu tiên hơn tất cả”.

Có nhiều người lập luận là nói riêng, Việt Nam không hề có được một giá trị chiến lược nhỏ nhoi nào đối với Mỹ mà cũng không hề đe dọa đến sự sống còn của đất nước Hoa Kỳ, nhưng khổ nổi là Hà Nội lại có tham vọng thống trị toàn cõi Đông Dương còn bọn đồng minh cộng sản của chúng thì lại đang có mưu đồ chiến lược hầu đánh bại Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn cầu được gọi là chiến tranh Lạnh. (Nhật Bản thời Nhật Hoàng thì đã từng nhận thấy Việt Nam có giá trị chiến lược rồi trong trong Thế chiến II như Bill Rood đã cho biết). 5147 Bắc cộng, Liên Xô và Trung cộng đã chọn Việt Nam như một chiến trường để đọ sức trong Chiến tranh Lạnh cũng như là Hoa Kỳ.

Một chủ đề chính yếu trong các vụ bê bối Watergate đã là các hành động của Richard Nixon, đó là chưa kể đến của LBJ, JJFK và J. Edgar Hoover, một sự kiện chưa từng xẩy ra bao giờ. Đúng ra thì họ đã chỉ viện dẫn mục đích an ninh quốc gia để biện minh cho việc giám sát và phá rối mấy hội đoàn cùng cá nhân bất đồng chính kiến, từ bọn phản chiến cho tới tụi Weather Underground.

Tuy nhiên, việc đụng chạm giữa tiêu chuẩn an ninh quốc gia và tiêu chuẩn quyền của cá nhân thì đã có căn nguyên từ ngày thành lập nền Cộng hòa và kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay.

Lịch sử về Hoạt động An Ninh Quốc Gia ở Mỹ.

Các vị Tổng Thống trước, kể từ Lincoln, Wilson, Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy và Johnson thì đều nhận ra được các lợi ích về an ninh quốc gia trong nhiệm kỳ của họ. Mọi người và luôn Richard Nixon cũng chỉ nhằm giữ gìn đất nước cho an toàn thôi.

Quốc hội  ‘Continental Congress’

Trong cuộc Chiến tranh Cách mạng (Revolutionary War), vào ngày 9 tháng 11 năm 1775, Quốc hội ‘Continental Congress’ đã chuẩn phê một lời thề bảo mật:

Chuẩn phê: Là mọi thành viên của Quốc hội này tự coi mình như bị ràng buộc về đạo đức, danh dự và lòng ái quốc, hầu không được quyền tiết lộ, trực tiếp hay gián tiếp, mọi vấn đề hay điều đã được tranh luận hay bàn cãi tại Quốc Hội … mà một đa số của Quốc hội đã quyết định phải bảo mật. Và nếu bất kỳ thành viên nào mà vi phạm sự thỏa thuận này thì sẽ bị trục xuất [khỏi] Quốc Hội này, và sẽ bị xem như là kẻ thù của các quyền tự do của Mỹ, và sẽ bị đối xử thích đáng.

Thomas Jefferson

Việc bảo mật sẽ sớm biến thành một mối lo âu để làm sao bảo vệ nền cộng hòa yếu ớt vẫn còn rất là non trẻ như Thomas Jefferson đã từng phải viết:

[a] tuyệt đối tuân hành luật thành văn rỏ ràng là một trong những nhiệm vụ cao quý … nhưng đó không phải là tối thượng.

Pháp luật cần phải có, hầu tự sinh tồn, hầu giữ đất nước của chúng ta khi nguy biến, thì đều là những nghĩa vụ cao cả hơn.

Để mất đất nước của chúng ta bằng việc tuân thủ quá ư là tỉ-mỉ theo luật thành văn thì cũng đồng nghĩa với việc rồi cũng sẽ đánh mất luật đó mà thôi, với luôn cả sinh mệnh, tự do, tài sản …;. và do đó, quả thật chỉ là việc ngu xuẩn hy sinh cứu cánh cho phương tiện mà thôi”.  5148

Abraham Lincoln

Trong thời Nội chiến, khi phải đối phó với Đảng Dân chủ đang chủ trương “hòa bình” và cộng tác với kẻ thù Liên minh ‘Confederate’ miền Nam, rồi còn giúp bọn đào ngũ và khuyến khich đánh bại bên ‘Union’ (Thống Nhất), thì Tổng thống Abraham Lincoln đã đình chỉ điều luật ‘habeas corpus’, đóng cữa tờ Chicago Times và cho bắt giữ nhiều người theo một thủ tục rất đơn giản. Ông đã truy tố Thượng nghị sĩ Clement Vallandigham Laird ra trước một tòa án quân sự và đày ông này phải về định cư ở miền Nam. 5149

Trong một đọan về việc hạn chế các quyền hạn của Quốc hội (Điều I, Đoạn 9), Hiến Pháp có khẳng định:

“Đặc quyền về luật ‘habeas corpus’ sẽ không được đình chỉ, trừ khi nếu sẽ gây ra nổi loạn hay xâm phạm đến an ninh công cộng thì có thể thi hành việc đó”.

Với một cuộc nổi loạn đang xẩy ra thì Abraham Lincoln đã không chờ Quốc hội chuẩn phê. Lincoln bèn cho phép bắt giữ theo quân luật và đã bỏ tù không ít hơn là 14.401 thường dân. Lincoln nói: “… sẽ không có khã năng [là] tôi lại bị đổ lỗi là đã bắt giam quá ít thay vì là quá nhiều”.

Lincoln tuyên bố là các tiểu bang thuộc Confederation đã “thực sự thành lập trong nội bộ chúng ta một đội ngũ hữu hiệu nhất về gián điệp, điềm chỉ viên, yểm trợ và giúp đở cùng xúi giục mục tiêu của chúng” dưới “bộ mặt ‘Tự Do . . . và ‘ Habeas corpus’”. Lincoln đã bắt hay ngăn cản 5150 đượcnhiều gián điệp, đã cứu được ‘Union ~ Liên minh Thống Nhất’ và đã bị bọn mưu đồ thuộc ‘Confederation’ miền Nam ám sát chết.

Woodrow Wilson

Ngay trước khi Mỹ tham gia vào Thế Chiến I, một đạo luật năm 1916 đã cho phép Bộ Ngoại giao được tiến hành hoạt động tình báo chống lại các gián điệp của các cường quốc nước ngoài. Tổng thống Woodrow Wilson ra lệnh cấm gửi qua bưu điện các truyền đơn phản chiến và thuộc khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đã truy tố nhiều lãnh tụ cấp tiến chiếu theo Đạo Luật Gián điệp, đã trục xuất những tên khác, đã cho phép đột nhập kiểm tra nhiều tổ chức và nhiều cuộc hội họp, và đã dùng quân đội để dẹp bỏ nhiều cuộc đình công.

Herbert Hoover

Ngay sau khi bọn Bolshevik đảo chính lật đổ chế độ dân chủ Kerensky ở Nga thì  Tổng thống Herbert Hoover bèn cho điều tra đám cộng sản trong chính phủ mình.

Franklin Delano Roosevelt

Cho dù Quốc hội đã cấm nghe lén điện thoại trong năm 1934, Franklin Delano Roosevelt vẫn đã quyết định, và sau đó thì các tòa án cũng cùng đồng ý, là sự ngăn cấm này không áp dụng đối với các mối đe dọa về nền an ninh quốc gia, tức là đối với Đức quốc xã và Cộng sản. Trong tháng 6 năm 1939, Roosevelt bí mật chỉ thị cho  FBI để điều tra mọi hoạt động gián điệp và phá hoại quốc nội. Năm 1940, ông còn ra lệnh phải nghe để đề phòng “bọn bị nghi ngờ đang hoạt động lật đổ Chính phủ Hoa Kỳ”.

Trong Thế chiến II, FBI đã chận lại để kiểm tra các điện tín của Trục Đức, Ý và Nhật Bản, đã mở thơ từ của các nhà ngoại giao thuộc Trục và cũng có đột nhập vào nhà họ vì lý do gián điệp. Franklin Delano Roosevelt đã tống giam hay cưởng bách di tản hàng ngàn người Nhật mà chỉ căn cứ nơi một tin tình báo cho biết là đã có một vài tên Nhật thực sự làm gián điệp và là điệp viên của Đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến II. 5151 Vàthật vậy, chính vị Giám đốc FBI là Hoover,chớ không hề là đám cộng sản không tưởng nào đó, mới đã phản đối sự giam giử tập thể người Nhật như vậy vì lý do, làm như vậy thì chỉ có nghĩa là “đầu hàng chiến dịch  kích động quần chúng”. 5152  CảTổng thống Roosevelt lẫn Chánh Nhất Tối Cao Pháp Viện Earl Warren đều chủ trương là các thủ tục thực thi pháp luật quá nghiêm ngặt sẽ cản trở việc thu thập tin tình báo để bảo vệ nền an ninh quốc gia. (Cũng như sau ngày 11 tháng 9 năm 2001)

Harry Truman

Năm 1946, Tổng thống Truman có cho phép nghe lén trong những “trường hợp có tính cách chết sống cho an ninh quốc nội”,  cũng như để thu thập tin tình báo ngoại quốc.

Vào năm 1950 và 1954 thì Quốc hội liên tiếp ban hành luật Internal Security Act (Bộ Luật An Ninh Quốc Nội) và Communist Control Act (Đạo luật Kiểm soát Cộng sản)  để hợp pháp hóa các thẫm quyền điều tra mà đã từng được các vị Tổng Thống ra lệnh thi hành. 5153

Tại Việt Nam, Tổng Thống Johnson và Nixon đã chứng tỏ có vẻ tự kiềm chế hơn nếu so với các người tiền nhiệm. Và ngược lại với tiếng đồn, Johnson và Nixon đã rỏ ràng có một chính sách khác xa với cái bị gọi là thành lập một nhà nước cảnh sát trị thực sự.

Việt Nam: Chu Toàn các Nghĩa Vụ Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia Nhưng Trong Hạn Chế

Ráng thi hành nhiệm vụ của mình, tuy bị hạn chế bởi một sự kiềm soát không hề có đối với các cơ quan khác, FBI, NSA, DIA, ONI, cảnh sát địa phương và CIA 5154 đã cùng nhau cố gắng khám phá ra những hành vi cộng tác với địch. Các phương pháp thường dùng đều là dùng nhân viên theo dõi, xâm nhập và cũng rất hiếm khi thì cũng phải làm gián đoạn các cuộc hội họp công cộng. Các sở cảnh sát ở Los Angeles, San Diego, Chicago, Detroit và New York đã từng sử dụng các “red squads ~ hồng đội”, để cùng hợp tác với FBI hầu thu thập tin tức về hàng ngàn cá nhân từng  tham gia vào các tổ chức cộng sản hay chính trị quá khích.

Các phương pháp kỹ thuật thì chỉ là chận nghe các cuộc đàm thoại của các tên hiếu động mà đã từng bị nhận dạng cùng một số ít các nhóm chủ chốt thường xuyên giao tiếp với kẻ thù, bằng máy vi-âm, nghe trộm điện thoại, bám sát theo dõi.

Các hành vi bị hạn chế và bị quy định cứng ngắt như vậy thì quả chỉ có tính cách cẩn thận chớ không thể nào là của một nhà nước cảnh sát trị chính hiệu được.

Cảnh sát Chicago đã từng theo dõi những việc làm của 50 trong số cả 2.000 tổ chức (3/10 của một phần trăm) và 200 cá nhân trong tổng số 3.000.000 dân cư (7/10 của một phần trăm). 5155

Quan điểm thật sự của Giám đốc FBI J. Edgar Hoover về vụ nghe lén đã bị bóp méo.

“Khi tôi được bổ nhiệm làm Giám đốc thì lịnh đầu tiên là ngưng tất cả mọi việc nghe lén và …. Tôi đã không bao giờ là một đệ tử của việc nghe lén. … Tôi đã không hề cho phép nó [trong thời gian cấm đoán] …

Chúng tôi đã không làm điều đó mãi đến Thế chiến Thứ hai … Chúng tôi đã từng bắt được các tên gián điệp của các cường quốc thù địch ở đất nước này bằng kỹ thuật nghe lén điện thoại, chúng tôi đã đành phải dùng đến nó. …

Hôm nay [Tháng 11 năm 1970], chúng tôi đang có [con số bị kiểm duyệt] vụ đặt máy nghe lén trên toàn quốc để đối phó với hoạt động gián điệp và phá hoại … mọi người đều nghĩ là chúng tôi đang có cả hàng ngàn”.

Hoover đã có cho một nhà điểm sách biết như vậy . 5156

FBI đã có nghe lén điện thoại của 17 tới 30 cá nhân vào năm 1970 trong số hơn 220 triệu người dân Mỹ. Một phần của những vụ này đã là nhằm đối phó với việc tiết lộ các tin cần bảo mật trong thời chiến.

Nhằm khám phá ra các nguồn tiết lộ trong thời chiến về tin tức của các hoạt động quân sự và các chiến lược ngoại giao, những điều tối mật khi có giao chiến, thì Tổng Thống Johnson và Nixon đã ra chỉ thị cho phép nghe lén điện thoại và theo dõi một số tương đối ít nghi can.

Những mục tiêu đó là các phóng viên và ngay cả nhân viên Tòa Bạch Ốc, cũng như các kẻ từng tự mô tả là nạn nhân của việc giám sát độc tài và bất thường thuộc các nhóm tự xưng là hoạt động cho “hòa bình” và cho “các quyền công dân”. Số lượng đặt máy nghe lén để truy tìm các nguồn tiết lộ tin cho báo chí tổng cộng là 10, 10 và 5 trong các năm 1970, 1971 và 1972. 5157

Quả đó không thể là một mẻ lưới quét sạch được hết cá.

COINTELPRO –  Các Chiến Dịch Gây Xáo Trộn Trong Các Tổ Chức

Từ 1956 đến 1971, các điệp viên Mỹ đã thâm nhập được và đôi khi, trong Chương trình COINTELPRO, đã gây xáo trộn trong các nhóm mà phần lớn là những tổ chức Cộng sản. Chúng đều đã rất là trung thành với các cường quốc nước ngoài và cùng nhau quyết chí phải lật đổ cho được chính phủ Hoa Kỳ.

Vào ngày 8 tháng 3 năm 1956, Hoover đã tường trình cho Tổng thống Eisenhower và toàn bộ Hội đồng An ninh Quốc gia về các biện pháp của FBI nhằm chống lại các mưu đồ gián điệp và lật đổ chính quyền của bọn Cộng sản với kế hoặch COINTELPRO. Đã không có bất kỳ ai lên tiếng phản đối. Dĩ nhiên rỏ ràng là các cuộc điều tra của FBI và những lần đột nhập cũng như là các lần  giải mã bí mật Venona đã cuối cùng khiến FBI không có còn nghi ngờ gì nữa là Liên Xô với các bộ phận KGB và GRU của chúng quả thật đang sinh hoạt núp bóng dưới cái vỏ ngoài là đảng CS Mỹ CPUSA, cũng như là của rất nhiều mặt trận ngay bên trong Hoa Kỳ trong nhiều thập niên qua. Các cường quốc nước ngoài đã đánh cắp các bí mật về chính sách và công nghệ, đã tìm cách xúi dục bạo loạn gây bất ổn trong nước và giúp đở (từng thời gian một) hầu dùng bạo lực lật đổ chính phủ Mỹ. Trong tổng số 2.370 kế hoặch của COINTELPRO kéo dài quá 15 năm thì 58% đã là để chống lại Đảng Cộng sản. 5158

Với việc các chính trị gia và các người dân thường cùng lên tiếng đòi hỏi phải có phản ứng, và với sự ủng hộ tuyệt đối của các Tổng Thống Johnson và Nixon, FBI bèn dùng COINTELPRO để chống lại cái bọn từng tự khoe là những kẻ chuyên giết cảnh sát và là những nhà cách mạng, để dẹp các rối loạn đô thị và các cuộc nổi loạn trong các khuôn viên đại học. COINTELPRO cho phép các nhân viên FBI được quyền “vạch trần, phá vỡ, đánh lạc hướng, làm mất uy tín hay nếu cần thì vô hiệu hóa” các hoạt động của các nhóm cực đoan tả phái được chọn lọc mà FBI đã có bằng chứng để tin là chúng đang bị thao túng bởi các cơ quan tình báo ngoại quốc thù địch.

COINTELPRO đã tìm cách quấy rối, đe dọa và vô hiệu hóa đám Klu Klux Klan từng chuyên treo cổ các nạn nhân cũng như đặt bom nổ để khủng bố, cả bọn Black Panthers chuyên ám sát sĩ quan cảnh sát, đảng Socialist Worker’s Party (Công Nhân Xã Hội) với khuynh hướng Tờ-rốt-kít cách mạng, cái tổ chức khủng bố Weather Underground chuyên viên đặt bom, và dĩ nhiên, cái Đảng Cộng sản Hoa Kỳ do Liên Xô kiểm soát.

Nhiệm vụ của đám diễn viên chính được nêu ra trong cuốn sách này thì đều chắc chắn không khác gì nếu so với các dòng mô tả khã năng về nghề nghiệp trong sơ yếu lý lịch để xin việc của đám gián điệp tâm lý chiến cũng như của số điệp viên lấy tin của các cường quốc nước ngoài. Chúng đã cho xuất bản và phân phối sách vở tài liệu của chúng để đề cao lập trường cùng hành động phải có hầu yểm trợ các chiến thuật và chiến lược cụ thể của địch trong thời chiến. Trừ một số đã bị tuyên án chỉ về hình tội thông thường, hành hung, cướp có vũ khí và cố sát thì rất là ít đã phải thực sự vô tù nằm.

Mọi chứng cớ về một nhà nước Mỹ cảnh sát trị đều rỏ ràng là gian dối.

Đã có rất nhiều tên tự tuyên bố mình đã là nạn nhân vô tội từng bị hành hung chỉ vì đã dám phát biểu quan điểm chính trị của riêng mình. Rồi thì FBI cũng đã từng bị buộc tội cố ý phá rối bất kỳ ai dám có một quan điểm chính trị, với biệt lệ chắc  có lẽ chỉ là Phòng thương mại Mỹ mà thôi thì khỏi bị vậy. Quả thật khó để phân biệt ra thế nào là cuồng loạn tâm thần với các hành vi cố tình bóp méo sự thật.

Những Cáo Buộc Hoang Dại về Việc Bị Trước Bỏ Quyền Tự  Do Ngôn Luận và Quyền Tụ Họp

Danh sách các nhóm tự cho là nạn nhân về việc bị tước bỏ quyền tự do ngôn luận gồm có Weathermen, Southern Christian Leadership Conference, Ku Klux Klan, Socialist Worker’s Party, Students for a Democratic Society, Student Nonviolent Coordinating Committee, Black Panthers, Republic of New Africa,  Puerto Rican independence groups, American Indian Movement, Communist Party-USA, Mississippi Freedom Democratic Party, NAACP, National Lawyers Guild, National Committee to Abolish the House Un-American Activities Committee và Women’s Strike for Peace.

Ngoài ra thì cũng có American Friends Service Committee, National Committee for a SANE Nuclear Policy, Puerto Rican Socialist Party (PSP) and Socialist League (LSP), các tổ chức cực đoan Mể Brown Berets, Crusade for Justice (Colorado), La Alianza (New Mexico) và Chicano Moratorium to End the War in Vietnam (Los Angeles), Socialist Workers Party, Young Socialist Alliance, National Mobilization Committee to End the War in Vietnam, Nation of Islam (“Black Muslims”), National Welfare Rights Organization, League of Black Revolutionary Workers, Dodge Revolutionary Union Movement (DRUM), Revolutionary Action Movement (RAM), Republic of New Afrika (RNA), Congress of African People, các hiệp hội sinh viên da đen, Students for a Democratic Society (SDS), Peace and Freedom Party, Institute for Policy Studies, “White Hate Groups” Ku Klux Klan, Nazis, Vietnam Veterans Against the War.

Một số mục tiêu riêng rẻ có bị truy tố thành công nhưng với một số khác thì không hề bị gì cả.

Một lần nữa, danh sách các mục tiêu được nêu ra quả là dài và đã gồm có Malcolm X, Martin Luther King, Jr., tay lãnh tụ AIM Leonard Peltier, thành viên Black Liberation Army (BLA) Sundiata Acoli, Assata Shakur, Dhoruba Al-Mujahid Bin Wahad (nguyên trước kia tên là Richard Moore) và bộ 3 New York (Herman Bell, Anthony “Jalil” Bottom với Albert “Nuh” Washington), Cesar Chavez, các tay linh mục Daniel và Phillip Berrigan, mục sư Jesse Jackson, David Dellinger.

Như ta đã thấy ở trên thì rất nhiều các cá nhân và các nhóm đó đều đã xứng đáng để bị FBI chú ý đến.

Tuy nhiên nói vậy chớ thật sự vấn đề là sự loanh quoanh rất là đáng nghi ngờ trong cái danh sách dài của các mục tiêu từng tự cho mình là nạn nhân.

Khi được chấm dứt vào ngày 28 tháng 4 năm 1971, thì độ 1.182 điệp vụ của COINTELPRO  đã không nhắm vào đảng CS Mỹ CPUSA và tổ chức SWP mà trong đó thì có 289 vụ là chống lại các nhóm bạo lực da trắng kỳ thị (KKK), 362 vụ thì chống lại đám chủ nghĩa dân tộc da đen chủ trương bạo lực (Black Panthers, SNCC) và 285 vụ thì đối với các thành phần khủng bố Tân Tả (Weather Underground). 5159

Các điệp vụ của COINTELPRO nhắm vào bọn Tân Tả chỉ là 8.3% trong tổng số. Số 91.7% còn lại thì dính líu rất ít hay gần như là hoàn toàn không dính líu gì tới việc bọn Tân Tả đã từng chống chiến tranh.

COINTELPRO đã bị cáo buộc: bôi xấu các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ​​thuần túychỉ để quy kết họ làm gián điệp cho ngoại quốc; “chế tạo” để cho xuất bản những bài và sách báo; và thi hành một chính sách khủng bố được chính phủ bảo trợ (bắt giữ sai lầm, bản án sai trái, đe dọa và thậm chí cả ám sát). Tên thành viên SDS và cũng là giáo sư luật đại học Fordham, Brian Glick với quyền War At Home: Covert Action Against U.S. Activists and What We Can Do About It, (South End Press; Boston, 1989) đã đúng là tiêu biểu cho rất ư là nhiều, nhiều lắm sách kể về những đề tài đen tối đó.

Tom Hayden: Một  Mục Tiêu Của COINTELPRO

Và chiếu theo các hồ sơ tại văn phòng Newark của FBI, nơi rất quan tâm đến nguồn gốc của các cuộc bạo loạn Newark vào năm 1967, một kế hoạch đã được đề nghị hầu “dẹp hay vô hiệu hóa” một tên chuyên về tổ chức cộng đồng là Tom Hayden bằng cách hoạt động ngay trong nội bộ của phong trào do y dẫn dắt. Việc sử dụng những mối hăm dọa cổ điển nhằm gây tai tiếng cá nhân cho y đã đều không thành công. FBI đã không thể châm biếm Hayden hay các tên lãnh tụ Tân Tả khác nếu chỉ nêu ra các lời tuyên bố tục tĩu của chúng, hay những hành xử ái nam ái nữ hỗn tạp của chúng, rồi nào là “sì ke, áo quần thì bẩn thỉu, tóc tai thì bờm xờm … luôn luôn chỉ biết mang dép mà lại còn bày đặt đeo đồ trang sức bằng hột bẹt”, bởi vì đó chính là thái độ phản kháng xã hội của chúng. Văn phòng Newark đã có ý kiến là Tom Hayden có thể bị cáo buộc là một tên điềm chỉ, một ‘Fink’. Điều này khã dỉ có thể thực hiện được vì “khã năng tài chính vô giới hạn rất rõ ràng của y đã cứ cho phép y đi khắp nơi, ra vô nước Mỹ như đi chợ trong khi không hề có một nghề nghiệp hay nguồn tài chánh nào cả”.

Đã không hề có tài liệu lịch sử nào để cho biết là một kế hoạch như vậy đã được thực hiện để đối phó với Tom Hayden. 5160 Trong thực tế, FBI Trung ương đã bác bỏ tới 777 điệp vụ COINTELPRO trong suốt hơn 15 năm hiện hữu của nó. Hồ sơ FBI về Hayden thì cũng vẫn cứ bám theo y khi Tom Hayden đã dọn về Chicago và tổ chức thành công làm gián đoạn Đại hội đảng Dân chủ trong năm 1968 mà không hề bị bất kỳ sự can thiệp nghiêm trọng nào cả.

Thật vậy, 58% của mọi hoạt động của COINTELPRO đều đã chỉ nhằm chống lại Đảng Cộng sản, 5161 một công cụ được biết đã từ lâu là của Liên Xô. Chỉ có một số rất ít nhóm quốc nội đã bị dính vào chương trình thu thập tin tình báo quốc nội của FBI, và một số không phải là ít đã đành lòng bỏ đi theo địch trong thời Chiến tranh Lạnh.

Các Điệp Vụ Bất Hợp Pháp Của CIA

Một cách bất hợp pháp, CIA đã có trả tiền cho độ một tá nhân viên không hơn 100 đô Mỹ mổi tháng để ráng trà trộn xâm nhập vô nhiều nhóm, kể cả Women’s Strike for Peace (Phụ nữ Tấn công Dành Hòa bình) và Congress of Racial Equality (Hội đồng Bình đẳng Chủng tộc) để có thể nắm vững tình hình hầu kiểm soát các cuộc biểu tình có thể gây nguy hiểm cho nhân viên hay các cơ sở của CIA. Họ đã thành lập được cho tới 800 hồ sơ cá nhân. Sau khi Sở Cảnh sát Washington thay thế làm việc này thì CIA bèn chấm dứt việc trà trộn trong quốc nội. Ủy ban Rockefeller có cho biết CIA đã “vượt xa hơn là cần thiết để bảo vệ các cơ sở, nhân sự và điệp vụ của mình và do đó, đã vượt quá thẩm quyền theo luật định dành cho CIA”.  Ủy ban cũng phát hiện ra là CIA đã từng giao nhiệm vụ cho nhân viên theo dõi các phóng viên vào những năm 1967, 1971 và 1972 trong một nỗ lực để cố xác định nguồn gốc của các vụ tin mật bị tiết lộ. 5162

Theo Dõi Trong Quốc Nội

Cũng như với đề tài COINTELPRO, các cáo buộc về việc theo dõi trong quốc nội đã từng bị cực kỳ phóng đại.

Số trường hợp đặt máy nghe lén điện thoại trong nước và gài dụng cụ (máy vi âm trong phòng) mà từng đã được chấp thuận một cách hợp pháp bởi các vị Chưởng Lý thì đều đã bị thổi phồng và bóp méo khi ta tính đến cả toàn bộ phần hành của FBI. Chỉ bằng cách đếm từng những lần đặt máy nghe lén và dùng máy vi âm hầu đối phó với bọn tội phạm có tổ chức, đám buôn bán ma túy và mấy tên bị tình nghi từng bắt cóc người, cùng bọnphạm pháp thì mức độ nghe trộm và đặt dụng cụ để thu thập tin tình báo chỉ sẽ gây ra một ấn tượng sai lầm về một nhà nước cảnh sát trị đầy áp bức mà thôi.

Đặt Máy Vi Âm Nghe Lén

Từ năm 1960 đến năm 1975, trong tổng số 509 vụ gài máy nghe lén và đặt máy vi âm tronggia cư thì gần cả 66,9 % đều chỉ là để thu lượm tin tình báo hay là điệp vụ phản gián ngoại quốc chớ hoàn toàn không phải để sách nhiễu những người biểu tình. Mục tiêu an ninh quốc nội  5163  chỉ là phụ thuộc vô tình dính theo, chớ không phải là mục đích chính của các vụ gài máy vi âm nghe lén.

Hành vi đặt máy vi âm thu lén như vậy trong các phòng ở và các văn phòng đã lên đến cực điểm là 106 vụ trong năm 1964 để rồi giảm xuống chỉ còn 42 vụ trong năm 1974. Bộ Tư pháp đã cho phép FBI sử dụng máy vi âm hầu giúp khám phá hoạt động của bọn gián điệp, bọn khã dỉ có thể là đám phá hoại và mưu đồ lật đổ chính phủ trong nhiệm vụ tình báo cũng như là trong vai trò tìm để  truy tố về hình sự các tổ chức tội phạm, ma túy và bắt cóc người. 5164 Với con sốít hơn là 170 mục tiêu để đặt máy vi âm trên một tổng dân số 220 triệu thì rỏ ràng đó đã là một công tác cực kỳ tự hạn chế và có tôn trọng các quyền dân sự của người công dân. Cả đám hàng trăm ngàn tên từng biểu tình phản đối chính phủ của họ thì lại hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì cả.

Chận Nghe Lén Điện Đàm

Từ năm 1963 đến 1974 thì tổng số nghe lén của FBI đã lên nhiều nhất tới 260 vụ trong năm 1964 và rồi nói chung thì đã giảm lần sau đó và chỉ còn có 190 vụ vào năm 1974 mà thôi. 5165

Công Tác Túi  Đen: Xâm Nhập Bất Hợp Pháp

Các chuyện với chủ đề về loại công tác túi đen của FBI đã từng tràn lan khắp nơi, tức là xâm nhập mọi nhà của mọi người ở khắp mọi nơi. Đúng, từ năm 1942 đến 1967, nhân viên FBI đã từng đột nhập văn phòng của các cá nhân và / hoặc tổ chức đã được lựa chọn để chụp hình vi phim các tin tức tìm thấy được trong hồ sơ của chúng. Trên thực tế thì các sự kiện lại có tính cách khiêm tốn hơn như là từng đã bị cáo buộc.

Trong 26 năm, từ 1942 đến tháng 4 năm 1968, thì FBI đã tiến hành 238 lần xâm nhập “lén lút”,  thường là dùng chìa khóa làm giả, chỉ nhằm vào có 14 mục tiêu mà đều là những nhóm quốc nội chủ trương bạo loạn lật đổ chính quyền.

Thật vậy, vụ Watergate đột nhập tại trụ sở của đảng Dân chủ chỉ là một việc làm có tính cách của bọn công tác vô-lại chớ không hề đúng nghĩa là một công việc của FBI hay CIA, và nội vụ đã bị biến cải, vụng về bóp méo thành cái quan niệm sai lầm là mọi hoạt động tình báo đều chỉ đơn giản là những vụ tấn công bất hợp pháp vào các đối thủ chính trị bình thường thôi. Nói chung chung là không còn phân biệt tốt xấu nữa.

Điệp Vụ ‘Modest ~ Khiêm Nhường’ Của CIA:

Đồ Trang Bị, một Bức Thơ Nhỏ, Các Hội Nghị Hải Ngoại

Trong một số trường hợp thì CIA đã có cung cấp thiết bị cho cảnh sát địa phương và Sở Mật Vụ Secret Service nhưng đã không hề bao giờ sử dụng máy nghe lén điện đàm hay gài máy vi âm trong quốc nội. Các điệp vụ của CIA mà đã từng bị ồn ào chống đối thì lại khá khiêm tốn trong thực tế. Đến tháng 8 năm 1967, do sự thúc hối của Tổng thống Johnson thì CIA có tổ chức Chiến dịch CHAOS.

Số thơ từ mà Sở CIA New York đã chận kiểm của một danh sách 41 công dân Hoa Kỳ bị liệt kê cần theo dõi  5166 mà đang tiếp xúc với các “cơ quan chính thức”  5167 của Liên Xô thì cũng chỉ chứa đầy có hai ngăn kéo mà thôi. “Tất cả đều chỉ là thơ từ hay tài liệu tương tự như thường có giữa Hoa Kỳ và Liên Xô”. Thật vậy, “chỉ có một số ít mới đã thực sự bị khui ra kiểm”. 5168 Tay luật sư Stanley Faulkner, một kẻ từng sớm tham gia các mặt trận Cộng sản, đã được bồi thường 1.000 đô Mỹ chỉ vì CIA đã bất hợp pháp khui một trong những bức thơ y từng gởi cho các viên chức Liên Xô. 5169

CHAOS cũng có theo dõi đám hoạt động phản chiến đi dự các hội nghị hòa bình quốc tế. 5170 “Các thông tin liên lạc giữa Hoa Kỳ và các quốc gia ngoại quốc. Không có tin nào đã chỉ là thuần túy thuộc quốc nội”. Thật vậy, chúng ta có thể lập luận rằng CIA đã thất bại không chu toàn được nghĩa vụ trên đấu trường quốc tế mà nguyên thuộc chính trách nhiệm và sứ mệnh của họ.

Các Điệp Vụ ‘Minaret’ và ‘Shamrock’ Của 

Cơ Quan An Ninh Quốc Gia NSA:

Điện Thoại và Điện Tín Quốc Tế

Trong tháng 7 năm 1969, ngay đúng lúc một đội ngũ SDS đang hội họp tại Cu-ba với Việt cộng thì Cơ quan An ninh Quốc gia NSA bèn khởi xướng điệp vụ Minaret. Năm trước đó thì một đám SDS khác cũng đã có mặt tại Havana để tiếp xúc với bọn bạo loạn từng phá rối đại hội tại Chicago. Điệp vụ này nhằm theo dõi các tiếp xúc, điện thoại, điện tín quốc tế của một danh sách cần theo dõi về những tên Mỹ bất đồng chính kiến từng ​​có liên hệ đến những vụ rối loạn dân sự và các hoạt động phản chiến.

Chiếu theo dữ kiện thuộc lời khai trình của Trung tướng Lew Allen trước Ủy ban Church thì NSA có theo dõi các liên lạc ngoại quốc của một số nhà hoạt động và của 300 nghi phạm khủng bố cũng như là một số phạm hình tội khác, cùng 445 tên buôn bán ma túy và 180 tên có khả năng ám sát Tổng thống. 5171

“Mọi tin nhắn [của bọn hoạt động và nghi can về khủng bố] đều đã có ít nhất là một địa chỉ để gởi ở ngoại quốc” và “hơn 90 % thì có tối thiểu là một đối tượng ngoại quốc”. Tướng Allen đã nói: “Các thông tin liên lạc đã thulượm được, chẳng hạn như bằng cách theo dõi thông tin liên lạc đến và đi từ Hà Nội”, quốc gia đang giao chiến với Mỹ.

Các Đối Tượng Của NSA Đã Rất Là Ít

Đến cuối năm 1973 thì NSA đã có chận kiểm các thơ từ liên lạc của 168 công dân và tổ chức Mỹ nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể của FBI, CIA, DIA, Sở Mật Vụ và các cơ quan khác. 5172 Số lượng 300 hay 168 quả không là những con số lớn đáng kinh ngạc  trong số cả hàng triệu kẻ từng phản chiến và hàng trăm ngàn tên từng xuống đường trong các cuộc bạo loạn cũng như các cuộc biểu tình ôn hòa.

NSA đã không hề tiến hành một chương trình giám sát toàn diện, như là thực hiện một mẻ lưới kéo lien hệ đến cả hàng trăm ngàn người như từng đã bị thường xuyên cáo buộc một cách sai lầm. Hơn nữa, điệp vụ MINARET đã được phân loại và hạn chế và không có nguồn tin nào đã bị tiết lộ danh tính và mọi việc truy tố hay cho sử dụng công khai đều bị cấm. Bộ sưu tập vĩ đại về các điện tín ngoại quốc của NSA thuộc điệp vụ SHAMROCK rất có khả năng để bị lạm dụng, nhưng số nhân viên trực thuộc thì rất là ít và thực sự đã không hề bị lạm dụng như ta đã từng biết được cho đến mãi ngày hôm nay.

Các Điệp Vụ Quân Báo

Cũng giống vậy, chiến dịch thu thập tình báo của quân đội Mỹ có thể đã từng là như một cái máy hút bụi, nhưng các máy điện toán của họ chỉ toàn chứa dữ liệu vô dụng 5173 mà Quân đội rồi thì cũng đã sẽ hủy bỏ một cách không luyến tiếc, và vì quá hăng say để tránh mang tiếng xấu, lại đã phá bỏ toàn bộ khả năng phản gián của quân đội Mỹ mất đi. 5174

Các Vụ Điều Tra của Internal Revenue Service (Sở Thuế Lợi Tức Quốc Nội)

Thi hành đúng theo thẩm quyền quy định bởi bộ luật Trading with the Enemy Act (Giao Thương với Địch) nhằm cho phép kiểm tra các dịch vụ tài chánh với Hà Nội và các nước cộng sản khác, Ủy ban  Activist Organization Committee of the Internal Revenue Service ( Ủy ban  về các Tổ Chức Dấn Thân của Sở Thuế Vụ Quốc  nội) đã từng điều tra các tổ chức nào mà không chịu đóng thuế và bị tình nghi buôn lậu súng ống, từng lợi dụng quy chế  được miễn thuế và đã không chịu tiết lộ các quà tặng lớn có giá trị. Khi Ủy ban bị giải tán vào năm 1973 thì IRS đã có cho tới 11.458 hồ sơ thuộc 8.585 đương sự và 2.873 tổ chức, chỉ được có 18% của các tổ chức cùng cá nhân phản chiến.  5175

Đại Bố Láo: Cái Nước Mỹ Cảnh Sát Trị

Khi ta so sánh tầm độ của các hoạt động của chính phủ Mỹ với chính sách của bọn Cộng sản hầu kiểm tra từng khu phố và nơi  làm, chẳng hạn như các Ủy ban Quốc phòng Cách mạng ( Committees for Defense of the Revolution ~CDR) ở Cu-ba, thì quá ư là lộ liễu đã có một sự cố tình làm lơ hay cố ý phản tuyên truyền, và đúng thật quả là một màn đại bố láo mà thôi.

Thái độ gian ác bệnh hoạn cứ đi ráng tìm một thủ phạm đã luôn luôn là một môn thể thao mà bọn cánh tả ưa thích nhưng lại cứ đã luôn luôn chụp mũ đổ lỗi cho hữu phái.

“Nhiều Kẻ” Đã Bị Thiệt Thòi

Sau một màn chỉ gây thêm rối loạn và rất ư là làm nản lòng bằng việc lục lọi các tài liệu của FBI cùng với một chuổi điều tra cật vấn rất gây tiếng vang các nhân viên FBI, Ủy ban Thượng viện Church đã khám phá ra được là trong “vài trường hợp từ 1960 đến 1965″ thì tiêu chuẩn “an ninh quốc nội” đã bị “nới rộng để gồm luôn việc nhắm vào các công dân Mỹ mà đã không hề từng chứng tỏ là có đe dọa đáng kể đối với an ninh quốc nội của đất nước”.  5176

Chi tiết vài người thì quả thiệt là không thể nào chụp mủ được cho một quốc gia để thành là cảnh sát trị. Ủy ban Church cũng đã thấy được là việc giám sát điện tử rất ư là khiêm tốn.  Ấy vậy, Ủy ban Church vẫn đã áp dụng một tiêu chuẩn quá sức là ngây thơ mà lại còn có tính cách quá tuyệt đối của cái thời kỳ chết yểu Cộng hòa Weimar Đức, để chủ trương là mỗi trường hợp đều không có cơ sở và phi lý. Trong khi đó thì mọi chế độ đều cần pải tự vệ trong thời gian rối loạn dân sự hay chiến tranh khi mà có một số công dân đang công khai tham gia vào, hoặc là làm cách mạng hoặc cộng tác với kẻ thù ngoại quốc.

Điều rất dỉ nhiên là các quyền tự do dân sự trong một nước cộng hòa dân chủ thì không thể nào được sử dụng như một hiệp ước để cùng ôm nhau mà tự tử vì đó chỉ là một cơ chế tự hủy diệt, gây tổn hại ngay cho chính cuộc sống và các quyền tự do của mọi công dân mà một chính phủ hợp pháp có nghĩa vụ phải bảo vệ.

Thật vậy, kẻ địch đã đang sử dụng kỷ thuật nghe lén và đặt ‘rệp’ vi âm mổi lần có thể được. Văn phòng Technical Reconnaissance Office KG-3 của Bộ Công an Bắc Việt cũng đã từng đặt thiết bị âm thanh và thu hình để giám sát trong các phòng giam tù binh Mỹ và các phòng thẩm vấn cũng như là theo dõi các mật mã theo kiểu ‘gỏ ~ tap’ của các tù binh. 5177 KG-3 cũng từng phụ trách thiết lập  điện thoại và hệ thống ‘fax’ cho các viên chức chính phủ Hoa Kỳ để thảo luận với Việt cộng về vấn đề tù binh và binh sĩ bị mất tích trong chiến tranh (POW / MIA). 5178  Ngoàicácchương trình phát thanh trên Đài Hà Nội, Bắc cộng lại còn thu băng trong biết bao nhiều là giờ các đám khách Mỹ “chủ hòa” của chúng.

FBI, cảnh sát địa phương và quân báo Mỹ đã từng theo dõi các cuộc biểu tình công cộng và các cuộc họp cùng hội nghị của các nhóm phản chiến. FBI cũng từng cố gắng tối đa bám sát theo dõi bọn cộng tác với địch trong thời chiến.

Hồi ký của bọn biểu tình đương thời có cho thấy việc chính phủ Mỹ theo dõi cái đám năng động đó tại những cuộc hội họp công cộng thường đã rất ư là công khai và nói chung thì còn khiến mọi người cười rộ lên hơn là phải âu lo. Mọi người lại sẽ còn châm biếm hay còn cảm thấy bị xúc phạm nếu họ không được FBI lập riêng cho một hồ sơ điều tra.

Các Phán Quyết Của Tòa:

Không Hề Có Thiệt Hại, Không Hề Có Ác Tâm

Thực vậy, trong vụ Laird chống Tatum 408 US 1 (1972), Tối Cao Pháp Viện đã phán quyết là các nguyên đơn đã không chứng minh được sự thiệt hại gây ra bởi hành vi sưu tìm tin tình báo của quân đội. 5179 Trong vụ Donohue chống  Duling, Tòa 4th Circuit  (Tòa Kháng Cáo Khu 4) cũng đã tuyên phán là hành vi cảnh sát chụp hình các người biểu tình nơi công cộng không hề gây ra một nổi sợ hãi nào cả.  5180 Trong bản án Fifth Avenue Parade Committee chống L. Patrick Gray 3rd (480 F.2d 326), tòa này cũng đã nghị luận, “những cáo buộc của các nguyên đơn … về hình chụp, về từng bị tái kiểm tra trùng lặp và lập danh sách đều không hề được chứng minh và do dó phải bị bác bỏ. Cái vụ sợ quá phát run lên ở đây quả thực chỉ là do họ tự chế ra mà thôi”. 5181

Các Cáo Buộc Gian Dối Về Cả Ngàn Hồ Sơ 

Đúng là đã có cả hàng trăm ngàn tên được thực sự đề cập đến trong các hồ sơ tình báo nhưng đã có rất ít là người Mỹ nào mà từng đã bị thành lập một hồ sơ riêng. Trong số cả 300.000 tên tuổi mà CIA đã ghi nhận, tức là đã được nhắc nhở đến trong các liên lạc quốc tế thì chỉ 7.200 người là có hồ sơ cá nhân mà thôi.

Trong số 1.000 tổ chức thì chỉ có 107 nhóm là có hồ sơ riêng. 5182

Giám đốc CIA chỉ gửi có 37 bản phúc trình trực tiếp tới Tòa Bạch Ốc, tới Bộ trưởng Ngoại giao, tới Giám đốc FBI hay Sở Mật vụ, 5183 và như chúng ta đã từng thấy, chúng đều gần như hoàn toàn vô giá trị.

Rất là nhiều hồ sơ, chẳng hạn như các hồ sơ RESISTANCE (KHÁNG CHIẾN) của CIA đúng là đã đề cập đến cả từ 12.000 đến 16.000 người, nhưng lại không có gì cả ngoài những mẫu tin trên báo được cắt để lưu giữ về độ 600 đến 700 tên mà thôi. 5184

Cho tới thập niên bảy mươi thì tổng cộng, FBI đã từng theo dõi chỉ có 109 nhóm suốt trong cả ba mươi năm trời, nếu kể từ năm 1940.

Hồ Sơ ‘Security Index ~ Chỉ Số An Ninh’ Của FBI

Người ta đã từng lớn tiếng cáo buộc là thời dưới quyền Giám đốc J. Edgar Hoover thì FBI đã có lưu giữ những hồ sơ thuộc ‘Security Index ~ Chỉ Số An Ninh’ liên hệ đến cả nữa triệu người Mỹ. 5185 Loại hồ sơ này liên hệ đến những kẻ khã dỉ có thể có hành vi chống lại an ninh quốc gia của Mỹ trong trường hợp nguy cấp và sẽ được dùng để cân nhắc nên “khẩn cấp bắt giam” hay không.  5186 Rất ít người Mỹ nào mà đã bị hồ sơ riêng loại này. Trên thực tế thì quả đúng là  tên tuổi của những người Mỹ bình thường cũng đã được thường xuyên đề cập đến trong quá trình các cuộc đàm thoại và trao đổi thơ từ xẩy ra giữa một số ít kẻ đang bị theo dõi. Sự kiện có liên hệ với họ thì không hề bị suy luận là có hành vi phạm luật. Các hồ sô FBI được tiết lộ thì đều đầy với tên tuổi những người vô tội thôi.

Hơn nữa, các hồ sơ FBI đều đầy những ghi nhận ​​của họ về lòng trung thành của nhiều kẻ đang hoạt động dấn thân và cũng cho thấy họ thường xuyên bác bỏ  các yêu cầu cần phải thành lập một Security Index ~ Chỉ Số An Ninh riêng biệt. Các nhân viên tại FBI, đặc biệt là Giám đốc Hoover, đúng là có giữ những hồ sơ bán chính thức về các đối tượng mình thường giao thiệp với, về cả bạn bè của vị Giám đốc và cả luôn các mẫu tin báo được cắt về những người nổi tiếng.

Chúng tôi … đã loan báo cho cả thế giới biết [những ai chúng tôi đang] … điều tra

Mọi công dân bình thường đã hoàn toàn không có gì để phải sợ hãi.

Trong buổi điều trần trước Ủy ban Church, James B. Adams, Phó Giám đốc của Bộ phận tình báo FBI, đã từng mô tả các mục tiêu và động lực của kế hoặch COINTELPRO. Các mục tiêu mà FBI từng nhằm vào thì đều không có gì là bí mật cả. “Chúng tôi đã loan báo với cả thế giới là chúng tôi đang điều tra các nhóm da đen chủ trương hận thù, các nhóm Tân Tả”. 5187

Adams đã cho Ủy ban biết,

“Chúng tôi đã có những nhân viên mà  … (thực sự vững tin) … là đã đang có mối   hiểm nguy cấp thì cho nước Mỹ … (cảm thấy là họ đã có một trách nhiệm)”. Các mối hiểm nguy đều đã rất ư là hiển nhiên“. … Các thành phố của chúng ta đã từng bị đốt cháy; các cơ sở giáo dục … thì bị đặt bom cho nổ; … chết chóc đầy dẫy … Chúng ta đã đang trải qua một thời gian cực kỳ tràn đầy bạo lực.”

Adams đã nhắc nhở Thượng nghị sĩ Walter Mondale, “Đã có một lần, các dân biểu từng lên tiếng … nếu chúng ta không ngăn chận được các vụ đặt bom, nếu không ai chịu làm một cái gì đó … thì quả đúng tình trạng đất nước này đang rất là nguy hiểm”.

Vấn Đế Thực Sự: Thiếu Tin Tình Báo

Và sự kiện không đủ tin tình báo đã từng không là một vấn đề mới mẻ gì cả.

Sau khi Thế chiến II bắt đầu … thì “một ủy ban quốc hội đã ngồi lại và báo động [lớn tiếng] … là đã không hề có đủ … điệp vụ tình báo. Không bao giờ … chúng ta được quyền để phải bị trong tư thế sẽ phải thua thiệt”. Adams thì đã từng tuyên bố: “Đã có một lần … Quốc hội thì tuyên bố … hãy chấm dứt bạo lực  trên đường phố, chấm dứt cảnh giết người, cảnh đặt bom phá nát các tòa nhà: và rồi, trong một lần khác thì họ lại khuyên bạn không nên làm những gì bạn đã làm”. Và rồi trước vụ ám sát JFK, cũng như là trước vụ 9 tháng 11 thì FBI đã cứ bị buộc tội là không chu toàn bổn phận mình.

Đề tài FBI từng vượt quá thẫm quyền quả thật chỉ là láo khoét. Ấy vậy, phần lớn tài liệu lịch sử ghi lại và cả con em chúng ta cũng đã bị giảng dạy là đã từng có hàng ngàn, cũng có thể là hàng triệu người đã bị đàn áp. Chỉ có cái bọn tự cho và tự đề cao là vô tội mới đã có được các sáng kiến gian dối này thôi. Hầu hết các bọn bị lưu ý, như chúng ta đã thấy, đã từng giúp đỡ địch trong thời chiến hay đã từng mưu tìm lật đổ chính phủ.

Lịch sử nay thì chỉ ghi lại những ngày vinh quang biểu tình phản chiến rất ư là oai hùng, nhưng đa số đã không hề đề cập đến sự hợp tác thường rất là gắn bó của bọn dấn thân phản chiến với kẻ thù ngay trong thời chiến.

Nào Là Bọn Cớm Quá Ư làTàn Bạo và Những Phòng Phòng Giam Chật Cứng

Để đáp ứng với các vụ bạo loạn lan tràn trong khuôn viên các đại học cũng như là các trận nổi loạn trong đô thị, nhà cầm quyền mời chịu mua những trang bị tốt hơn và đã tổ chức huấn luyện về kỷ thuật thương lượng nhân khi có bạo loạn, có bom gài và có con tin bị bắt. Tuy nhiên, trừ ngoại lệ của những tên đã bị tuyên án từng đặt bom, những tên cướp có vũ khí và bọn khủng bố, chẳng hạn như đám Weather Underground, thì đã có rất ít người chỉ bị tuyên phạt phải uống chỉ một ly cà phê đắng quá dở hay chỉ phải ngồi tù có vài giờ thôi vì lý do biểu tình bạo loạn và gây xáo trộn cùng có hành vi phản quốc và hợp tác với địch. Tên thành viên khủng bố Weatherman Bill Ayers đã có viết, “Tôi từng bị bắt giữ cả hàng chục lần … từng biết trước các tội danh mình sẽ bị truy tố cũng như đã được biết trước các hệ quả; sẽ phải bị giam bao lâu, khi nào thì được miển tố, khi nào thì sẽ phải đóng phạt 200 đô, và cứ thế thôi”.  5188

Không Phiên Toà Nào Để Răn Đe

Đã không hề có được một phiên tòa để chính phủ bày tỏ lập trường. Mà ngược lại thì chính bọn bị cáo như là đám Chicago Seven, Gainesville Eight, Cantonsville Nine  mới đã thực sự có cơ hội để vui đùa giởn cợt với các màn trình diễn của chúng ngay trong, và cả ngoài phòng xử án của chúng.

Chính chúng mới đã là những kẻ đã phỉ nhổ c3 toàn bộ hệ thống công lý của Mỹ. Chỉ có một số nhỏ đã bị kết án bởi một bồi thẩm đoàn công minh, nhưng hầu hết đa số đều đã không hề bị đụng tới lổ chân lông bởi lực lượng cảnh sát mà đã không hề bắt giữ ai cả, bởi các công tố viên đã không hề dám truy tố ai cả, bởi những thẩm phán cả đời chuyên lo bảo vệ quyền lợi của bị cáo và bởi những bồi thẩm đoàn mà đã vô hiệu hóa đưôc toàn bộ luật pháp quốc gia.

Không hề có Loại Ngục Tù ‘Gulags’

Đã không hề có các nhà tù, các trại tập trung, các khu tử thần và cũng không hề có kiểm duyệt báo chí. Đã không bao giờ có lệnh được đưa ra trước để kiểm soát cùng hạn chế các cuộc biểu tình, thậm chí cả khi bạo loạn đã được công khai  loan báo trước, ví dụ như lần đại hội Chicago, Days of Rage (Những Ngày Điên Dại), kéo nhau đi đập phá Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa và tấn công vào Ngũ-giác-đài.

No Secret Police

Như J.R. Nyquist đã từng nêu rỏ thì đã không hề có “mật vụ”. Khi áp dụng một tỷ lệ hợp lý thì cả FBI, CIA, NSA và quân báo đã không thể nào mà đem đi so sánh được với bọn Gestapo phát xít Đức, KGB hay là công an chìm của Trung cộng ngày nay. Chúng ta đã không hề có một Heinrich Himmler, một Lavrenti Beria hay một Kang Sheng. Hoover đã từng là  đối tượng cho những lời chỉ trích công khai, việc mà Himmler, Beria hay Sheng đã không bao giờ bị. Chính phủ Mỹ đã không bao giờ tống giam nhiều triệu tù chỉ vì bất đồng chính kiến​​, đó là chưa nói đến việc thủ tiêu bao nhiêu là triệu người chỉ vì họ có khã năng sẽ chống lại chính phủ.

Mỹ đã không bao giờ có cái loại Stasi của Đông Đức với cả những đội quân điềm chỉ viên hầu lập hồ sơ cá nhân cho từng mổi công dân, cũng không phải là đám Committees for the Defense of the Revolution ~CDR (Ủỷ ban Bảo vệ Cách mạng) tại các địa phương của Castro để bảo vệ cuộc cách mạng cho khỏi bị ô nhiễm bởi mọi ý nghĩ hoang dại về tự do trong các khu phố, hay cũng không phải là cái chế độ bắt buộc phải đăng ký hộ khẩu của Việt Cộng cùng với bọn trưởng khóm do đảng CS chỉ định 5189 mà đã được nói là để thay thế “cảnh sát nhà nước” của Nam Việt .

Nyquist đã nói:

… Có một sự khác biệt giữa cái tính cách ác độc có hệ thống của loại chế độ độc tài khi so sánh với tình trạng  tham nhũng thường thấy trong mọi định chế và trong mọi thời kỳ. Chế độ độc tài là một hệ thống được tổ chức rất ư là cao siêu về chính sách giết người và đàn áp có tổ chức, do một ý thức hệ thúc đẩy. Các định chế của Mỹ, khi được so sánh, thì đã không hề được tạo lập ra để khuyến khích việc giết người hàng loạt hay một chế độ độc tài. 5190

Không Phải là một Quốc Gia Tồn Tại  Nhờ Khủng Bố

Mọi công dân bình thường đã hoàn toàn không có gì để sợ, ngoại trừ nỗi sợ hãi  gây ra bởi chính các mạng lưới tuyên truyền tả phái mà thôi.

Hầu hết các cáo buộc về vấn đề những kẻ bất đồng chính kiến đã ​​luôn luôn phảisống trong tình trạng kinh hoàng đã cho thấy rỏ rang đặc tính cuồng loạn và gian trá của kiểu tấn công vào kẻ thù “chủ nghĩa đế quốc”,  tức là Hoa Kỳ. Huyền thoại về các hành động gian ác của cảnh sát đã trở nên nổi ám ảnh và quá ư là “kinh tởm” nên đã khiến cả hàng triệu này qua hàng triệu người khác tự cảm thấy hoàn toàn tự do và an toàn, để xuống đường, và đóng cửa các đại học, các đại hội đảng, cả khu Wall Street, luôn chính phủ và còn bao vây cả Ngũ-giác-đài với Tòa Bạch Ốc. Một số khá đông đã công khai và tích cực ủng hộ việc dùng bạo lực lật đổ chính phủ và một số thì đã đi tấn công các cơ sở của chính phủ với bom. Một số không phải là ít đã được huấn luyện về chiến đấu và cứu thương hầu chuẩn bị tác chiến trong một cuộc cách mạng dự tính sẽ xẩy ra.

Đa số các công dân nào mà tuân thủ theo pháp luật thì đều không hề sợ một nhà nước cảnh sát trị, nhưng chính là họ đã sợ tình trạng khủng bố của các vụ rối loạn cùng bom nổ tràn lan và họ cũng ý thức được về một sự mất mát sinh mạng vô nghĩa lý trong cuộc chiến tranh kéo dài vô tận tại mãi Việt Nam. Đa số thầm lặng chủ trương “luật pháp va trật tự” thì đã bầu cho Tổng thống Richard Nixon, kẻ không ai ưa, thường bị xem thường, đôi khi lại còn bị thù ghét, … cho tới cả hai lần khi so sánh với những người đàn ông nghiêm túc khác như là Hubert Humphrey và George McGovern, những kẻ từng được bị coi như là không có khả năng giữ cho quốc nội an bình hay có thể quyết chiến tại Việt Nam.

“Và bây giờ chúng ta đã có một vụ hiển linh”

Phá Bỏ Mọi  Hoạt Động Tình Báo Mỹ:

Di Chúc Việt Nam Chuyển Qua Số 911

Ngay sau chiến tranh Việt Nam, các dịch vụ tình báo đều đã suy giảm nhiều và một số hậu quả của một chính sách tình báo điếc, câm cũng như mù đã đưa đến cái hậu quả là phải bị trả bằng máu và tài nguyên vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 khi gần cả 3.000 người đã bỏ mạng tại New York, Washington và Sharpsville, Pennsylvania.

Herb Romerstein có nói, “mọi cơ quan tình báo của chúng ta đã không thể nào quên được các bài học nhân cơn khùng điên về phản gián của thập niên bảy mươi. Gần 3.000 người Mỹ đã bỏ mạng vào ngày 9 tháng 11 bởi vì các bài học đó đã đuợc học thuộc lòng quá sức là tuyệt”. 5191

Các Bức Tường Lửa Về Tình Báo

Nhân các phiên điều trần của Ủy ban 911 Commission thì cả FBI và CIA đều bị chỉ trích vì đã thực hiện những bức tường lửa, những ống lò bếp ngăn cản cách ly giữa tình báo quốc nội và ngoại quốc trong việc thi hành pháp luật và tình báo. Cả CIA và NSA đều không thể thu thập được tin tức về những người Mỹ ngay cả khi chúng là gián điệp hoặc là khủng bố, cũng như cả CIA và NSA cũng đã không chia sẻ bất kỳ thông tin nào về loại này với FBI.

Một nhân viên phụ trách sưu tập tài liệu ở ngoại quốc có nói với Dân biểu John Ashcroft và Herb Romerstein là nếu ông ta biết được có một người Mỹ đang làm việc cho KGB thì, “Tôi sẽ xé bỏ bản báo cáo và ném nó vào sọt rác. Tôi không có bổn phận phải thu thập tin tức về công dân Mỹ”.

Về FBI thì họ cần phải có được bằng chứng về tội phạm thì mới điều tra một tên gián điệp hoặc khủng bố nào đó. Thật vậy, FBI đã không hề xin lịnh tòa để điều tra về tên không tặc thứ 20 là Zacarias Moussaoui, mãi cho đến khi tội phạm đã hiện thực, khi đôi tòa tháp đã  nát tan đem theo gần cả 3.000 sinh linh hồn với chúng. 5192

Năm 2003, William P. Barr, cựu Chưởng lý Liên Bang (1991-1993), có nhắc nhở Ủy ban 911 là trong thời chiến tranh Việt Nam thì FBI đã từng bị chỉ trích vì quá hăng say trong công tác thu thập tin tình báo và xâm nhập vào các tổ chức:

[Trước  vụ Watergate] FBI rất chuyên chú vào tin tình báo quốc nội. Họ tự phong hai bổn phận là gìn giữ an ninh quốc gia và thực thi pháp luật. …

[Đa số] lúc đó cũng đã nghỉ là họ đi thu thập quá nhiều tin tình báo về các vấn đề quốc nội. Họ đã biết quá nhiều về các tổ chức dân quyền, về các tổ chức phản chiến …

Đã có … một khoảng thời gian dạo … thập niên 70, 80 và 90 mà người dân không muốn họ trong [hoạt động tình báo quốc nội] …, và họ đã bị ràng buộc bởi rất nhiều hạn chế.

Và nhân viên sẽ bị tan tành sự nghiệp nếu … họ … bắt đầu rình mò điều tra các vấn đề trong nước. …. Và bây giờ thì chúng ta thấy quả là hiển linh. Kể từ vụ 9 tháng 11 thì chúng ta lại muốn họ lại xử sự như xưa. Sự thật là vậy thôi. 5193

John F. Lehman, cựu Bộ trưởng Bộ Hải quân và cũng là thành viên của Ủy ban 9/11 đã quy kết phần nào việc CIA đã thất bại để giết hay bắt sống Osama Bin Laden là do sự xuống dốc của CIA sau Việt Nam và Watergate.

“… Các cuộc tấn công có tính cách chính trị của Ủy ban Pike và Ủy ban Church  … đã đẻ ra  … một phong thái thuần túy chỉ chú trọng tới kỹ thuật trong cộng đồng tình báo. Nếu mà không đo lường được, nếu mà không đếm được, rồi thì nó đã phải bị loại bỏ xem như chỉ là một giai thoại thôi … Ngay cả … việc phân tích chủ quan [cũng đã có] một xác suất toán học … 5194

“… kể từ thời Church với Pike thì đã có một phong thái rất ư là ăn sâu trong Hội đồng Quản Trị Điệp vụ ~ Directorate of Operations [của CIA] nhằm chủ trương bác bỏ các loại điệp vụ chìm và đặc biệt là cương quyết chống lại việc ám sát”.

ÔNG LEHMAN: Ông có chia sẻ việc đánh giá của ông Richard Clarke không?”, Lehman bèn hỏi Giám đốc CIA George Tenet.

ÔNG TENET: … không hề ai đã ăn nói tầm-phào về việc vụ ám sát cả, không bao giờ hết. … nhưng quan điểm là … họ sợ rủi ro, sợ không hoàn thành được công tác, không dám xung phong  … Tôi chỉ dứt khoát bác bỏ chúng.

ÔNG LEHMAN: Ông cũng từng bác bỏ việc đánh giá của ông (Richard) Clarke là ít nhất hai trong số các viên chức cao cấp nhất trong (Hội đồng Quản Trị Điệp vụ ~ Directorate of Operations) từng tuyên bố họ sẽ từ chức thay vì phải thi hành lệnh trên –

ÔNG TENET: Chuyện này thì tôi không được biết …

ÔNG LEHMAN: Cảm ơn ông … 5195

Di Sản Việt Nam

Thái độ không muốn ám sát, tiêu diệt kẻ thù, đã chỉ là khuyết điểm nhỏ nhất của các hoạt động tình báo của Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh Việt Nam.

Phúc trình của Ủy ban Church đã khẳng định,

“Sự kiện FBI và Tòa Bạch Ốc cứ thổi phồng sự dính líu của cộng sản … đã chỉ  … đổ dầu thêm … vào khuynh hướng  . . . của Tổng thống Johnson … nhằm bác bỏ việc bất đồng chính kiến ​​chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam như chỉ  là “do  Cộng sản xúi dục” mà thôi.

Đó cũng là một quan điểm từng được chia sẻ bởi người kế nhiệm của LBJ là  Richard Nixon.

Phúc trình của Ủy ban Church đã có viết: “Đã không thể đo lường được hoàn toàn hiệu quả của việc nhận thức méo mó này ở cấp hoạch định chính sách cao cấp nhất”. 5196

Ủy Ban Church Mà Lại Đã Đi Hỏi Ý Kiến Bọn KGB

Dĩ nhiên đã có rất nhiều thổi phồng quá lố và bóp méo sự việc trong phúc trình Church mà một số có lẽ từ một nguồn tin cung cấp cho Ủy ban là cái Trung tâm Nghiên cứu An ninh Quốc gia (Center for National Security Studies ~ CNSS). Tên điệp viên KGB Wilfred Burchett  và cái tên thường xuyên làm liên lạc viên với KGB là Philip Agee  5197 đã soạn cái bản báo cáo CNSS mà đã thuyết phục được Thượng nghị sĩ Church.

Các phiên điều trần và báo cáo của ủy ban Church đã biến hành vi tình báo thành như một hình thức ác quỷ xấu xa đến mức đã khuyến khích cho cả một phong trào điên loạn chủ trương phải dẹp bỏ toàn bộ hệ thống tình báo của Mỹ mà đã cứ kéo dài, không bị lay chuyển, thậm chí dù chỉ một chút ít nào thôi, mãi cho đến thời Ronald Reagan và sau vụ 11 tháng 9 năm 2001.

Chỉ Thị Hướng Dẫn của Levi: Khủng Bố Thì Cũng Không Khác Gì Bọn Ăn Cắp Vặt Trong Tiệm Mà Thôi

Tới năm 1976 thì các chỉ thị hướng dẫn của Chưởng lý Liên bang Edward Levi gần như đã cấm mọi công tác thu thập tin tình báo về các nhóm cực đoan quốc nội.

Các chỉ thị hướng dẫn của Levi đã giới hạn chỉ cho phép điều tra các kẻ tình nghi đang mưu đồ phá hoại trong trường chúng đã bị nghi ngờ từng cụ thể phạm tội như là khủng bố, ám sát, phá hoại và làm gián điệp, hay khi hành vi vô luật pháp này đang gần kề. 5198 FBI đã không được phép kiểm soát đọc các ấn phẩm của bọn khủng bố trừ khi chúng đã  phạm một hình tội nào đó. 5199 Các chỉ thị hướng dẫn của Levi đề ra đã căn cứ theo các tiêu chuẩn để bảo vệ những cá nhân trong trường hợp dính líu tới hình tội thường chớ không hề xét tới các nhu cầu khẩn cấp về mục tiêu an ninh quốc gia. Việc theo dõi một tội phạm đòi hỏi phải có lý do khã chấp và việc tuyên phạt đòi hỏi bằng chứng phải là không còn có thể khả dĩ bị nghi ngờ (proof beyond a reasonable doubt). Thường những quyết định của các Tổng Thống, sĩ quan tình báo và các vị chỉ huy quân sự đều phải căn cứ trên những dữ kiện khó quyết đoán hơn bởi vì các hậu quả của một quyết định sẽ không làm gì, chẳng hạn như trong vụ 9/11, sẽ rồi có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh và tài sản của hàng ngàn hay ngay cả hàng triệu người dân trong thời chiến.

Các Dịp Tốt  Cho Bọn KGB

Với thời gian qua thì bọn KGB của Liên Xô đã cứ ngày càng có thể dễ dàng được cung cấp tin tức về các bí mật của Mỹ.

Vào năm 1976 một tên năng động không nhận dạng được của đảng Dân chủ mà cũng là một điệp viên KGB đã có yết kiến ứng cử viên Tổng thống Jimmy Carter, Thượng nghị sĩ Alan Cranston và Thống Đốc Jerry Brown tại khách sạn Thái Bình Dương ở Los Angeles suốt trong ba tiếng đồng hồ để thảo luận về chiến lược nằm gần sân bay quốc tế Los Angeles. Ta biết được điều này là theo lời kể của Vasil Mitrokhin, một nhân viên văn khố của KGB, mà đã từng có ghi chép lại  những chi tiết trong các hồ sơ gốc của KGB. 5200

Sự việc như vậy thì các đương sự cần phải bị lưu ý đã chính phải là Tom Hayden và đám bè bạn như là Robert Scheer, Stanley Sheinbaum, v. v. . . Cả Hayden và Sheinbaum đều từng công khai được mọi người biết là có liên lạc cùng Carter, Cranston với Brown và cũng đã từng có những mối quan hệ tích cực với bọn Cộng Sản. Nhưng cả hai lại đều vẫn không bị xem như là những nghi phạm của loại trọng tội chưa điều tra xong được. Vào ngày 11 tháng 9 năm 1978, David Karr, một  đảng viên Dân chủ thường  đóng góp rất nhiều tiền cho Brown mà cũng là một điềm chỉ viên KGB đã có nhờ một tên Stephen S. Gillis mời Thống đốc Jerry Brown tới gặp y tại khách sạn Beverly Wilshire. 5201

Cho tới năm 1978 thì các chỉ thị hướng dẫn của Levi đã được mở rộng để áp dụng luôn cả cho các tên bị nghi ngờ đang làm gián điệp cho ngoại quốc.

Các vụ điều tra về an ninh quốc nội đã giảm từ 21.414 vụ trong năm 1973 xuống ít hơn là 40 cuộc điều tra vào năm 1987, còn số mật báo viên từ 1.000 người đã giảm xuống chỉ còn có 50 người vào năm 1984.

Lệnh đặc biệt cấm điều tra đã được ban hành đối với bọn đảng CS Mỹ CPUSA, IPS, các mặt trận và các tổ chức cách mạng cộng sản.

Carter

Dưới thời chính quyền Carter, Chưởng lý Liên Bang Griffin Bell đã quyết định  loại bỏ Bộ phận An ninh Quốc nội thuộc Bộ Tư pháp (Internal Security Division of Department of Justice) và còn đích than điều khiển một cuộc tấn công toàn bộ vào FBI. Vị tân Giám đốc của FBI là Thẩm phán William Webster đã thi hành kỷ luật, khiển trách hay sa thải tới cả 68 nhân viên FBI.

FBI  Đã Bị Truy Tố  

Phụ tá của Chưởng Lý Liên Bang Bell là Phó Chưởng Lý  J. Stanley Pottinger đã nghiên cứu để rồi truy tố tới cả 53 nhân viên FBI, rồi tuyển dụng cả 24 nhân viên mới cho FBI để điều tra ngay chính FBI và cuối cùng đã lấy quyết định khiến cơ quan như rắn mất đầu không còn người chỉ huy khi ra lệnh truy tố cựu Giám đốc cơ quan là L. Patrick Gray và các giám đốc điều hành W. Mark Felt với Edward S. Miller John Kerney, người phụ trách Đội 47 và bắt buộc New York SAC là J. Wallace Laprade phải từ chức.

Trong khi Jane Fonda, Tom Hayden, Cora Weiss, Scott Camil và hầu hết các tên năng động phản chiến  và các tên cộng tác với kẻ thù khác ngay trong thời chiến đã không hề bao giờ bị truy tố được thì ngược lại, W. Mark Felt và Edward S. Miller của FBI đã bị kết án vì đã điều khiển đột nhập văn phòng bọn cộng tác liên kết với tổ chức chìm Weather Underground, mấy đám gài bom, bọn nổi loạn, bọn chủ trương làm cách mạng bằng bạo lực và số gián điệp của Cu-ba  5202  trong thời chính quyền Nixon. Felt và Miller đã bị kết án chỉ vì đặt máy theo dõi bọn đã bị nhận dạng là làm liên lạc viên cho đám đào tẩu thuộc Weather Underground đang trốn tránh pháp luật. Felt và Miller “đã âm mưu đàn áp các công dân Hoa Kỳ mà đều là thân nhân và người quen biết của bọn đào tẩu Weatherman”.  5203 Trong khi đó thì tụi  Weather Underground vẫn đã cứ tiếp tục gài bom cho nổ, cứ đi cướp ngân hàng và đi thu thập tin tình báo mà không ai dám đụng tới chân lông mãi cho tới dạo thập niên tám mươi, mà phần lớn là với sự hỗ trợ của những kẻ được gọi là “thân nhân và những người quen biết của các kẻ đào tẩu”.

CIA Trở Thành Vô Hiệu

Giám đốc CIA của Tổng thống Carter là Stanfield Turner đã loại bỏ hơn 1.000 sĩ quan CIA thuộc các điệp vụ mật vào cuối những năm 1970, và như vậy đã cắt bỏ điệp vụ Mỹ cho tới cả 40 %. 5204 Turner ban hành những quy định cấm CIA sử dụng các phóng viên. Turner đã tuyên bố với Thượng nghị sỹ John Ashbrook của Ủy ban Tình báo Hạ viện là “Một đại diện báo chí của Mỹ thì lại có thể làm việc một cách khá hợp pháp cho KGB. Nhưng với tôi thì không được như vậy”. 5205 Hầu hết các định chế của Quốc hội nhằm để điều tra, khám phá hay công khai hóa hành vi mưu đồ lật đổ chính quyền thì đều đã bị loại bỏ: Subversive Activities Control Board (Hội đồng Kiểm soát Các Hoạt động Lật đổ Chính Quyền), House Committee on Internal Security (Ủy ban Hạ viện về An ninh Quốc Nội) vào tháng Giêng Năm 1975, 5206  Senate Internal Security Subcommittee(Tiểu ban Thượng viện về An ninh Quốc Nội) vào năm 1977.

Cộng Sản Đã Góp Tay Vào Việc Phá Bỏ Hệ Thống Tình Báo Quốc Nội

Đám mặt trận Cộng sản từng đóng một vai trò rất tích cực trong tiến trình hủy bỏ bộ máy tình báo quốc gia. Những gì xẩy ra tại Chicago đã là một ví dụ nổi bật.

Các mặt trận đó đã là Chicago Peace Council, Alliance to End Repression, 5207 Chicago Committee to Defend the Bill of Rights, Citizens Alert Project of the Alliance to End Repression, Cook County Special Bail Project và Illinois Prison and Jails Project.

Mấy tên đảng viên đảng CS Mỹ CPUSA từng bị nhận dạng đã tham gia trong các hoạt động này là Richard Criley, Mục sư Martin Deppe, linh mục John Hill, Sylvia Kushner, Milton Cohen, Jesse Prosten, Borris Ross.

Những tên khác có dính líu đến đám mặt trận Cộng sản thì đã có John Hill, Francis J. McGrath, John Kearney. 5208

Ở Chicago, số thành viên của Alliance to End Repression (Liên minh để Chấm dứt Đàn áp) gồm tới 67 tổ chức tự xưng là đại diện cho United Methodists, Công giáo, Do Thái, Unitarians, Quakers và mọi người khác cũng như là Women’s International League for Peace and Freedom (Liên đoàn Quốc tế Phụ nữ vì Hòa bình và Tự do). 5209

Mục sư William Baird có mô tả lại  27 năm nỗ lực mà theo đó thì “Tôi đã bị nêu tên trên tựa tờ Chicago Tribune như là Mục Sư Đỏ của Chicago”. Baird thú thật, “Chúng tôi sẽ không làm bất cứ điều gì trừ khi chúng tôi làm chung với Gus Halls”. 5210  Gus Hall là Chủ tịch toàn quốc của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. 5211

Ở Chicago, Rick Gutman, thuộc nhóm thứ 3 của Lữ đoàn Venceremos, đã từng tiến hành việc theo dõi để công khai tiết lộ tên tuổi của sáu điềm chỉ viên của  cảnh sát cùng các tổ chức mà họ đã thâm nhập được vô cho Larry Green và Rob Warden của tờ Chicago Daily News. 5212

Người dân đóng thuế cũng như các tổ chức nhân đạo tư nhân đã phải trả lương cho nhân viên của Alliance to End Repression là John Hill với Betty Plank mà đã tìm cách để dẹp bỏ các Chicago “Red Squad ~ Hồng Đội”. Việc tài trợ này đã thông qua cơ quan liên bang Law Enforcement Assistance Administration, LEAA và dự án Cook County Special Bail Project với dự án Illinois Prison and Jails Project fhành lập bởi Chương trình Citizens Alert Project of the Alliance to End Repression. Các nguồn tài trợ tư nhân thì đã đến từ United Methodists Church, Weibolt Foundation, Field Foundation, Woods Charitable Trust, WILPF, United Methodists, Unitarians và số Quakers. 5213

Theo lời mục sư John Adams của General Board of Church and Society of the church thì United Methodists cũng đã từng ủng hộ những nỗ lực tương tự trong cả tới 16 thành phố. 5214

Hủy Bỏ Ủy Ban An ninh Quốc Nội Hạ Viện

Liên minh Alliance được thành lập vào năm 1970 đã ra sức vận động mạnh mẻ tại Quốc hội trong năm 1971 và luôn cả tại Đại hội Đảng Dân chủ tại Miami vào năm 1972. Sáu mươi chín dân biểu Hạ viện đã đệ trình các nghị quyết nhằm hủy bỏ Ủy ban An ninh Quốc nội đã là: California: Burton, Corman, Danielson, Dellums, Edwards, Hawkins, (không đọc được), McCloskey, Rees, Roybal, (không đọc); Colorado: Evans; Illinois: Annunzio, Collins, Metcalfe, Mikva, Yales; Indiana: Jacobs; Iowa: Culver, Schmenel; Maryland: (không đọc được), Mitchell; Massachusetts: Roland, Drinan, Harrington, Morse; Michigan: Conyers, (không đọc được), Ford, Nedzi, Dingle.

Những Bộ Luật Mới Nhằm Viện Trợ Cho Cộng Sản

Bọn Cộng cuối cùng đã thực sự đặc biệt  hưởng lợi nhờ các nỗ lực đã qua của chúng. Các Cơ quan dân sự Mỹ đã bị cấm không được quyền hỏi những người xin việc đã có là đảng viên đảng CS Mỹ CPUSA hay không. Những tên Cộng sản nay lại đã trở thành một giai cấp được pháp luật bảo vệ. 5215

Các ủy ban an ninh quốc nội của các quốc hội tiểu bang rồi cũng bị dẹp bỏ, và rồi thì đến phiên các đơn vị tình báo cảnh sát thành phố với quận và các hồ sơ cũng bị thiêu hủy luôn. Chỉ tính riêng với New York thì đã có cho tới 1 triệu 2 hồ sơ đã bị đốt bỏ, gây ảnh hưởng nặng nề đến công tác điều tra các hành vi khủng bố như vụ đặt bom của FALN tại nhà hàng Fraunces Tavern mà đã giết chết khoảng 15 người và làm bị thương tới 35 nạn nhân. 5216

Theo các chỉ trích thì vào mùa thu năm 1974, các tóan Chicago “Red Squad ~ Hồng Đội” đã phải đốt bỏ cho tới cả 105.000 hồ sơ cá nhân và 1.300 hồ sơ các tổ chức khi biết được là liên minh Alliance to End Repression đã nộp đơn khởi tố họ. 5217 Những con số này thì cũng có vẻ quá ư là phóng đại thôi.

Đạo luật Giám sát Tình báo Ngoại Quốc (Foreign Intelligence Surveillance Act ~ FISA) năm 1978

Quốc hội đã biểu quyết thông qua Đạo luật Giám sát Tình báo Ngoại Quốc (Foreign Intelligence Surveillance Act ~ FISA) trong năm 1978 mà đã thành lập ra Foreign Intelligence Surveillance Court (Tòa án Giám sát Tình báo Ngoại Quốc). Chính Thượng nghị sĩ Edward Kennedy đã dẫn đầu trong việc ráng tìm kiếm những hạn chế pháp lý cực kỳ khó khăn trong việc “gọi là thẫm quyền cố hữu của Hành Pháp trong công tác giám sát”. Kennedy đã ráng vận động để phải định nghĩa rất là cứng rắn và hạn hẹp “khái niệm thế nào mới là một gián điệp có đã cung cấp tin mật cho tình báo ngoại quốc hay không”. Và do đó thì với chỉ hành vi đã từng bí mật họp với nhân viên tình báo nước ngoài hay là đã từng hoạt động nhằm dành ảnh hưởng cho các cường quốc khác thì không thể hội đủ điều kiện để cho phép đặt máy nghe lén điện đàm. 5218

Tòa FISA hoạt động bí mật bên ngoài Bộ Tư pháp và thẫmquyềnlà nhằm chuẩn phê các yêu cầu để đặt máy nghe lén điện thoại cũng những cuộc điều tra khác của FBI, NSA và các cơ quan khác đối với bọn bị cho là làm gián điệp cho các cường quốc nước ngoài. Tòa FISA đăng đường trong bí mật để quyết định khi nào thì các đề nghị mới hợp pháp. Thường thì các án lệnh khẩn cấp cho phép đặt máy để thu thập tin tình báo cần thiết không đòi hỏi phải có một nguyên nhân khả chấp. Cơ quan điều tra vẫn có thể tiếp tục thu thập tin tình báo trong các trường hợp dính líu tới an ninh quốc gia nhưng lại bị hạn chế khi cần áp dụng chống lại các gián điệp ngoại quốc. Loại tòa FISA đã chỉ sinh hoạt rất ư là hạn chế nhưng lại cũng rất ư là hiệu quả mãi cho đến cuộc “Chiến tranh chống Khủng bố” sau 11 tháng 9.

Reagan Ân Xá Các Viên Chức FBI Từng Theo Bắt Bọn Weathermen

Sau khi lên thay thế Carter thì Tổng thống Ronald Reagan đã ân xá cả Felt và Miller vì lý do đã từng phục vụ quốc gia “with great distinction ~ một cách lỗi lạc” váo ngày 15 tháng 4 năm 1981.

Tổng thống Reagan tuyên bố:

[Việc] bị tuyên phạt (của Felt và Miller ) bởi Tòa án Quận Hoa Kỳ … đã rỏ ràng chỉ do sự vững tin của họ là các hành động đó đã rất cần thiết hầu bảo vệ các quyền lợi về an ninh quốc gia của chúng ta.

… [Họ] không hề xử sự để cố tình vi luật nhưng chính lại là với sự vững tin mình có được sự ủy quyền từ các cấp cao nhất trong chính quyền.

Vào năm 1972 thì Mỹ đang có chiến tranh và các ông Felt và Miller đã làm đúng theo thủ tục mà họ tin là thiết yếu bằng cách tường trình cho vị Giám đốc FBI, cho Chưởng Lý Liên Bang và cho Tổng thống Hoa Kỳ về các hành vi của các cường quốc thù địch nước ngoài với bọn cộng sự của chúng ngay trong đất nước này  …

Bốn năm trước đây thì đã có hàng ngàn kẻ trốn quân dịch và những tên từng vi phạm các luật Selective Service được ân xá vô điều kiện bởi vị tiền nhiệm của tôi [Tổng thống Jimmy Carter].

Hoa Kỳ đã khoan dung với những kẻ từng từ chối phục vụ đất nước của họ trong chiến tranh Việt Nam. Chúng ta lại càng không thể ít rộng lượng hơn đối với hai người mà đã chỉ hành động theo nguyên tắc cao cả 5219 hầu chấm dứt nạn khủng bố đang đe dọa đất nước của chúng ta .

Reagan có thể đã không biết được Mark Felt lại chính là “Deep Throat”, kẻ đã khiến Richard Nixon phải từ chức, mà một phần nào đó thì cũng do các hành vi mà ngay chính y, Felt, đã vi phạm.

Trong việc điều chỉnh lại các chính sách từng làm suy yếu nghành tình báo của dạo 1970, vào năm 1983 thì vị Chưởng lý Liên bang của Tổng thống Reagan là William French Smith  bèn sửa đổi các chỉ thị của Levi. Smith và nay cho phép FBI được toàn quyền điều tra ngay khi có một “dấu hiệu khã chấp” về hành vi phạm pháp đang xẩy ra. Các Chỉ thị Hướng dẫn của Smith cũng cho phép mở một “cuộc điều tra sơ bộ hạn chế” bằng cách sử dụng mọi kỹ thuật điều tra, ngoại trừ việc hành vi gài máy nghe lén, hay yêu cầu Bưu điện báo cáo các địa chỉ ngoài bì và mở thơ từ kiểm soát.

Tổng thống Reagan đã cho phép mở rộng hoạt động tình báo của FBI để theo dõi cả những kẻ liên minh với cộng sản Nicaragua và các chiến dịch của World Peace Council do Liên Xô KGB giật dây. Giám đốc CIA của Reagan là William Casey đã khởi đầu một sự hồi sinh cho CIA, nhưng cho tới nay thì những thiệt hại sâu xa vẫn chưa ước lượng được, ngay cả sau vụ 11 tháng 9 năm 2001.

Bill Clinton: Rất Ư Là Ẩu Tả Về Vấn Đề Tình Báo

Thái độ của chính quyền Clinton về các vụ Trung Cộng từng trộm những thiết bị hạt nhân và kỹ nghệ tinh vi cùng với các vụ góp tiền về chính trị bất hợp pháp của chúng đã cho thấy cái thái độ rất ư là ẩu tả về việc bảo mật, tình báo và phản tình báo của chính phủ đó. 5220

Ngoài ra vào năm 1994 thì Tổng Thống và Jamie Gorelick đã ban hành Presidential Decision Directive 24 (Chỉ thị Hành Pháp của Tổng thống số 24). Chỉ thị này đã đẩy các dịch vụ tình báo của FBI và CIA xuống đến mãi hàng thứ năm của hệ thống hành chánh mà cũng là tận cùng của  một tổ chức theo kiểu thông tri chỉ một chiều, dưới lên hay trên xuống mà thôi, nằm trực tiếp dưới quyền của ngay Tổng Thống, National Security Council (Hội đồng An ninh Quốc gia), một National Counterintelligence Policy Board (Hội đồng Quốc gia Về Chính sách Phản gián) tân lập, National Counterintelligence Operations Board (Ban Điều hành Quốc gia về Phản gián) và National Counterintelligence Center (Trung tâm Phản gián Quốc gia). Tình trạng này đã làm suy giảm một cách nghiêm trọng mọi chia sẻ trực tiếp giữa các cơ quan với nhau về tin tình báo cũng như là việc hợp tác giữa các cơ quan tình báo.

Jamie Gorelick lại còn bổ túc thêm bằng một bản nhắc nhở minh thị cấm chia sẻ tin tình báo mà không đi đúng theo cái chuỗi dài thẫm quyền hệ thống tổ chức hàng dọc. Ví dụ, đơn vị hình sự của Bộ Tư Pháp thì không được quyền chia sẻ tin với FBI hay CIA nếu không được sự chấp thuận của Tòa Bạch Ốc. Richard Scruggs, một tay được đở đầu bởi Chưởng lý Liên bang Janet Reno đã triệt để thi hành việc cấm đoán này khi từ chối không cho phép Bộ Tư pháp chuẩn phê những yêu cầu bình thường của FBI  để được có trát tòa FISA cho phép đặt máy ghé lén và theo dõi những khi cần thiết. 5221

Những Bí mật Về Hạch Tâm và Các Đóng Góp Tiền Bạc về Bầu Cử

Trước một dịp nhân có phái đoàn thương mãi tới thăm Hoa kỳ trong tháng 2 năm 1995, Bộ Trưởng Bộ Năng Lượng Hazel O’Leary đã quyết định miễn kiểm tra lý lịch các khoa học gia ngoại quốc sẽ đến thăm những phòng thí nghiệm nghiên cứu hạch tâm. Chính O’Leary đã từng có vẽ sơ đồ một đầu đạn nguyên tử và rồi đưa nó cho một phóng viên. Dĩ nhiên sau đó thì cô phóng viên này cuối cùng sẽ giải mật được cả hàng ngàn trang về các bí mật hạch tâm.

Rồi thì đã có tới cả 1.500 khoa học gia và viên chức quân báo  Trung cộng từng  được phép tự do lang thang đi vòng qua các phòng thí nghiệm nghiên cứu hạch tâm của quốc gia mà không hề có an ninh đi kèm theo. Cũng sau đó thì Tổng thống Clinton cũng sẽ sớm không thèm để ý tới nhiều báo cáo của FBI, CIA, GAO và Quốc hội từng cảnh cáo về các mối nguy hiểm đối với các bí mật hạch tâm quốc gia tại các phòng thí nghiệm.

Trong khi đó thì một cuộc điều tra về tên Wen Ho Lee đang làm việc tại phòng thí nghiệm ở Los Alamos lại đã bị đình chỉ. Đầu năm 1997, vị Bộ trưởng mới của Bộ Năng lượng là Pena lại để cho phần hành phản gián của Bộ chỉ ngồi chơi xơi nước nguyên cả một năm trường. Trưởng ban An Ninh tại Los Alamos là Notra Trulock thì lại chờ cho đến cả bốn tháng trời chỉ để báo cáo về những bằng chứng mới điều tra được cho một Pena mà đã không thèm gặp ngay cả vị trưởng ban an ninh của chính mình. Trulock đã tiết lộ, “Bắt đầu từ đầu 1997, các nhân viên cấp cao của Bộ Năng lượng … đã thúc giục tôi hãy dấu vụ này và xem như không có nó”. Trulock nói thêm, “Tới cả hai lần trong năm 1997, Giám đốc FBI đã từng phải nhắc nhở … Pena và … Moler là việc FBI đang điều tra không có nghĩa là Bộ Năng Lượng có thể không cần có hành động tức thì hầu bảo vệ những thông tin nhạy cảm”.

Tới mùa thu năm 1997 thì FBI đã biết được là nghi can Wen Ho Lee đã đi Thượng Hải, Trung Quốc. FBI bèn báo động cho Tòa Bạch Ốc và yêu cầu Bộ Tư pháp để được quyền xin án lệnh tại một tòa án đặc biệt hầu có thể đặt máy  nghe lén điện thoại chiếu theo Đạo Luật Foreign Intelligence Surveillance Act.

Giám đốc Đương nhiệm của Office of Intelligence and Policy Review (Văn phòng Tình báo và Kiểm tra Chính sách) của Bộ Tư Pháp là Gerald Schroeder và viên phụ tá là Alan Kornblum đã tuyên bố với FBI là họ không đệ trình đủ bằng chứng và không cho phép áp dụng FISA. FBI đã phải qua mặt bằng cách xin thẳng vị chỉ huy của Schroeder là Phó Chưởng lý Eric Holder, mà ngay đương sự cũng đã từ chối không cho nghe lén điện thoại và Chưởng lý Liên bang Janet Reno thì cũng đồng tình như vậy.

Không được quyền nghe lén điện thoại thì dĩ nhiên FBI đã thiếu bằng chứng để có thể bắt giữ Lee.

Trong tháng 11 năm 1998, một báo cáo bí mật đã ghi nhận là ngay Tổng thống Clinton cũng chính thức tiết lộ là Trung cộng nay đã trở thành một “mối đe dọa về tình báo nhức nhối [và cứ tiếp diễn]” cho các phòng thí nghiệm hạch tâm. Vấn đề gián điệp này không còn có thể nghi ngờ và nó có thật cũng như đang xẩy ra. Đã có cho tới mười lăm hay mười sáu vụ đánh cắp bí mật hạch tâm từng được phát hiện dưới triều Clinton, nhưng chính quyền đó đã không hề làm gì cả.

Ủy ban Tình báo Thượng viện vào ngày 5 tháng 5 năm 1999 đã kêu gọi hãy ngừng trao đổi khoa học với ngoại quốc  tại các phòng thí nghiệm vũ khí và quyết định tăng chi tiêu thêm tới 30 triệu đô Mỹ để bảo vệ các hệ thống máy điện toán tại các phòng thí nghiệm. Ban Presidential Foreign Intelligence Advisory Board (Cố vấn của Tổng thống về Tình báo Ngoại Quốc), tức là Ủy ban Rudman, đã công bố báo cáo của họ. Trong đó, họ đã đổ lỗi tình trạng bảo mật được báo cáo trở thành quá xấu là do nạn hành chánh quan liêu chớ không hề là đã do thái độ trắng trợn coi thường của chính quyền Clinton về vấn đề tình báo và an ninh quốc gia.

Và cũng đã không hề có ai nói gì về chiến dịch đóng góp tiền bạc bất hợp pháp của Trung cộng cho Clinton và  đám bè bạn. 5222 Jamie Gorelick thuộc Bộ Tư pháp đã chủ trương việc truy tố tội phạm phải lệ thuộc chính yếu vào tiêu chuẩn cần bảo vệ các quyền của bị cáo, đặc biệt là với tay Bill Clinton trong vụ Chinagate này. Và bọn khủng bố thì cũng đã được đối xử rất ư là lịch sự y hệt như vậy thôi.

John Lehman, cựu Bộ trưởng Bộ Hải quân và cũng là Ủy viên Ủy ban 911 có nói: “Một vấn đề căn bản của sự lủng củng giữa CIA và Bộ Tư pháp đã là … thái độ (chủ trương tình báo) chỉ là việc thi hành pháp luật … chớ không là đề phòng về chính sách đối ngoại. … [Đã] có … một bức tường ngăn cách cực kỳ cứng rắn trong Bộ Tư pháp giữa việc thi hành pháp luật và việc làm tình báo và … ưu tiên hàng đầu là … phải bảo vệ bằng chứng và niêm phong bằng chứng lại … “. 5223

Ngay cả trước vụ 911 thì cũng đã có bằng chứng về một chính sách phản gián vô hiệu quả.

Hởi Bọn Ủng Hộ Ngoại Bang, Bọn Gián Điệp, Bọn Điệp Viên, Đừng Có Lo: Cứ Vui Lên Đi Thôi

Váo năm 1996 khi các tài liệu bí mật từng được thu thập về một kẻ thù cũ là Liên Xô được giải mật thì ta mới biết được là Nga đã từng có ít nhất là 349 điệp viên bí mật hoạt động tại Mỹ, nếu chỉ tính riêng cho năm 1940 mà thôi,  5224 là thời hoàng kim phản gián của FBI. Trong những năm đầu thập niên chín mươi, theo dữ kiện trong các máy điện toán cầm tay của cựu điệp viên KGB Alexander Vassiliev mà đã căn cứ trên các hồ sơ KGB, thì đã có trên cả 500 Mỹ kiều từng tiếp xúc riêng rẽ với bọn cán bộ tình báo Liên Xô.  5225

Vào cuối những năm 1980, Cu-ba đã từng cộng tác với tới cả 27 nhóm khủng bố và du kích hoạt động ở Tây bán cầu và đã có giúp đào tạo tới 25.000 nhân sự. Tư lệnh miền Nam Hoa Kỳ và Bộ Ngoại giao ước tính tối thiểu đã từng có cho đến 20.000 tên đã được đào tạo ở Cu-ba. Rất nhiều trong số này đã là thành viên của SDS và bọn Venceremos được nêu lên trước đây.

Đến đầu thế kỷ 21 thì Trung cộng đã không phải là chỉ có vài điệp viên chỉ lo phụ trách gây ảnh hưởng 5226 và làm gián điệp như đã được thảo luận trong tác phẫm Trojan Horses của tác giả, 5227 mà cũngcó liệt kê các tài liệu về tình báo và kỹ nghệ được biết là bọn gián điệp đã từng cung cấp về cho Trung cộng. 5228

Những điệp viên Trung Cộng nổi tiếng nhất từng bị buộc tội, nhưng lại bị đưa ra truy tố một cách rất ư là vụng về đã là Katrina Leung và Wen Ho Lee. Chi Mak thì đã có nhận tội chuyển giao bí mật về kỹ thuật hải chiến.

Trong suốt nhiều thập niên, chỉ vì lý do phản gián quá ư là yếu kém, rất nhiều điệp viên đã chỉ bị khám phá ra để bị bắt giam mãi sau quá nhiều thập niên mà đã không hề bị phát hiện như là Aldrich Hazen Ames, bọn điệp viên Cu-ba ở Miami (Alejandro Alonso, Ana Belen Montes, Gerardo Hernandez), Brian P. Regan, Jonathan Pollard, băng John Walker (Arthur Walker, Michael Walker, Jerry Whitworth), Harold Nicholson, Larry Wu Chin-tai, Robert Hanssen Phillip, Larry Franklin, Earl Pitts, Richard W. Miller, Victor Norris Hamilton, Bernon F. Mitchell, William H Martin, Jack E. Dunlap, Trung Tá William Henry Whalen và William Kampiles.

Thất Bại Tình Báo Của Vụ 911, Di Sản Của Thời Việt Nam

Tình Báo

Ủy ban 911 đã không nhận chân ra được hệ quả thật sự của tình trạng các khả năng tình báo Mỹ từng đã bị băng hoại mất rồi sau thời Việt Nam và Watergate. Ủy ban 911 chỉ đã thấy được một sự thất bại trong vấn đề chia sẻ tin tình báo gây ra bởi một bức tường pháp lý quy định phải có tách biệt giữa mọi cơ quan tình báo. Ủy ban và Quốc hội đã ráng “giải quyết” vấn đề nhưng lại chỉ tạo ra thêm nhiều tầng lớp mới trong cái bộ máy quan liêu đương thời.

Thành viên của Ủy ban là John Lehman yêu cầu để có được những khuyến nghị “đối với tiêu chuẩn … ai mới có thẫm quyền tối thượng trong việc áp dụng luật pháp và truy tố những đối tượng khủng bố và [vấn đề] từng gây trở ngại [trong] … công tác cùng chia sẻ tin tình báo … mà kết quả sẽ là có thể làm suy yếu tính cách bất khã tranh luận về bằng chứng mổi khi quyết định phải truy tố”. Raymond Kelly, Ủy viên Lực Lượng Cảnh sát New York bèn trả lời: “Tôi thiết nghĩ đó là một vấn đề truyền thống … trong FBI và … trong Bộ Tư pháp, đó là chuyên môn của họ, tức là làm sao để truy tố”. Kelly cho biết những gì cần phải làm là, “Chúng tôi nay đang bị buộc phải ở trong tư thế đề phòng thay vì chúng tôi đã phải tập trung vào việc ngăn chận một tội phạm khác, … Như vậy thì cho thấy rỏ ngay … sự cần thiết của nhu cầu chia sẻ tin tình báo”.  5229

Đó Quả Là Một Trận Chiến Thật Là Ngu Xuẩn

Trên thực tế, FBI đã bị hạn chế một cách nghiêm trọng trong công tác thu thập  tin tình báo về các vấn đề an ninh quốc gia, chớ chưa nói gì tới việc để rồi sẽ có thể chia sẻ với ai cả. Sự thật là FBI đã gần như không còn dính líu gì tới công tác tình báo. Chỉ có những nhân viên trong cương vị cá nhân tại những văn phòng FBI địa phương mới đã chủ động để cố gắng cảnh cáo toàn quốc về các hành vi của một số các phần tử khủng bố trong vụ 911.

Lehman đề nghị là có thể “cần nên phải hy sinh không cần đạt một phán quyết có tội hầu tránh một thảm họa khác …”.

Tiến sĩ Abraham Sofaer thuộc Viện Hoover bèn trả lời: “Bằng chứng mà một chiến lược gia về an ninh quốc gia có thể nghĩ là rất quan trọng thì lại bị xem như là không quan trọng bởi một kẻ khác mà đang muốn thắng kiện … hãy nghĩ về … [những gì] mới là khả chấp bởi tòa …”. Sẽ tốt hơn nhiều để  “… đặt lợi ích về truy tố hình sự phải lệ thuộc vào lợi ích phải bảo vệ quốc gia”.  5230

Sofaer đã tranh luận là chính đề tài tình báo đã có thể không phải là vấn đề, “… chúng ta có tin tình báo chiến lược tuyệt tốt [trong vụ 911]. … Chúng ta từng biết ai sẽ tấn công chúng ta. Chúng ta biết chúng ở đâu … Và chúng ta cũng biết chúng muốn làm điều đó và rất quyết chí để làm điều đó. Và như vậy thì chúng ta còn cần phải biết thêm bao nhiêu nữa trước khi chúng ta thực sự làm điều gì đó để ngăn chặn địch?”.

Câu trả lời đã là, “Chúng ta quả chỉ toàn là những kẻ văn minh … đang cố gắng chếngự mọi việc để giúp cho thế giới an toàn mà lại chủ trương không cần phải thậm chí chỉ dơ cái tay lên để phản đối hay biểu lộ nổi niềm bất mãn …”. Ấy vậy, “[Nếu] bạn sẽ không khuyên một ai đó đừng muốn giết bạn nữa [thì] bạn sẽ phải làm một điều gì đó với y. … Chúng đã thông báo với chúng ta là chúng muốn giết chúng ta. Chúng thật sự đã bắt đầu làm việc đó rồi”. 5231

Cũng như ở Việt Nam,  vấn đề ở đây là phải quyết định chiến đấu để giành chiến thắng một cuộc chiến mà theo đó, kẻ thù thì chủ trương không cần tôn trọng mọi nguyên tắc.

Kiểu suy tư chuyên về pháp lý đã bàng bạc thấm nhuần sâu đậm với FBI. Vào ngày 18 tháng 6 năm 2003, một nhân chứng của FBI đã từng mô tả FBI đối xử ra sao với bọn khủng bố. “Khi chúng tôi thu thập tin tình báo  … thì phải là loại tình báo tư pháp … dựa trên bằng chứng . . . trên dữ kiện … sẽ được xem xét bởi một bồi thẫm đoàn và một thẩm phán …. Chúng tôi cần biết … những gì mới có thể chứng minh được …”.

John Lehman đã nói: “Đúng, tôi đã chưa bao giờ đọc được một tài liệu tuyệt hảo hơn trong việc chống đối công tác tình báo. [Cơ quan]  FBI đúng là lực lượng cảnh sát tốt nhất thế giới, nhưng họ cũng có thể … là lực lượng tình báo tồi tệ nhất thế giới”. Lehman bèn tiếp tục, “Làm tình báo có nghĩa là dự đoán và rồi  chia sẻ chứ không là phải cứ ráng nhằm bảo vệ chứng cớ hầu có thể thành công trong việc truy tố”.

Tương tự như vậy, Jamie Gorelick cũng có viết gởi phái đoàn của Clinton quan điểm của Bộ Tư pháp: “để truy tố tội phạm và bảo vệ các quyền của công dân”. Lehman có nhận xét, “Tuy nhiên, cả hai điều này thì đều thực sự luôn luôn mâu thuẫn với nhau …. phản ứng quá lố khi làm lơ bỏ qua trong trường hợp Moussaoui … lại chính là do chúng tôi đã cứ cố gắng cùng làm một lúc hai công tác bất khả dung với nhau, tức là vừa làm công tác của cảnh sát mà vừa luôn cả công tác tình báo trong cùng chỉ một cơ quan mà thôi”.  5232

Ấy vậy, trong suốt thời Chiến tranh Lạnh và chiến tranh Việt Nam thì quả là FBI đã từng thi hành cả công tác chấp hành luật pháp mà luôn cả tình báo. Các công tác tình báo của họ đã vượt trội hơn nếu so với CIA trong thời Việt Nam.

Iraq và Cuộc Chiến Chống Khủng Bố:

Vẫn Là Những Nghi Can Củ, Những Lập Luận Củ Rích

Như sách này đã cho thấy, rất nhiều kẻ đã từng hỗ trợ và nâng đở địch ngay trong thời chiến và một số đã có mưu đồ cũng như một số đã thực sự quay qua làm cách mạng với bạo lực. Một số thành viên Weathermen đã từng bị kết án tù  lâu dài vì các hành vi hình sự như là cướp có vũ trang và cố sát. 5233 Nguyên suốt cuộc chiến Việt Nam, một số đã làm gián điệp cho ngoại bang, một số thì đúng là cố tình nhưng một số thì không, một số từng có lãnh lương trong khi một số khác thì không.

Cho tới nay thì Hiệp hội Các Quyền Công Dân Mỹ (American Civil Liberties Union ~ ACLU)  và đám cấp tiến lại lần nữa đâm ra căm tức các cơ quan tình báo đang theo dõi các nhóm biểu tình phản chiến và những nhóm khác. Đã từng có làn song ồn ào chống đối Đạo luật Patriot, chống đối việc thẩm vấn bọn khủng bố và cách đối xử với các tù binh. Trong một bối cảnh lịch sử và trong chiến tranh thì quả là hợp lý khi không xem mọi nhóm phản chiến đều chỉ đơn giản là bọn chủ hòa mà quyền tự do ngôn luận cần phải được bảo vệ chiếu theo pháp luật. Cũng vậy, kinh nghiệm vụ Việt Nam thì cũng đã giảng dạy cho chúng ta là mọi công dân thường đều không phải là cứ phải giống nhau mà thôi.

Bush và Tình Báo

Tám tháng sau vụ 911, vào ngày 30 tháng 5 năm 2002, Chưởng lý Liên Bang John Ashcroft đã tu chính Các Chỉ thị Hướng Dẫn Levi (Levi Guidelines) mà đã từng ngăn cấm các nhân viên FBI  truy tìm trên Liên Mạng ‘Internet’ cũng như là sử dụng các dữ liệu có tính cách riêng tư. Thậm chí FBI còn từng đã bị cấm tham dự các buổi tụ hợp công cộng, chẳng hạn như các cuộc biểu tình hay các cuộc họp về tôn giáo, ngoại trừ trường hợp có khả năng một tội phạm sẽ xẩy ra. Đám chủ trương quyền tự do tuyệt đối của công dân đã từng phản đối FBI về việc đã có điều tra về khả năng tín dụng cá nhân thông qua ChoicePoint và Experian, loại chỉ dẫn mà cũng cần phải kiểm tra ngay cả khi chỉ muốn mua một cái máy, một chiếc xe hay một ngôi nhà, loại đòi hỏi phải tiết lộ khả năng tín dụng “riêng tư” của mình với người khác.

Giống như các Tổng Thống tiền nhiệm, George W. Bush tuyên bố Hành pháp đương nhiên có quyền kiểm nghe các thông tin liên lạc của những tên đã biết được hay đang bị tình nghi là khủng bố trong một thời chiến tranh mà không cần tới trát tòa FISA. Thủ tục FISA thường bị chỉ trích là quá chậm chạp ngõ hầu có thể đối phó kịp thời với các mối đe dọa cận kề. Từ năm 1979 đến năm 2004, NSA đã được chuẩn chấp 18.761 lần và chỉ bị từ chối có năm lần thôi. Trong năm 2004, 1.754 án lệnh FISA đã được chuẩn cấp.

Trong năm 2006 thì đã có 13.000 bản báo cáo thuộc Hồ sơ Dữ kiện Threat and Local Observation Notice ~ TALON (Báo cáo Đe Dọa và Theo dõi Địa Phương ) của Ngũ-giác-đài về phong trào phản chiến cùng các cuộc biểu tình công cộng khác.

Và cũng vậy, cùng một thái độ chống đối chỉ có tính cách chính trị đối với các công tác tình báo cũng lại có thể đang thành hình trong Cuộc Chiến Dài chống Khủng Bố.

Đám biểu tình phản chiến và đồng bọn hậu thuẩn tại Quốc hội và trong giới truyền tin đã hợp sức khởi động một cuộc chiến dịch tuyên truyền nhằm chống lại Tổng Thống, chống Quân đội Mỹ tại Iraq, chống Cuộc Chiến chống Khủng Bố, chống Đạo luật Ái Quốc “Patriot Act”, chống cả công tác của NSA nhằm chận kiểm tra các cuộc điện đàm gọi tới đám nghi can khủng bố cùng việc giam giữ tù binh và chống luôn cả việc thẩm vấn chiến binh địch.

Thượng nghị sĩ Charles Schumer, Dân chủ – New York có tuyên bố, “Rồi thì sẽ có nghị quyết này đến nghị quyết khác, tu chính này đến tu chính khác … giống y như trong thời kỳ Việt Nam. Chống đối rồi sẽ gia tăng, tổng thống sẽ nhận chân ra là mình đã không hề có một chiến lược nào cả, hay sẽ phải thay đổi chiến lược và đa số binh sĩ của chúng ta thì rồi cũng sẽ được rút đi để an toàn trở về nhà thôi”.  5234

Bọn Chống Đối Chiến Tranh ở Iraq: Việt Nam Tái Bản

Bọn chống đối cuộc chiến tranh chống khủng bố cùng các chiến dịch tại Iraq có tuyên bố là chính Hoa Kỳ là một thế lực đế quốc. Chúng la lối là Tổng thống chuyên nói láo cũng như là chuyên đi gây chiến và giết người. Chúng chủ trương là nước Mỹ quả rất xứng đáng để nhận lãnh những gì đang xẫy ra mà thôi. Chúng cho là cuộc chiến chống khủng bố cũng giống như một cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn vô nghĩa lý. Chúng nói việc gây chiến này là bất hợp pháp và vô đạo đức. Chúng lại cáo buộc là lý do an ninh quốc gia cũng chỉ là màn che đậy hành vi dẹp bỏ quyền tự do phát biểu mà thôi. Chúng vu cáo là Tổng thống đã nói láo khi viện dẫn các lý do phải khởi động cuộc chiến tranh. Chúng cho là chính sách của chính phủ là cần phải tra tấn tù binh cùng tiến hành nghe lén một cách bất hợp pháp khắp mọi nơi đối với cả hàng ngàn, có lẽ còn là cả hàng triệu người Mỹ vô tội.

Những lời phê bình ngây thơ nhất về cuộc chiến ở Iraq thì cũng như là   Chamberlain đang cố mưu tìm hòa bình, chỉ khác là trong thời của chúng ta, hãy tạm xem như chính là Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, rất tự mãn trong thái độ sát gần để rồi âu-yếm “đối thoại” với các ngoại bang đang bảo trợ cho khủng bố như là Tổng thống Syria Bashar Assad, tay tài trợ cho Hezbullah của Iran. Đám biểu tình phản chiến cực đoan nhất đã hoan nghênh việc chống lại “chủ nghĩa đế quốc” Mỹ tại Iraq và Afghanistan. Chúng đã lên án một chính quyền lạnh lùng với  việc phụ nữ và trẻ em vô tội từng bị giết hại. Chúng đã phản đối việc binh sĩ bị  thương tích một cách vô luân bằng cách đi biểu tình phía ngoài các quân y viện. 5235 Chúng đã gọi Tổng Thống là một tên tội phạm chiến tranh. Bây giờ thì bọn phảnđối lại còn tuyên bố  “Bush và Công ty đang ra tay ra như là một nhóm côn đồ chân mang giày ống cao bằng da chuyên tra tấn, chuyên do thám một cách bất hợp pháp, chuyên giam người không kể gì luật pháp và đang cướp mất đi quyền tự do ngôn luận của người dân”. 5236

Bush Đi Thăm Việt Nam

Vào tháng 11 năm 2006, Tổng thống Bush khi đến thăm Việt Nam đã tuyên bố là một trong những bài học về Việt Nam là: “Chúng tôi sẽ chiến thắng trừ khi chúng tôi bỏ cuộc” tại một hội nghị thượng đỉnh Châu Á Thái Bình Dương ở Hà Nội. Tới ngày 20 tháng 11 năm 2006 thì “Cả hàng ngàn người Việt Nam đã xếp hàng dọc các con đường thành phố Hồ Chí Minh [Sài Gòn] đêm hôm qua, để vẫy tay, cổ vũ và đội con trên vai để ráng chỉ nhìn thoáng qua cho được Tổng thống Bush đến thăm”. Trong một bức hình, ta thấy Tổng thống Bush bên cạnh con trai của tay mà bây giờ đã là Tướng Phạm Xuân Ẩn, tên điệp viên bậc thầy từng cung cấp  tin tình báo chiến lược cho Bắc cộng và rất có thể, bất chấp sự hoài nghi của các tên viết tiểu sử ngưỡng mộ y là Berman và Bass, đã từng dối gạt và đánh lừa đám phóng viên hàng đầu của Mỹ tại Việt Nam: Shaplen, Halberstam, Sheehan, v. v. .

image004

 Hình: Tổng Thống Bush gặp con trai tổ sư điệp viên Phạm Xuân Ẩn

Larry Berman, Texas Tech 2008.

 Trong khi đó, sự ủng hộ Bush vẫn đang tiếp tục giảm sút trong lúc cuộc chiến tranh ở Iraq cứ đã càng xấu đi và đã không hề phục hồi lại được ngay cả khi một  chiến lược tăng them nhiều quân đã mang lại được thành công.

Phải Chăng Lại Là một Việt Nam Tái Bản – cũng chính vì những lý do sai lầm tương tự như khi đã quyết định bỏ cuộc chơi?

Cũng như từng tại Việt Nam thì bây giờ các nhân viên NSA và CIA nào mà lại tiết lộ các bí mật về Cuộc Chiến tranh Dài chống Khủng Bố thì cũng được gọi là ái quốc và những nỗ lực để tìm cho ra ai đã lộ tin thì vẫn bị xem như là đàn áp kẻ bất đồng chính kiến​​. 5237 Và trong thời gian từ 2006 tới 2008, một số lớn đa số phản chiến tại Quốc hội, cùng Tổng thống Barak Obama và Chưởng Lý Liên bang Eric Holder, đều có vẻ như ngăn cấm công tác do thám của Mỹ, cấm luôn việc nghe lén theo dõi bọn khủng bố, chủ trương không chấp nhận mọi bằng chứng có được chỉ vì nhân viên thẩm vấn bất lịch sự, bắt sử dụng nguyên tắc Miranda mổi khi tra hỏi bọn khủng bố địch, lại còn cung cấp luật sư cho các chiến binh địch ngay trong thời chiến và đơn giản dùng chỉ án lệnh của tòa để phóngthích bọn khủng bố.

Bọn Phản Chiến: Lại Vẫn Là Đám Tình Nghi Lâu Nay Thôi

Bọn biểu tình phản đối cuộc chiến Iraq cũng chỉ là các đám và tổ chức củ lâu nay nhưng nay thì đã đổi tên gọi. Ramsay Clark, Tom Hayden, Jane Fonda, Noam Chomsky, Angela Davis, John Conyers, Bernardine Dohrn, Daniel Ellsberg, Martin Sheen, Howard Zinn, Robert Altman, Harry Belafonte, Vanessa Redgrave, Leonard Weinglass, Mark Lane, VVAW Joe Urgo, SDS Carl Davidson và Clark Kissinger, Leslie Cagan và Medea Benjamin của Venceremos.

Quyển Radical Maps Road của James H. Hansen và Quagmire of Hate của Robin Boyd có tường thuật về liên hệ giữa các nhóm biểu tình. Tổ chức quốc tế của Medea Benjamin tên là Code Pink: Women for Peace and Global Exchange (Ám Hiệu Hồng: Phụ nữ cho Hòa bình và Giao Lưu Toàn Cầu) thì có quan hệ mật thiết với Castro của Cuba và với  Hugo Chavez của Venezuela.

Các nhóm phản chiến đầu tiên chống lại cuộc chiến tranh Iraq đã là NION và ANSWER, 5238 mà đềucùngquan hệ chặt chẽ và công khai với các nhóm Mác-xít. Cựu Thư Ký Quốc gia SDS Clark Kissinger là một giám đốc của Not In Our Name ~ NION (Không Được Nhân Danh Chúng Tôi) và Kissinger cũng là một đảng viên, cùng với SDS Carl Davidson và VVAW Joe Urgo, thuộc Đảng Cách mạng Cộng sản Mỹ (Revolutionary Communist Party USA ~ RCUSA) và Clark Kissinger cũng đã thành lập tổ chức Refuse and Resist (Từ chối và Chống Lại). 5239 RCPUSA đã biến thành NION còn bọn đảng viên của Workers World Party WWP thì đứng ra lập ANSWER.

Tới tháng 10 năm 2002 thì People for the American Way đứng ra thành lập United for Peace and Justice ~ UFPJ, một liên kết rộng rãi hơn mà đã gom luôn tất cà thành viên của NION như là Global Exchange, Code Pink, Citizens Impeachment Commission, After Downing Street Coalition, Communist Party of Maryland, NY and Central Indiana, Committees of Correspondence for Democracy and Socialism, Communist Party USA, Green Party, Socialist Party, Independent Progressive Politics Network, Rainbow/PUSH, Greenpeace, Middle East Children’s Alliance, MoveOn, National Lawyers Guild, Not in Our Name (NION), Đảng CS Việt Nam và nhiều tổ chức khác. Nếu tính từ thời Việt Nam thì UFPJ có bao gồm luôn AFSC, Center For Constitutional Rights, Coalition for Peace and Justice, Đảng Cộng sản, Episcopal Peace Fellowship, IPS, Fellowship of Reconciliation, National Lawyers Guild, Peace Action, Pledge of Resistance, Students for a Democratic Society, Unitarian Universalists, United Congregational Church, United Church for Christ, United States Student Association, Veterans for Peace, Vietnam Veterans Against the War, War Resisters League và WILPF. 5240 Nhiều thành viên UFPJ đã nằm lại và hoạt động rất tích cực trong liên minh ANSWER.

Medea Benjamin với Code Pink đã từng cố cung cấp tới 600.000 đô Mỹ cùng thuốc men cho bọn khủng bố đang chiến đấu chống Mỹ ở Fallujah, Iraq vào cuối năm 2004, đầu năm 2005.

Johnson và Nixon đã từng có lý hay không?

Sách này đã cho thấy là các chính phủ Liên Xô, Cu-ba, Trung cộng, Tiệp và Bắc cộng đã từng tích cực hỗ trợ các nhóm phản chiến tả phái, đặc biệt là bọn lãnh đạo hàng đầu của các tổ chức đó. Các Tổng Thống Johnson và Nixon đã từng quá ư là đúng đắn hơn là cái Ủy ban Church và các sử học gia. Tổng Thống Johnson và Nixon, ứng viên Tổng thống đảng Dân chủ Hubert Humphrey, Chưởng Lý Liên bang Katzenbach, giám đốc FBI Hoover, Giám đốc CIA George Bush và nhiều người khác (nhiều lần và nhiều nơi) đã từng phàn nàn về việc địch đã có thể ảnh hưởng vào phong trào phản chiến. Đô đốc Mỹ Grant Sharp, chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ từng có tuyên bố là ý chí quốc gia bị tàn phá bởi “một chiến dịch tuyên truyền phản động khéo léo, lại được hỗ trợ và tiếp tay bởi giới truyền tin mà đã chủ trương chỉ loan tin muôn trùng về những gì phải thật là giật gân, cả những tin đồn và luôn những tin chỉ đúng có “phân nữa” về cuộc chiến”.

FBI và quân báo thì lo thu thập tin tình báo về bọn lãnh tụ phản chiến và các tổ chức chính yếu gắn bó với bọn gián điệp và ngoại bang. Trong thời chiến tranh Việt Nam thì các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã từng bị chỉ trích nặng nề về chính sách giám sát có lựa chọn cùng việc điều tra mà không có lệnh tòa ngay trong thời kỳ chiến tranh. Trong thực tế, Đạo luật Omnibus Crime Control Act năm 1968 đã cho phép cảnh sát và các cơ quan liên bang có thẩm quyền lớn rộng hơn, nhằm tiến hành việc theo dõi và nghe lén hầu chống lại các nhóm hay cá nhân bị coi như là một mối đe dọa cho nền an ninh quốc gia. Sau đó và bây giờ, vấn đề là cân nhắc giữa tự do dân sự với an ninh quốc gia. Đã có muôn trùng lý do hợp pháp về mục đích lợi ích an ninh quốc gia để chứng minh cho việc theo dõi một số thành viên của phong trào phản chiến và đặc biệt là tổ chức Weather Underground. Ngày nay thì cuộc chiến chống khủng bố và khã năng của một cuộc xung đột sắp xảy ra với Trung Cộng cũng phải biện minh cho chính sách giám sát đã từng được luật pháp quy định về mặt này.

*****

5145    Information Digest, 25 tháng chạp năm 1981, trang 389; Young, Stephen B. “Vietnam War: Washington Was Right”, The Wall Street Journal; New York, 7 tháng 11 năm 1995..

5146  Đại tá Joseph P. Martino, USAF (Về hưu), “Vietnam and Desert Storm: Learning the Right Lessons from Vietnam for the Post-Cold War Era”, có viện dẫn Young, Stephen, “How North Vietnam Won the War”, Wall Street Journal, Thứ Năm, 3 tháng 8 năm 1995, trang A10.

5147  Harold W. Rood, “Distant Ramparts”,  Naval Institute Proceedings, Số Tháng 8 Năm 1965.

5148  Thomas Jefferson nói với John B. Colvin, Monticello, 20  tháng 9 năm 1810 trong  The Writings of Thomas Jefferson, Nhà Xuất bản Paul L. Ford, Bộ 9, trang 29, Năm 1898. 

5149  David J. Bean, “Peace Democrats and Copperheads”, Military, Số Tháng 6 Năm 2006, trang 24-25.

5150  Trong số đó đã có Rose O’Neal Greenhow mà đã cung cấp các kế hoặch của Tướng McDowell trong trận Bull Run thứ nhất cho Beauregard và Thomas A. Jones, các kẻ phụ trách ‘bưu điện’ của Confederation tại Maryland mà sau đó đã giúp John Wilkes Booth trốn thoát về Virginia. Mark E. Neely, Jr., “The Lincoln Administration and Arbitrary Arrests: A Reconsideration Journal of the Abraham Lincoln Association Vol. 5, the History Cooperative”,  http://www.historycooperative.org/journals/jala/5/neely.html

5151  David D. Lowman, MAGIC: The Untold Story of U. S. Intelligence and the Evacuation of Japanese Residents From the West Coast During WWII, Athena Press, 2000.  Tại các trang 166, 169 và 171 thì gián điệp Nhật tại Mỹ đã báo cáo về lộ trình của chiếc USS Saratoga CV-3, tàu mà thân phụ của tác giả đã từng phục vụ trong Thê chiến II mà cũng đã thoát chết khi Nhật tấn công bằng thủy lôi trong lúc nghỉ giải lao.  

5152  Ray Wannall, The Real J. Edgar Hoover: For the Record, Paducah: Turner Publishing Company, 2000, trang 69 có viện dẫn sách của William Lawrence, “Hoover Cared About Civil Liberties”, Ashville Citizen and Times, 5 tháng 7 năm 1981.

5153  Ray Wannall, The Real J. Edgar Hoover: For the Record, Paducah: Turner Publishing Company, 2000, trang 28.

5154  Có quá nhiều bàn tán về việc CIA dính líu vào công việc quốc nội.

CIA quả đã từng giúp Phân bộ Cảnh Sát Washington Metropolitan Police Department nhân các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt nam dạo 1969-1971. Họ đã có cung cấp một máy liên lạc vô tuyến cùng vài xe hơi có trang bị ‘radios – máy phát tuyến’ cùng hai Field Office Agents (nhân viên nhiệm sở). Đọc: CIA, FOIA, “CIA support to Washington metropolitan police department during anti-Vietnam War demonstrations 1969-1971 described”, tham chiếu #1983-000131, trang 1.

5155  Các phiên điều trần trước Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee,  The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 56.

5156  Phúc trình, Hoover nói với Tolson, 17 tháng 11 năm 1970 tại trang Liên Mạng FBI FOIA dưới đề mục Tolson.

5157  FBI, FOIA gởi cho Ủy ban Church committee, “Telephone Surveillances on Domestic Targets, January 1, 1970 through June 30, 1975”.

5158  Ray Wannall, The Real J. Edgar Hoover: For the Record, Paducah: Turner Publishing Company, 2000, trang 77.

5159  Ray Wannall, The Real J. Edgar Hoover: For the Record, Nhà xuất bản Paducah: Turner Publishing Company, 2000, trang 80-81.

5160  FBI, SAC Newark gởi cho Giám đôc, “Counterintelligence Program—Internal Security. Disruption of the New Left, Re: Bureau letter to Albany, 5/10/68”, 27 tháng 5 năm 1968, trang 1-2 tại  http://www.icdc.com/-paulwolf/cointelpro/sacnewark27may1968.htm.  

5161  Khai chứng của James B. Adams, Ủy ban Church Committee, Các phiên điều trần, Bộ 6,  12 tháng chạp năm 1975, trang 70.

5162  “Ricky’s Probe: Bringing the CIA to Heel”, Time, Thứ hai 23 tháng 6 năm 1975.

5163  FBI, FOIA, Giám đốc gởi cho Chưởng Lý Liên Bang, THÁNG 6 “United States Senate Select Committee on intelligence Activities”, (SAC), 1 tháng 6 năm 1976.

5164  FBI, FOIA, R.W. Smith gởi cho W.C. Sullivan, phúc trình, “Microphones-Policy brief”, 12  tháng 7 năm 1966.

5165  Khai trình của Chưởng Lý Edward H. Levi, 6 tháng 11 năm 1975, Các Phiên Điều trần, Bộ 5, trang 68-70. Các con số thống kê trước 1968 gồm luôn những vụ theo dõi bằng điện tử cho mục đích cả về tình báo lẫn truy tìm kẻ phạm pháp. Những vụ sau 1968, kể từ khi ban hành đạo luật Omnibus Crime Control Act, thì đã gồm cả việc theo dõi chỉ trong mục đích tình báo cùng phản tình báo ngoại quốc; các vụ theo dõi bằng điện tử nhằm truy tìm hình tội thì về sau nay đã phải tuân theo các thủ tục bắt buộc đã được quy định trong Bộ Luật đó. Được nêu ra trong bản phúc trình Church cuối cùng.  

5166  James Eatinger, Phiếu trình giữ làm tài liệu: ‘CI Project Material Handling’, 10/7/71 được nêu ra trước Ủy ban Church Commission, trang 705.

5167  FBI, FOIA, Phúc trình Tối Mật, W.A. Branigan gởi cho E.S. Miller, “Major Intelligence Programs”, 6 tháng 6 năm 1972.

5168  Như trên.

5169  Daily World, 18 tháng 3 năm 1980 được nêu trong Information Digest, 21 tháng 3 năm 1980, trang 101.

5170  Một số tổ chức bị CIA theo dõi đã là: Students for a Democratic Society (SDS); Young Communist Workers Liberation League (YCWLL); National Mobilization Committee to End the War in Vietnam; Women’s Strike for Peace; Freedomways Magazine and Freedomways Associated, Inc.; American Indian Movement (AIM); Student Non-Violent Coordinating Committee (SNCC); Draft Resistance Groups (U.S.); Cross World Books and Periodicals, Inc.; U.S. Committee to Aid the National liberation Front of South Vietnam; Grove Press, Inc.; Nation of Islam; Youth International party (YIP); Women’s Liberation Movement; Black Panther Party (BPP); Venceremos Brigade; Clergy and Laymen Concerned About Vietnam.

5171  Khai trình của Trung Tướng Lew Allen, Jr., Giám đốc NSA vào ngày 29 tháng 10 năm 1975 với Ủy ban Church tại cryptime.org/nsa-4th.htm.

5172  Christian W. Erickson, UC Davis, “Securing Cyberspace: Part 2-US Cryptography in the 20th Century”.

5173  Paul Cowan, Nick Egelson và Nat Hentoff, State Secrets: Police Surveillance in America (New York: Holt, Rinehart, and Winston, 1974), trang 14-15.

5174  John P. Finnegan, Military Intelligence, đúc kết bởi Romana Danysh,Loạt tài liệu Army lineage series, Trung tâm Center of Military History, Quân đội Hoa Kỳ, Washington, D. C., 1998, Chương 9: Vietnam and Beyond, trang 164. http://www.history.army.mil/books/Lineage/mi/ch9.htm

5175  Án lệ 662 F.2d 79, 213 U.S. App. D.C. 234, 82-1 USTC P 9261, Walter D. Teague, III, Indochina Solidarity Committee…, Kháng tụng chống Donald C. Alexander và đồng bọn.

5176  Căn cứ theo phúc trình cuối cùng của Ủy ban Church từ 1960 tới 1972 thì gần cả ba mươi nghi phạm tiết lộ tin tức đã có bị đặt máy nghe lén bởi FBI mà không được Tòa chuẩn phê. Bảy người đã là phóng viên hay người viết báo. Có 10 người thì không hề được Chưởng Lý cho phép. Các phúc trình lưu trữ của FBI đã không cho biết được là có khám phá ra được ai đã tiết lộ tin an ninh quốc gia.

5177  Garnett “Bill” Bell và George J. Veith, “POWs and Politics: How Much does Hanoi Really Know”, Trung tâm Center for the Study of the Vietnam Conflict Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, Đại học Texas Tech University, 19 tháng 4 năm 1996.

5178  Bell và Veith.

5179  Án lệ Laird chống Tatum 408 U.S. 2, 13-14, 32-33(1972).

5180  Án lệ Donohue chống Duling, 465 F.2d 196 (4th cir. 1972).

5181  Ủy ban Fifth Avenue Parade Committee,  Hiệp hội chưa đăng ký và đồng bọn, Các Nguyên đơn chống L. Patrick Gray 3rd, Giám đốc Đương nhiệm của Văn Phòng Điều Tra Liên Bang FBI và đồng bọn, Các Bị đơn, Tòa Kháng cáo Hợp-Chũng-Quốc Khu 2, án lệ 480 F.2d 326, đăng đường ngày 14 tháng 3 năm 1973. Tuyên án ngày 12 tháng 6 năm 1973.

5182  Chỉ huy trưởng, Nhóm Khủng bố Quốc tế (International Terrorism Group), CIA, 10  tháng 3 năm 1975, báo cáo Rockefeller trang 1488-90.

5183  Trích trong Báo cáo gởi Tổng Thống bởi Ủy ban về các Hoạt động của CIA trong quốc nội (Ủy ban Rockefeller Commission), Tháng 6 Năm 1975. Chương 11, Đoạn G (New York: Manor Books, 1975), trang 142-44, http://www.cia-on-campus.org/surveil/chaos.html

5184  Ủy ban Church Commission, trang 723.

5185  Wesley Swearingen, FBI Secrets: An Agent’s Expose, 1994.

5186  FBI, FOIA Howard Zinn, Phúc trình Memo Sullivan 100-360217. Howard Zinn đã không xứng đáng để được FBI  lập riêng cho một hồ sơ Security Index dạo đầu thập niên sáu mươi.

5187  Khai trình của James B. Adams, Ủy ban Church Committee, Các phiên điều trần, Bộ 6, 12 tháng chạp năm 1975, trang 71-2.

5188  Bill Ayers, Fugitive Days, trang 120.

5189  Stephen Denney, “Human Rights and Daily Life in Vietnam”, Báo cáo soạn bởi Ủy ban Luật sư về Nhân quyền, 25 tháng 3 năm 1990, trang 9 trong số 15 trang; V. K., “Fourth Precinct: Household Registrations Completed for 1,709 Families Having Returned From New Economic Zones”,  Sài-gòn Giải Phóng, 7 tháng 11 năm 1986, trang 54-59: JPRS-SEA 87-047, trang 84-94 thuộc hồ sơ Đông Dương Indochina Archive tại Berkeley.

5190  Được nêu ra trong sách của J.R. Nyquist, “A balanced perspective”, WorldNetDaily.com, 9 tháng 10 năm 2000,  http://www.worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=19869

5191 Herbert Romerstein, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability”, Tổ chức McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm 2003 tại  iwp.edu.

5192  Như trên.

5193  “PRIVATE-PUBLIC SECTOR PARTNERSHIPS FOR EMERGENCY PREPAREDNESS,”NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Phiên điều trần công khai, Thứ Tư, 19 tháng 11 năm 2003, Đại học Drew University, Madison, New Jersey.

5194  Phiên điều trần công khai về NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Thứ ba, 14 tháng 10 năm 2003, Phòng 253 Russell Senate Office Building, Washington, DC.

5195  Phiên điều trần công khai về NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Thứ hai, 26 tháng giêng năm 2004, Văn phòng Thượng viện Hart Senate Office Building Washington, DC.

5196  “Phúc trình Ủy ban Church Committee”, Intelligence Activities and the Rights of Americans, Quyển II, Phúc trình cuối cùng của Ủy ban được chỉ định Nghiên cứu các Sinh hoạt của Hành Pháp thuộc về những điệp vụ Tình báo, Thượng viện Hoa Kỳ với các Quan điểm Bổ túc, Phụ thêm và Riêng biệt, 26 tháng 4 (ngày quốc hội, 14 tháng 4 ) năm 1976, E. Political Abuse of Intelligence Information, Major Findings. Có thể tra cứu tại:  http://www.icdc.com/~paulwolf/cointelpro/churchfinalreportIIce.html

5197  Powell, Covert Cadre, trang 75.

5198  Để điều tra một cách hợp pháp đám chủ trương làm cách mạng thì cần phải chứng minh là chúng mưu đồ kích động ‘hành vi phạm luật sắp xẩy ra’ và các hoạt động của chúng cũng ‘rất có khã năng gây ra việc đó’.

5199  Herbert Romerstein, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability”, Hiệp hội McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm 2003 tại  iwp.edu

5200  Christopher Andrew và Vasili Mitrokhin, The Sword and the Shield, Basic Books, 1999.

5201  Charles Davis, “Brown’s ‘Special List’ highlights eclectic relationships”, California Watch, 9 tháng 10 năm 2010. 

5202  Federalist, 7 tháng 5 năm 2004.

5203  “Sad and Sorry Chapter for the FBI; Three top officials are indicted for illegal acts”, Time , Thứ hai 24 tháng 4 năm 1978.

5204  Đọc: Epstein, Deception…, trang 195.

5205  Herbert Romerstein, “Counterpropaganda…” trong tài liệu của  J. Michael Waller, Strategic Influence: Public Diplomacy, Counterpropaganda, and Political Warfare, Viện Washington: The Institute of World Politics, 2009, trang 160.

5206  Sáu mươi chín dân biểu đã đệ trình các nghị quyết để hủy bỏ HISC đã là: California: Burton, Corman, Danielson, Dellums, Edwards, Hawkins, LccBCft (không rỏ ràng), McCloskey, Rees, Roybal, (không rỏ ràng); Colorado: Evans; Illinois: Annunzio, Collins, Metcalf, Mikva, Yales (không rỏ ràng); Indiana: Jacobs; Iowa: Culver, Schlemiel (không rỏ ràng); Maryland: Gmic (không rỏ ràng), Mitchell; Massachusetts: Roland, Drinan, Harrington, Morse; Michigan: Conyers, Diss (không rỏ ràng), Ford, Nedzi, Dingle; Minnesota: Borland, Fraser, Karth (không rỏ ràng); Missouri: Clay; New Jersey: llelstoski (không rỏ ràng), Howard, Thompson; New York: Abzug, Badillo, Bingliara (không rỏ ràng), Carey, Chisholm, Dow, llalpcrii (không rỏ ràng), Koch, Rodell (không rỏ ràng), Uan-cll (không rỏ ràng), Reid, Rosenthal, Schcuer (không rỏ ràng), Wolff; Ohio: Ashley, Seiberling, Stokes, Vanik; Pennsylvania: Ellsberg, Green, St Germain; Rhode Island: Tiernan; South Dakota: Abourczk (không rỏ ràng); Tennessee; Anderson; Texas: Eckhardt; Washington: McCormack, Meeds (không rỏ ràng); Wisconsin: Aspin, Kastenmier, Rcuss (không rỏ ràng); DC: Fauntroy, D. C.

The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, Các phiên điều trần trước Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of Internal Security Laws and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 94, Khóa 1, Phần 2, 11 tháng 7 năm 1975, trang 110-11.

5207  Tổ chức kế tiếp cho National Committee Against Oppressive Legislation là Ủy ban  National Committee to Abolish HUAC and HISC.

5208  Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 58-60, 65, 137, 148-9. 

5209  Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14  tháng 7 năm 1975, trang 71-2.

5210  Hiệp hội Methodist Federation for Social Action, Social Questions Bulletin, bản tin số 7, bộ  62, Tháng 10 Năm 1972 như là tang chứng số # 5 của Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 138.

5211  Bản tin Liên Minh Alliance trong Tháng 10 Năm 1972 do nhân chứng Adelle Noren đệ trình trước Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 108.

5212  Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, July 14 tháng 7 năm 1975, trang 65, 67.

5213  Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, 14 tháng 7 năm 1975, phần 2, trang 70, 72, 81-2, 135-7.

5214  Tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 134.

5215  Việc còn lại phải làm là một chính sách tích cực nhằm đặt những chỉ tiêu, những ‘quota ~ sồ lượng bắt buộc ’cùng các thời khóa biểu cho bọn Cộng sản trong Chính phủ cũng như cho các đại học của chúng ta, nơi mà đám giáo sư Mác-xít chiếm đa số so với số thuộc đảng Cộng Hòa trong có lẻ là đa số của các đại học ưu tú.

5216  James Wilson tuyên bố với tác già và nhiều người khác, 13 tháng 2 năm 2009.

5217  http://www.encyclopedia.chicagohistory.org/pages/1049.html.

http://www.chicagohistory.org/static_media/pdf/historyfair/chicago_police_depts_red_squad.pdf.

5218  Herbert Romerstein, “Treason and Ted Kennedy: The Story the Media Won’t Tell, Human Events, December 2003; Herbert Romerstein“, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability”, Tổ chức McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm 2003 tại  iwp.edu.

5219  Nếu cho là nhân vật Watergate’s Deep Throat, W. Mark Felt đã chỉ hành động theo những nguyên tắc cao cả thì có vẻ là quá lố. Có thể ông ta cũng đã mắc cở nên đã dấu kín việc tiết lộ của mình trong hơn cả ba mươi năm. Tính cách ái quốc của Felt có thể không khác gì việc trả thù vì không được bổ nhiệm làm Giám đốc FBI. Việc khám phá ra Felt chính lại là Deep Throat đã vô tình đánh bóng các hành vi tiết lộ tin như là ái quốc.

Traitriotism at the CIA (Hành vi bội phản tại CIA), bởi Socrates ·

Phân đoạn:Diaries (Nhật ký),  24 tháng 4 năm 2006  http://socrates.redstate.com/story/2006/4/24/13265/2055

5220  Roger Canfield và Richard A. Delgaudio, China Doll: Clinton Gore And the Selling of the U.S. Presidency, Washington: United States Intelligence Council, 2000.

5221  Jean Pearce, “How Chinagate Led to 9/11”, FrontpageMagazine.com, 25 tháng 5 năm 2004.

5222  Roger Canfield và Richard A. Delgaudio, China Doll: Clinton Gore And the Selling of the U.S. Presidency, Washington: United States Intelligence Council, 2000.

5223  Ủy Ban Quốc gia NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Điều trần Công khai, Thứ năm 8 tháng 4 năm 2004, trụ sở Hart Senate Office Building, Washington, DC.

5224  Các sách về Venona viết bởi Klehr, Weinstein và Romerstein từng được nêu ra ở đâu đó.

5225  John Earl Haynes, Harvey Klehr và Alexander Vassiliev, Spies: The Rise and Fall of the KGB in America, Yale, 2009 được nêu ra trong sách của Nicholas Lemann, “Spy Wars: the real legacy of Soviet spying in America”, The New Yorker, 27 tháng 7 năm 2009, trang 73.

5226  Roger Canfield, China’s Trojan Horses, Sacramento: báo Military Magazine 2002. Agents, of influence– discussed/definedWaller, Mike trang 8, 157, 160, McAlvany Intelligence trang 158, và phúc trình Mindszenty Report  trang 157, nói chung tại các trang 141- 145, 156-161; Đọc trang 136, 146, 151, 166, 168, 170-171, 175, 180-185, 187, 189-190, 200, bọn điệp viên đóng vai cố vấn chuyên môn trang 75, 148, 157, 208, Đạo luật Foreign Agents Registration Act (FARA) trang 161; Các cá nhân – Baker, James A., III trang 159, Berger, Sandy trang 137, 156, Blackwill, Robert trang 164, Chearavanont, Dhanin trang 148, 149, Christopher, Warren trang 36, 51, 62, 139, 160, Eagleburger, Lawrence  trang 62, 157, 159, Einhorn, Robert trang 24, Finkel, Howard trang 82, Fok, Henry trang 63, Foley, Mike trang 50 (COSCO), Haig, Alexander M., Jr. trang 62, 157, 158, Ho, Stanley trang 53, Hsia, Maria trang 146-147, 141-142, 144, 149-151 (Xem Gore), Huang, John trang 143-145, 22, 141, 142, 146, 147, 148, 150, 151, 157, 164, Kanchanalak, Jeb trang 148, Pauline trang 147-149, 150, Kissinger, Henry trang 62, 157-159, Kronenberg, Duagnet trang 148, Kung Lok trang 149, Lake, Anthony trang 148, Lindfelt, Jerald A. trang 120, Liem Sioe Liong trang 106, Luu, Robert trang 142, Montaperto, Ronald trang 135, Ng Lap Seng trang 53, 141, 146, Pan, Antonio trang 146, Perry, William trang 32, 151, Prueher, Admiral and Ambassador Joseph trang 32, 153-154, Red Team trang 161, Riady, James and Mochtar, Lippo Group trang 106, 141-144, 150, 164-165, Rothkopf, David trang 157, Samore, Gary trang 24, 152, Shultz, George trang 62, 157, 158, Scowcroft, Brent trang 164, Shelton, General Henry and appeasement trang 37, Sioeng, Ted trang 141, 147, Sun, Ho Hung trang 149, See also Ho, Stanley, Vance, Cyrus trang 62, 157, Worldwide Associates and Haig trang 62, 158, Wu, Mr. trang 141, 146. See also Seng, Ng Lap, See also Chao, Trie; CorporateBusiness Coalition for U.S.-China Trade trang 157, Ban Chang International trang 148, Charoen Pokphand (CP) Group trang 148, Chinasec trang 136, Stephens, Inc. trang 144, U.S.-Thailand Business Council trang 148.

5227  Roger Canfield, China’s Trojan Horses, Sacramento: Military Magazine 2002.Agents, of espionage, illegal exports. Chinese- Chan, David trang 127, Chen, Q.C. trang 186-187, Chin, Larry Wu-Tai trang 130, Collin Xu AKA Zhihong Xu See Collin Xi trang 126, 127, Gwo Bao Min trang 130, Hai Lin trang 139, Henderson-Pollard, Anne trang 131-132, Hou Desheng trang132, Hitt, Robert J. trang 185, Ho, Charlston trang 186, Hsu, Eugene trang 186, Hu Boru trang 185, Kao Ahwan trang 120, Kao Shuli trang 120, Kao, Stephen trang 120, Kai Xu trang 139, Jin, Li trang 120, Kheem, Storm trang 133, Lee, James trang 132, Lee, Peter trang 136-138, Lee, Wen Ho Lee trang 138-140, 20, 21, 38, 130, 166, Lei Ping trang 132, Liao Minglong trang 184, Lion Photonics, Inc. trang 126-127, Ma trang 53, 134, 135, Pan Yongming trang 184, Ray, Penny trang 132, Qingchang Chen trang 184, Shu, Collin trang 120. Tian Yi trang 184, Wan Kao trang 120, Warhorse trang 134, 135,Xu, Collin trang 120, Yan Liren trang 185, Yang, David trang 186, Yang, Red-Chin trang 133, Yen Men Kao trang 131-132,Yi Yao trang 126, 127, Yong Qing Cheng trang 139, Zang Weichu, trang 132.

5228  Military (dual use) Technologies, U S – bought or stolen by China- armored riot control vehicle trang 140, Atel Electronics and Harris Semiconductor trang 120, automatic target recognition trang 124, B-1 bomber trang 128, 152, computer numeric controller (CNC) trang 129, data acquisition control system trang 133, encryption trang 154, 186, fiber optics trang 46, 61, 108 (Jiang Mianheng and ChinaNet), trang 119, fiberoptic cable networks trang 180 (see Global Crossing), fiberoptic gyroscope trang 126, 127, fiber sensors trang 126, fire-control radar trang 131, five-axis milling machines trang 128, 129,Global Positioning System (GPS) trang 113, 120, 197, integrated circuits trang 120, jet engine trang 62, 131, 158, microwave scattering trang 137, laser bombardment trang 137, laser testing trang 136, long-range sensors trang 120, machine tools trang 46, 127, 152, 185, oscillators trang 132, Radar Ocean Imaging Project trang 137, radiation hardened trang 120, 152, remote sensing trang 22, 32, 120, sonar trang 122, sub detection research trang 137, Synthetic Aperture Radar (SAR)  trang 120,telecommunications trang 22, 44, 47, 58, 61, 119, 139, 154, 159, 160, 169, 174, 180, 186, thermal video system trang 129, titanium alloy trang 128, torpedo trang 131, tritium  trang 137, vertical milling machine trang 129, Wei Soon Loong Private Ltd. trang 186, Đọc Nuclear. 

5229  John Lehman, nhận xét và câu hỏi, NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Điều trần công khai, trụ sở Alexander Hamilton U.S. Custom House Auditorium, One Bowling Green, New York, New York Monday, 31 tháng 3 năm 2003.

5230  Như trên.

5231  Như trên.

5232  “PRIVATE-PUBLIC SECTOR PARTNERSHIPS FOR EMERGENCY PREPAREDNESS,”NATIONAL COMMISSION ON TERRORIST ATTACKS UPON THE UNITED STATES, Phiên Điều trần Công khai, Thứ Tư 19 tháng 11 năm 2003, Đại học Drew University, Madison, New Jersey,

5233  Bill Ayers, Fugitive Days, trang 308 đã có ghi nhận bọn Weathermen Kathy Boudin, Marilyn Buck và Dave Gilbert là đã vẫn còn ở trong tù vào năm 2001.

5234  Thượng nghị sĩ Charles Schumer, Dân chủ -New York, 18  tháng 2 năm 2007.

5235  Đám phản chiến Code Pink từng bám sát và săn đuổi các thương phế binh bên ngoài Bệnh viện Walter Reed Hospital mãi cho tới khi giấy phép không còn được tái gia     hạn.

5236  Blogger Robin Boyd, http://www.chickenhawkexpress.blogspot.com/

5237  Nhân viên CIA Mary O. McCarthy, kẻ bị buộc tội từng cung cấp tin mật cho Dana Priest, theo Rush Limbaugh thì đã là kẻ lộ tin thứ tư trong Hội đồng An ninh Quốc Gia của Clinton để chống lại G.W. Bush. Mary McCarthy thì phản đối việc tìm bắt Usama Bin Laden với việc tấn công bằng phi đạn vào xưởng sản xuất hơi độc của y. Y thị đã khai trình trước Ủy ban 9/11 Commission, nhưng lại làm lơ không cho biết mình từng chống đối việc tấn công Ben Laden đã được dự tính trước vụ 09/11. Là một kẻ cộng tác chính cho Đảng Dân Chủ, việc y thị tiết lộ tin mật tuy là có tính cách đảng phái nhưng lại đầy tính cách phản quốc”. … Y thị đã bị xem như đã làm việc với tư cách gián điệp nằm sâu (mole) và đã phản lời tuyên thệ  cũng vi phạm các bổn phận công dân khi chuyển giao tin tức gây hiễm nguy về an ninh quốc gia cho báo chí, tuy là có lợi cho y thị”. “Nếu hành vi phản quốc mà lại là hành vi ái quốc thì, (Mary McCarthy) quả là … hình ảnh tuyệt chiêu của hành vi phản quốc mà lại cho là mình ái quốc (traitriot). Đọc: Traitriotism at the CIA, bởi Socrates, Phân Đoạn Diaries, 24 tháng 4 năm 2006  http://socrates.redstate.com/story/2006/4/24/13265/2055

5238  “Some War Protesters Uneasy with Others”, New York Times, 24 tháng giêng năm 2003; “War Criminal Turk Bombs Bagdad-Defend Iraq”, Workers Vanguard, 1 tháng 2 năm 2001, trang 1; “The Peace Lobby Revives”, Information Digest, Bộ  XXIII, Số  21, 19 tháng 10  năm 1990;  tất cả đền được nêu ra trong sách của Harold W. Rood, “The War for Iraq: A Study in World Politics”, AVOT, Claremont Institute, 22 tháng 10  năm 2007 tại www.claremont.org.  

5239  Hansen, Radical Road Maps, trang 137.

5240  United for Peace and Justice, trang 1, có 444 hội viên tại  http://www.unitedforpeace.org/groups.php?country.

*****

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #182”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #182 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: