Roger Canfiels’s Americong #6

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

****** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 6

 Chiến Lược Việt Nam Trùng Hợp với Người Mỹ, 1964

Các biến chuyển trong năm 1964 và 1965 sẽ đẩy các chiến lược gia về chính trị Việt Nam mà đã tự xưng không cộng của cánh tả Mỹ cùng chung sức hoạt động. Sự mâu thuẩn giữa lòng trung thành hoặc với tổ quốc hoặc với các quan điểm không tưởng xa vời cộng sản của những tên  biểu tình phản chiến Mỹ sẽ bị thử thách, và cuối cùng đã cho thấy họ sai lầm hoàn toàn những khi tuyên bố về sau đó là mình yêu nước và là những kẻ ngây thơ chủ hòa.

 Việt Nam Xây Dựng Hệ Thống Tuyên Truyền Tập Trung tại Mỹ

Hơn một năm trước khi 3.500 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ tại Đà Nẵng, vào tháng 4 năm 1964, tờ Vietnam Courier đã bắt đầu tường thuật về cuộc chiến bằng Anh ngữ, báo cáo về những vụ dội bom của Mỹ, về chiến tranh hóa học và các tù binh chiến tranh. “Du khách Mỹ đến Hà Nội thường rất ngạc nhiên về sự hiểu của Việt Nam đối với  quan điểm  về chiến tranh của Mỹ”, theo lời Mary Hershberger. Ngoài tính cách là kẻ hâm mộ Đài phát thanh Hà Nội và  Vietnam Courier, Mary Hershberger còn là tác giả của một tài liệu có thiện cảm của khách du lịch đến Hà Nội  843  và một bài biện hộ trơ trẽn cho Jane Fonda.  844

Tương tự như vậy, trong nhiều năm trước khi tòa tháp đôi bị đánh xập, rất giống Hà Nội, Osama bin Laden đã tuyên truyền qua một mạng lưới phát xít Hồi giáo gồm có truyền thanh, truyền hình và Internet về sự suy đồi, sự yếu đuối và sự hèn nhát của Mỹ , con quỷ Sa-tăng Lớn.

Luôn luôn cố gắng kết nối với các điệp viên Mỹ của mình, trong một thư gởi vào tháng sáu năm 1964, Hồ Chí Minh đã nói, “Nhân dân Việt Nam không bao giờ nhầm lẫn giữa nhân dân Mỹ yêu chuộng công lý với Chính phủ Mỹ mà đã phạm vô vàn tội lỗi  … trong mười năm qua.”  845 Điệp khúc này đã từng được trình bày biết bao nhiêu lần.

Kỷ Thuật Lâu Năm của Hồ Chí Minh để Chinh Phục các Tay Lý Tưởng Tây Phương

Theo Jean Lacouture, sau khi Hội nghị Hòa bình Versailles được triệu tập vào năm 1919 để soạn thảo một hiệp ước hòa bình sau Thế Chiến I, một thanh niên tên Hồ Chí Minh đã  thảo ra một chương trình tám điểm nhằm giải phóng Đông Dương khỏi nền thực dân Pháp. Lấy cảm hứng từ 14 điểm của Tổng thống Wilson , kế hoạch của Hồ đã đòi hỏi có được đại diện thường trực tại quốc hội Pháp, có tự do báo chí, có tự do hội họp và lập hội, phải ân xá cho những người bất đồng chính kiến, bình đẳng về các quyền pháp lý giữa người Pháp và người An Nam. Hồ đã chưa hề nói chuyện với Tổng thống Wilson, người mà đã đang bị chống đối về các ý tưởng của mình bởi thực dân Châu Âu.

Tám điểm của Hồ Chí Minh , giống như Tuyên bố về Độc lập và Hiến pháp của y đã là những công cụ tuyên truyền hữu ích để tìm kiếm sự hổ trợ của một Hoa Kỳ đang với một Tổng thống Wilson phân tâm và sau đó trong các năm 1940 và 1950, của quân đội Mỹ và của cơ quan OSS có thiện cảm với cộng sản.

Hồ Chí Minh Đã là một Người Jeffersion Giã Mạo

Cùng ăn lương của cả  CIA và Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã dạy các cán bộ chính trị về chủ nghĩa Mác-Lê nin. Hồ đã không dạy cả về các quyền tự nhiên của các cá nhân hoặc tính cách giới hạn quy định trong hiến pháp Hoa Kỳ về quyền lực của chính phủ. Tuyên bố bắt chước của Hồ về Tuyên Bố Độc lập, đọc vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên một máy phát tuyến lấy được của Pháp tại Bạch Mai, đã giống một cách không chối bỏ được với các tài liệu gốc Mỹ mà y đã ca tụng để nhằm có được vũ khí và hỗ trợ từ quân đội và OSS Mỹ. Việt Nam thường trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập, hay Kinh Thánh, và các tài liệu văn học  phổ biến Mỹ cho những người đã không tự đọc hoặc ít nhất thì cũng hiểu hai tài liệu đầu.

Những bức chân dung to lớn của Joseph Stalin tại các quảng trường đã khiến một số du khách đến Hà Nội ngạc nhiên, chẳng hạn như tiểu thuyết gia và phê bình gia  Mary McCarthy. 850 Đã không bao giờ McCarthy hay bất kỳ người Mỹ nào khác đã đề cập đến sự thiếu vắng của Tom Jefferson, James Madison hay Abraham Lincoln. Một trong những công viên đẹp nhất của Hà Nội được đặt tên Lê nin, chứ không là Jefferson. Tờ Ramparts, “từng muốn Cộng sản phải chiến thắng,” đã có một ấn bản với trang bìa có hình Hồ Chí Minh giống như George Washington đang vượt sông Delaware. 851

Hồ và các tay kế nghiệp quay sang phối hợp các cuộc biểu tình chống chiến tranh của các công dân Mỹ thân thiện với Cộng sản và các nhà cách mạng đệ tam thế giới. Phong trào hòa bình không bao giờ dao động trong việc hỗ trợ Bác Hồ tuy là đôi khi hướng đi cũng quay qua bẻ lại không đồng nhất.

Dù đã có một thành tích không suy suyển về liên tục đàn áp và tiêu diệt những tín đồ tại Liên Xô và Trung Cộng, bọn Cộng sản vô thần đã có rất nhiều thành công trong việc tổ chức các tín đồ thành những mặt trận phục vụ cho lý tưởng cộng sản , ví dụ như chiến dịch Huy động Hòa bình Mỹ  (American Peace Mobilization) trong thời Hiệp ước Hitler-Stalin. 852

Hội Nghị Hòa Bình Thiên Chúa Giáo, tháng 6 năm 1964, Prague

Vào cuối tháng 6 năm 1964 tại Prague, Tiệp Khắc, Hội nghị Hòa bình Thiên chúa giáo đã nghị hội. Một ủy ban có trụ sở tại Mỹ đã tuyển dụng người Mỹ để tham dự. 853 Alfred Hassler thuộc Fellowship Of Reconciliation, FOR đã giao cho John Heidbrink tuyển dụng các người Công giáo vào FOR và phong trào hòa bình. Mặc dù được thành lập vào năm 1963 bởi Jim Forest, Marty Corbin và Philip Berrigan,  854 một cách lạ kỳ Heidbrink đã mời Jim Forest, linh mục Daniel Berrigan, Herman Evans và James Douglass thuộc Catholic Worker (Công nhân công  giáo) đi sang thủ đô Cộng sản Praha để chính thức hóa cho Catholic Peace Fellowship trở thành một chi nhánh của FOR. 855

Nhóm lãnh tụ Đông Âu do Cộng sản kiểm soát, (Joseph Hromadka, Alexander Karew, Tổng Giám Mục Nikodim, Giám mục Barta, và giáo sư Schmauch) đã hoàn toàn chi phối Hội nghị hòa bình Thiên chúa giáo. 856 Có lẽ Catholic Peace Fellowship đã muốn hoặc cần sự đở đầu chính thức của Cộng sản.

Vào thời điểm đó, BBC đưa tin rằng Khối cộng sản Liên Xô … “liên tục thực hiện các nỗ lực để thu hút các người Thiên chúa giáo ở khắp mọi nơi gia nhập vào các ‘mặt trận hòa bình ‘.” Do đó , Hội nghị Hòa bình Thiên chúa giáo “[như vậy] … đã là một tổ chức quan trọng đã được  chuẩn bị chu đáo trước.” Hội nghị hòa bình Thiên chúa giáo (Christian Peace Conference CPC) “có khuynh hướng cổ võ các mục tiêu giống hệt với của (Hội đồng Thế giới Hòa bình – World Peace Council), mà … đang ủng hộ chính sách đối ngoại Liên Xô.”

Chính sách Liên Xô không phải là về ơn cứu độ Kitô giáo mà cũng không phải là vì hòa bình thế giới hay vì  tình huynh đệ, mà đã chỉ là dành một chiến thắng cho cộng sản ở Việt Nam và ở các nơi khác trong đệ tam thế giới. BBC đã tường thuật, “Hội nghị hòa bình Kitô giáo đã tự bổ nhiệm như là một trong những nhà vô địch đại diện cho các tân quốc gia ở châu Phi và châu Á.”

Các kho bạc thì đầy ấp. “Do việc có được quỹ rất lớn, với tiền bạc gần như hoàn toàn có gốc từ Đông Âu, các thư mời các đại biểu từ châu Á và châu Phi đi Prague đều hầu như luôn luôn đi kèm với vé cho không miễn phí. 857  Theo các tường trình của Fellowship Of Reconciliation, FOR thì John Heidbrink đã chi phí cho chuyến đi của nhóm Công giáo Hoa Kỳ thông qua một nhà tài trợ vô danh. 858

Vì vai trò của Warsaw Pact Countries WPC (Các Quốc Gia Hiệp Ứơc Warsaw ) cũng giống như của Quốc tế cộng sản và Văn Phòng Thông Tin Cộng Sản (Communist Information Bureau) trước đó, tức là  phối hợp tuyên truyền của Liên Xô (agitprop), thì đúng thiệt là WPC sẽ có lợi khi tài trợ cho các người Mỹ thân thiện.

Sau đó Đinh Bá Thi, thuộc phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã nói với một đám đông ở U.S. Peace Council , “Như mọi người Việt Nam từng biết, các bạn đã giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam” 859 và Romesh Chandra, Tổng thư ký WPC và là thành viên của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Ấn Độ, 860 đã mô tả  “Phong trào hòa bình Mỹ” như là một ” đạo quân thứ 5 ” giúp cho cộng sản trong ” cuộc đấu tranh chống lại chiến tranh Việt Nam” của họ. 861

Tất cả các diển biến xảy ra tại ViệtNamđã càng ngày càng cho thấy có một sự tăng gia trong liên kết thân cận giữa Hà Nội và các bạn bè phản chiến của họ. Một trong số biến chuyển bị tranh luận nhiều nhất đã xẩy ra vào đầu tháng 8 năm 1964.

 Vịnh Bắc Việt: tháng 8 năm 1964 – Thượng viện thì kiên quyết, Johnson thì phân vân, có phải tất cả chỉ là láo khoét?

Để khiến cho việc Mỹ can dự vào Việt Nam trở nên có tính cách bất chánh đáng, hàng ngàn thùng mực đầy độc chất và hàng triệu danh từ đã được dùng để bàn cải về các sự kiện ở Vịnh Bắc Việt trong một vài ngày vào đầu tháng 8 năm 1964.

Để phản ảnh một cách tuyệt đối nét khôn ngoan cố hữu của mình, Tim Weiner của tờ New York Times trong bài Legacy of Ashes gần đây đã viết: “Cuộc chiến ở Việt Nam đã khởi đầu với những sự dối trá về chính trị dựa trên thông tin tình báo giả mạo”  862  về vụ Vịnh Bắc Việt. Phân tích Weiner dựa trên sự bóp méo tường trình giải thích của Robert Hanyok về nguồn tài liệu gốc chính của National Security Agency NSA (Cơ quan An ninh Quốc gia) 863 mà chính y cũng đã không màng để đọc qua một lần thôi.

May mắn thay, vào năm 2005, Cơ quan An ninh Quốc gia  NSA đã giải mật các bản tin liên lạc qua làn sóng của hải quân Hà Nội mà đã bị Mỹ ghi nhận cùng các bản dịch của Mỹ trong vụ Vịnh Bắc Việt vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8 năm 1964. Các điện tín  được giải mã này cho thấy Bắc Việt đang theo dõi một tàu khu trục Mỹ, chiếc US Maddox, và đã chuẩn bị kế hoạch tấn công cả hai ngày trước cuộc tấn công thực sự trong sáng ngày 2 tháng 8.

Trong những ngày kế tiếp, các trao đổi khác cho thấy Hà Nội đã đang theo dõi hai khu trục hạm, chiếc Maddox đã được chiếc Turner Joy nhập bọn, và một lần nữa, được xem như đang chuẩn bị một cuộc tấn công khác. Vào ngày 4 tháng 8, 1964 một số lượng lớn gồm nhân chứng nhìn tận mắt, máy dò sonar, radar cùng vài  SIGINT có vẻ như tả lại một trận chiến hỗn loạn thứ nhì trong hoàn cảnh thời tiết xấu. Bất kể các nghi vấn ban đầu về tính chính xác của các thông tin tình báo điện tử, các chính trị gia đã tin những gì các nhân chứng thấy tận mắt và các giả định cũng như là phân tích của các chuyên viên NSA dường như xác nhận rằng một cuộc tấn công khác đã được soạn thảo và thi hành. Nhưng không đúng vậy.

Trong thực tế đã không có cuộc tấn công thứ hai, 864 nhưng không ai cố tình làm giả tạo một cuộc tấn công thứ hai và cũng không có ai đã giả mạo bất kỳ thông tin tình báo nào. Đã có những nỗ lực để phân tích, hợp lý hóa, tìm ra lý do từ các dữ kiện về những điện tin trao đổi mâu thuẩn mà NSA đã thu thập được. Những cách giải thích sai như vậy, tuy  sai, nhưng đã phù hợp với tất cả những tin tình báo và sự kiện khác trước ngày 4 tháng 8. “Việc giải quyết sai lầm các tin SIGINT đã không … có tính cách mưu đồ … với bằng chứng được thu xếp trước và thông đồng ở tất cả các cấp”,  Hayok viết như vậy trong  “Skunks, Bogies, Silent Hounds and the Flying Fish…”. 865 Các nhân viên và biên tập viên của tờ New York Times nhấn mạnh rằng NSA “đã giả mạo” tin tình báo. 866

Như chúng ta sẽ thấy, khã năng ôn cố tri tân ngay như của người đui thì cũng không biện minh được cho việc vu khống chống lại các chính trị gia, các tình báo viên và các thủy thủ đã thi hành bổn phận của họ trong những ngày định mệnh của tháng 7 và tháng 8 năm 1964. Hơn nữa, quả thật là vô lý khi nói là cuộc chiến bắt đầu trong hai ngày vào tháng Tám năm 1964.

Chúng ta bắt đầu với trận chiến ngày 2 tháng 8.

Cuộc tấn công vào ngày 2 tháng 8 năm 1964

Bắc Việt theo dõi sự việc di chuyển của cả tàu Mỹ  867 và tàu Nam Việt  868 trong hai ngày liền. 869

Lúc 23:07 ngày 31 tháng 7, Cộng hòa Dân chủ Việt Nam đang chuẩn bị pháo binh. 870 Tàu tuần tra của chúng vừa cùng theo đuổi sát tàu Nam Việt Nam đang trốn về Nam và luôn cả theo dõi chiếc Maddox đang trở lại hiện trường để theo dõi radar quân Bắc Việt. Lúc 16:21 ngày 1 tháng 8 liên lạc vô tuyến hải quân Bắc Việt đã báo cáo, “Tàu tuần  Desoto [Maddox] đang có mặt bị theo dõi bằng radar.” Lúc 16:27, một căn cứ hải quân Bắc Việt tại Bến Thủy thông báo cho các tàu hải quân của họ, “Chúng ta quyết tâm tấn công kẻ thù tối nay khi có lệnh cho phép “… 871 Desoto [Maddox] hiện đang trong vùng lân cận [chín dặm Đông Nam] của đảo Hòn Mê .” 872

Lúc 21:52 các chuyên viên giải mã Mỹ khám phá được một điện vô tuyến có tựa đề là “Hải quân Cộng hòa Dân chủ Việt Nam có thể tấn công Desoto” và mô tả là “có khã năng tức thì điệp vụ Desoto sẽ bị tấn công.” 873 Liên lạc vô tuyến của hải quân Hà-nội sau đó không nói gì nữa.

Bắc Việt Công Nhận Đã Tấn Công Trước

Thật vậy, theo lịch sử chính thức bên Việt Nam thì lãnh đạo Đảng Lê Duẩn của Bắc Việt  đã ra lệnh tấn công 874  vào lúc 13:50  875 và Tướng Võ Nguyên Giáp sau đó đã thú nhận cuộc tấn công vào chiếc Maddox với Robert McNamara. 876 Các điện vô tuyến đương thời cũng cho thấy như vậy.

Bắc Việt sử dụng hai loại tàu tuần tra là các chiếc Swotow Trung Quốc, tàu dùng radar để theo dõi được vũ trang với pháo 37 ly và 20 ly cùng mìn nổ cho độ sâu với loại P-4 Liên Xô trang bị ngư lôi với tốc độ 52 dặm/giờ . Các chiếc Swatows phụ trách gần như tòan thể thông tin liên lạc với các cơ quan trên bờ.

Lúc 11:44 ngày 2 tháng 8 năm 1964, các đơn vị hải quân của Hà Nội đã được thông báo, “Đã nhận được lệnh … T 146 và T 142 … đi song song với địch và [P-4] sẽ phóng ngư lôi.”   877

Lúc 14:12, độ 55 phút trước khi tấn công, San Miguel chặn được một lệnh của hải quân Quân đội Nhân dân Việt nam chỉ thị cho T-142 and T-146  tiến gần lại tàu Maddox và tấn công bằng ngư lôi.” 878

T-146 thì được lệnh “quay trở lại hướng tàu địch đang đi  … để tấn công.”  879

Trong biến chuyển này, vào ngày 2 tháng 8 năm 1964 lúc 14:40 ba tàu ngư lôi P-4 do Liên Xô chế tạo  là T-333, T-336, và T-339 đã tiến gần lại và lúc 15:07 thì tấn công chiếc USS Maddox giữa ban ngày lúc vào chiều. 880 Nhờ được báo động trước, Maddox đã sẵn sàng và đã có thể khai hỏa trực tiếp trúng một tàu PT một lần, do nơi Bắc Việt đã tấn công theo một hàng dọc. Mọi việc đều xong xuôi vào lúc 15:29.  881

Trong một bài báo Việt Nam chính thức năm 2004, Lưu Quang Phổ, một sĩ quan trên chiếc T 336 vào ngày 2 tháng 8 đã mô tả cuộc chiến:

Nhận được từ lệnh từ bộ chỉ huy hải quân của ta, đơn vị của chúng tôi (T336), thành phần thứ ba của tiểu đoàn ngư lôi, gồm ba tàu, T333, T336, T339, đã rời cảng Vạn Hòa ở Hòn Gai và chuẩn bị sẵn sàng để đuổi đi chiếc tàu Mỹ  … Mỗi (tàu) được trang bị hai ngư lôi. … Tàu chúng tôi lúc 2:52 thì tấn công khi phát hiện ra chiếc Maddox ở phía đông của Hòn Mê. … Thấy chúng tôi tấn công, tàu Maddox đã khai hỏa lại vào chúng tôi liên tục cho đến 3:26 thì tàu 339 của chúng tôi … đã bắn một quả ngư lôi và rời hiện trường … Một phút sau thì tàu 336 của chúng tôi đã bắn một quả ngư lôi. … Các phi cơ đã  bắn tên lửa, do đó ông Nguyễn Văn Tự đã thiệt mạng …. Lúc 3:28, tàu 333 của chúng tôi tiếp tục phóng các ngư lôi . . . Đúng 5 giờ . . . thì bọn Mỹ rút lui. Cả hai chiếc 336 và 339 đều bị chìm.

Cả hai nguồn tin chính, NSA và Cộng sản, bây giờ đều cùng đồng ý trên tất cả các biến  chuyển quan trọng của cuộc tấn công ngày 2 tháng 8 năm 1964.

Hà nội đã cố tình tấn công chiếc USS Maddox.

Chiếc Maddox đã “bị đuổi ra khỏi hải phận của nước Cộnh Hòa Dân Chủ Việt Nam” vào ngày 2 tháng 8 năm 1964.  882

Phải chăng phía Việt đã bị lầm lộn giữa Desoto và OPLAN 34A?

Các nhà phê bình,  Bắc Việt và bọn biện hộ Mỹ sau đó đã tuyên bố rằng phía Việt đã nhầm lẫn khu trục hạm Maddox với các tuần tra thu thập tin tình báo Desoto do các tàu  Nam Việt thực hiện theo chương trình OPLAN 34A nhằm tấn công các vị trí trên đảo vào đêm 30 và 31 tháng 7.

Trong khi các điệp vụ OPLAN 34A đều do Mỹ trang bị, huấn luyện và cố vấn nhưng chúng khác biệt với các tuần tra DESOTO bởi khu trục hạm của tình báo Mỹ thì lại chỉ nhằm theo dỏi radar Bắc Việt và giải mã các thông tin liên lạc của họ.

Chính sách của Hải quân Hoa Kỳ là giữ cho các tuần tra DESOTO riêng biệt về  thời khóa biểu giờ cùng địa dư với các điệp vụ  OPLAN 34A của Nam Việt . Thật vậy, tàu Maddox “đã ra khơi rất xa” trong cuộc tấn công OPLAN 34A trên Hòn Mê vào đêm ngày 30-31. Bắc Việt quả đã có tấn công các “đồ bụi bậm” và “dư thừa”, những chiếc thuyền nhỏ của các biệt kích OPLAN 34A, nhưng đã để yên các “con tàu lớn” Desoto của Mỹ hoạt động một mình 883 (cho đến ngày 2 tháng 8 năm 1964).

Các chuyến tuần tra thường lệ DESOTO để thu lượm tin tình báo kể từ tháng chạp năm 1962 đã bị Hà Nội biết đến và thường được xác định trong các trao đổi vô tuyến của họ  bằng tên riêng đúng là DESOTO. Thông thường thì Hà Nội đã không lẫn lộn giữa DESOTO nhằm thu thập tình báo với OPLAN 34A nhằm pháo kích các căn cứ ven biển. Chắc chắn không phải vậy vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 khi chiếc Maddox đang ở cách  60-70 dặm và Bắc Việt đã phải biết vì đã có theo dõi nó với tên được xác nhận cùng nhiệm vụ của nó ròng rã suốt trong hai ngày liền. Một vụ tấn công của OPLAN 34A đã xảy ra hai ngày trước vụ tấn công bằng ngư lôi của Bắc Việt vào chiếc Maddox.

Từ các căn cứ ven bờ biển ở Phú Bài và San Miguel (Philippines), Mỹ đã đón chặn, giải mã và biết được các liên lạc vô tuyến hải quân của Hà Nội. Thật vậy, các tài liệu sử chính thức của Cộng sản và các thu lượm tin tức của NSA tại Phú Bài và San Miguel chứng minh là Bắc Việt đã cẩn thận theo dõi chiếc Maddox và phân biệt nó được với các tàu OPLAN 34A của Nam Việt suốt trong trong hai ngày. Chiếc Maddox đã ra khơi khi OPLAN 34A tấn công trên các đảo Hòn Mê và Hòn Ngư vào đêm ngày 30/31.

Sau cuộc tấn công ngày 2 tháng 8, Tổng thống Lyndon Johnson lúc đầu đã ra lệnh cho tất cả các tàu Mỹ ra khơi xa ngoài biển và không được trả đũa Bắc Việt. Bộ Trưởng McNamara và Johnson đã tự thuyết phục là Bắc Việt đã đáp ứng lại chiến dịch OPLAN 34. Cuối cùng, tàu Maddox đã được lệnh không tới gần hơn 11 dặm cách bờ biển Bắc Việt và quay trở lại thực hiện các cuộc tuần tra DESOTO mà nay thì có khu trục hạm Turner Joy đi kèm.

Bắc Việt  đã không sợ và tiếp tục theo dõi các động tác và địa điểm chính xác của nhóm tuần tra DESOTO, hai chiếc USS Maddox và Turner Joy. 884

4 tháng 8 – Các Cuộc Tấn Công Ma?

 Sau nửa đêm ngày 3 tháng 8, hai thuyền máy OPLAN tấn công một đơn vị radar tại Vĩnh Sơn và một đồn an ninh tại cửa sông Ròn.

Phía Việt Namvẫn tập trung theo dõi hai khu trục hạm. Hà Nội bám sát một cách khiêu khích tàu Maddox và Joy Turner vào ngày 3 tháng 8 năm 1964 và luôn qua những giờ đầu của ngày 4 tháng 8 năm 1964. 885  “Có hai tàu địch … phía đông của Hòn Mê . . . Bạn (Y142) phải có khả năng để bám sát, hãy liên tục trao đổi tin tức. Khẩn.” Khi đề cập đến hai kẻ thù, Hà Nội đã không lặp lại tin nhắn của ngày hôm trước mà liên quan đến chỉ có một kẻ địch, tàu Maddox. Bản tin trả lời, “Tôi đã nhận được lệnh phải bám sát. Chi ” 886 Vào lúc 9:56 sáng sáu tàu tuần tra cùng chạy về gần Hòn Mê và tàu Maddox. 887

Lúc 11:40 sáng, Phú Bài đón chặn được báo cáo, “Hải Phòng ra lệnh T-142 (loại tàu Swatow) phải chuẩn bị sẳn sàng để tác chiến trong đêm 4 tháng 8.” Chi tiết về ngày tháng đã rất cụ thể mà chi tiết về tàu PT, chiếc T-142 mà Maddox đã pháo trúng vào buổi sáng ngày 2 cũng vậy luôn. Chiếc T-146 cũng bị hư hại vào ngày 2, và đã cùng chiếc MTB T-333 nhận được lệnh phải chuẩn bị. 888

Khi biết được việc bám sát và các chuẩn bị giao chiến thì một cuộc tấn công thứ hai chắc chắn sắp xảy ra đối với các kỹ thuật viên SIGINT và các sĩ quan hải quân Mỹ trên hiện trường tại Vịnh Bắc Việt. Việc nhận dạng các tàu chắc chắn là không được rỏ ràng vì tàu Maddox đã bắn vào cả hai chiếc này vào ngày 2.

Trong thực tế, những chuẩn bị quân sự trong các ngày 3 và 4 tháng 8 đều chỉ là những chiến dịch nhằm cấp cứu các tàu bị thiệt hại trong ngày 1 tháng 8 năm 1964.  889 Tuy nhiên, vì những tin này theo sát chung với những lệnh phải bám sát hai tàu  Maddox và Joy Turner, nên chúng bị phiên giải sai lầm như là sẽ lặp lại của cuộc tấn công vào ngày 2 tháng 8.

Ngày 4 tháng 8, trong một “đêm tối đen và giông bão”, hai tàu Maddox và C. Turner Joy đã bị tấn công lần thứ hai với ngư lôi và súng. Cuộc đụng độ với tàu Maddox, nếu có, thì cũng rất ngắn ngủi. Các tin vô tuyến chận trước đó đã cho thấy là một cuộc tấn công đang được tiến hành và đã có báo cáo Hà Nội mất hai tàu , mà trên thực tế chính là tàu bị pháo trúng vào ngày 2 tháng 8.

Tuy nhiên, các cuộc tìm kiếm bằng không quân lẫn hải quân sau đó đã không tìm thấy ngư lôi nào cũng như không có các mảnh vụn của tàu. Thời tiết, sóng biển, tiếng động của cánh quạt và thậm chí tiếng cá bay cũng bị nêu ra như là đã tạo những tín hiệu ma trên các màn ảnh radar và những âm thanh kỳ quái trong máy dò sonar của chiếc Joy Turner. Một số nhân chứng khẳng định, trong đó có nhiều người mãi cho đến ngày hôm nay, rằng họ đã có nhìn thấy lửa, khói và vết ngư lôi được phóng đi.

Hoa Kỳ Trả Đũa, Công Luận Ủng Hộ

Sau khi cuộc tấn công thứ hai mà đã bị tin rằng đã xẩy ra, máy bay Mỹ đã trả đũa chống lại cuộc tấn công bị tin lầm là có xẩy ra đó, và trên thực tế thành ra là tấn công vô cớ trong ngày hôm đó. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Hải quân Trung ÚY (JG) Everett Alvarez, Jr bị bắn rơi để trở thành tù binh Mỹ đầu tiên bị giam giữ tại Hà Nội. (Trước kia thì Việt Cộng đã giam các tù binh chiến tranh khác ở miền Nam Việt, Campuchia và Lào). Bọn Việt đã vớt thi thể của Trung Úy J.G. Richard C. Sather ở ngoài biển.

Ở mặt trận quốc nội, công chúng ủng hộ việc Tổng thống trả đũa mà đã được xem như dấu hiệu từng được chờ đợi lâu nay về sức mạnh của ứng cử viên “hòa bình”, để chống lại đối thủ bầu cử là Thượng nghị sĩ Barry Goldwater. 890 Tỉ lệ ủng hộ của LBJ đạt 70%. 891 Trong thời gian đó, Thượng nghị sĩ Barry Goldwater (Cộng Hòa-Arizona), tác giả cuốn Why Not Victory (Tại sao Không là chiến thắng)  892 đã thắng được cuộc bầu sơ bộ của đảng Cộng hòa ở California trước Thống đốc Nelson Rockefeller (Cộng Hòa-New York). Năm 1964, 1966, 1968 và 1970, một phần lớn công chúng Mỹ phản đối việc Mỹ đơn phương rút khỏi Việt Nam. Công chúng sẽ tiếp tục mong muốn có một sự lãnh đạo kiên quyết ở khắp mọi nơi trong một thời gian dài sau đó. 893

Điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 8? Liệu Hà Nội đã tấn công như họ đã từng làm trong ngày 2 y như là các tin vô tuyến của họ đã cho thấy họ đang chuẩn bị để làm như vậy trong ngày 3 và 4?

Môi trường đen tối và sóng gió  894 của trận hải chiến ngày 4 tháng 8 năm 1964 đã rất là lộn xộn, đến mức để mà sau này cả phe tả lẫn phe hữu đều tuyên bố là đã không có cuộc tấn công của Việt Nam. Đô đốc Thomas H. Moorer thì lại nói là những viên đạn gở ra từ tàu Maddox xem ra trông rất giống thực đối với ông ta. 895

Tuy vậy, một số đông nhân chứng, bốn tiếng đồng hồ tín hiệu radar với sonar và bốn tin vô tuyến ngăn chận được của hải quân Việt dường như xác nhận đã có một cuộc tấn công. Bốn tin vô tuyến lúc đó của hải quân Việt: báo cáo vị trí của các tàu Mỹ;  896 mô tả các chuẩn bị của tàu Việt Nam để lâm chiến; báo cáo một máy bay bị rớt và một khu trục hạm bị hư hỏng; 897  và công bố thiệt hại hai tàu và hai máy bay Việt Nam . 898 Vào thời điểm đó, đã có sự suy đoán rằng các tin vô tuyến này chỉ là bình luận về cuộc tấn công ngày 2 tháng 8. Một tin đã thảo luận về cuộc tấn công ngày 2 tháng 8 và cuộc  trả đũa không quân của Mỹ vào ngày 5 tháng 8, 899 nhưng không nói gì tới bất cứ hành động nào vào ngày 4 tháng 8. Một tin đã cho thấy ý định tấn công vào ngày 4 tháng 8.

Các cuộc tấn công vào Joy Turner trong ngày 4 tháng 8 năm 1964 có lẽ đã không bao giờ xảy ra.

 Các Nghi Vấn Đều Được Bàn Cải Công Khai, Không Hề Bị Che Đậy

 Tuy là Thuyền trưởng John J. Herrick của tàu Maddox và vài phân tích gia của NSA đã  tức khắc bày tỏ nổi nghi ngờ ngay lập tức sau đó, số lượng lớn lao về bằng chứng đã có – đặc biệt là số lớn nhân chứng thấy tận mắt và các tin vô tuyến của hải quân Bắc Việt – đều có vẻ như  đã xác nhận có cuộc tấn công thứ hai. Vào thời điểm đó tất cả các nghi ngờ về các sự kiện xẩy ra đã được thảo luận và chia sẻ rộng rãi với tất cả các vị chỉ huy  trong cộng đồng tình báo và trong văn phòng của Tổng thống. 900 Tổng thống và hầu hết các nhân chứng tại hiện trường đều tin rằng đã có một cuộc tấn công thứ hai. Họ có thể đã sai, nhưng khi tin như vậy thì không bao giờ có thể cáo buộc là họ nói dối hoặc đã là những kẻ mưu đồ gì đó.

Trong khi các liên lạc vô tuyến của Bắc Việt đã ra lệnh cho các tàu lẫn tránh các cuộc không tập và kéo về các tàu bị hư hại trong ngày 6 tới 10 tháng 8, thì họ vẫn tiếp tục tỏ ý  sẵn sàng để hải chiến với Mỹ một lần nữa. Những lệnh đã là: “Thực tập cho một cuộc tấn công khác,” “Các cuộc tấn công thực tập phải trở nên hữu hiệu. Chờ lệnh chính thức. Phát; ” và ” Đồng chí Kim, chiếc T-122 (đã) nhận được lệnh rỏ ràng để chiến đấu “. 901

Nói vắn tắt, các sự kiện Vịnh Bắc Việt  không có thể bỏ qua hay gán ghép một cách trung thực là những vụ bao che, những mưu đồ hay là gian trá. Ít có khả năng là tàu tuần tra Maddox thuộc chương trình Desoto đã bị nhầm lẫn với các điệp vụ  OPLAN 3A bằng thuyền máy của  Nam Việt. Từ các tin đánh đi, chúng ta không thể công bình mà nói là lời cảnh cáo của nhân viên giải mã về một cuộc tấn công sắp xảy ra vào ngày 2 tháng 8 không có tính cách đặc biệt ‘nóng bỏng’ như một số quan chức tại Washington cách đó cả 10.000 dặm đã dự đoán. Và cũng quả thật là suy nghĩ ngây thơ cụ khi một số nhà phân tích NSA tại  Washington đã nhấn mạnh rằng các tin vô tuyến đánh đi của Bắc Việt cho thấy là họ đang trong  “tâm trạng phòng thủ, lặp lại, phòng thủ thay vì tấn công ” 902 suốt trong thời gian trao đổi vô tuyến để bàn luận chuẩn bị lâm trận tấn công.

Đúng, có những người đàn ông trong sương mù ven bờ của cuộc chiến vùng Vịnh Bắc Bộ vào đêm 4 tháng 8, có thể đã vi phạm một số lỗi lầm khi lấy quyết định.

McNamara Đã Tiết Lộ Bí Mật Về Việc Đón Chận Được Vô Tuyến Của Hải Quân

Ba năm rưỡi sau ngày 20 tháng 2 năm 1968, Thượng nghị sĩ William Fulbright đã gọi Bộ Trưởng Quốc phòng Robert McNamara ra để tường trình về vụ Bắc Việt. Bộ Trưởng đã bày tỏ tin tưởng vào các thông tin tình báo mà ông đã nhận được vào ngày 4 tháng 8 năm 1964. Khi bị hỏi dồn, McNamara đã miễn cưỡng cảm thấy phải công khai tiết lộ lần đầu tiên là tin tình báo của mình đã rất tốt bởi vì được dựa trên việc Mỹ đã giải mã được mật mã của hải quân Việt.

Sau buổi khai trình của McNamara vào năm 1968 thì Mỹ đã mất khả năng để giải mật mã  hải quân Việt, một nguồn quan trọng về tình báo, 903 không phải không giống như đã mất khả năng giám sát các cuộc gọi điện thoại của Osama Bin Ladin sau khi CIA và NSA đã để lộ cho báo chí biết trong mấy năm 2005-7. Có thể Thế chiến II tại Thái Bình Dương đã rất khác nều Nhật Bản đã biết được là Hoa Kỳ đang theo dõi các tin vô tuyến mật mã hải quân họ và họ thay đổi mật mã của họ và giữ được bí mật hải quân của họ khỏi Đô đốc Nimitz và Tướng McArthur mà các chiến dịch quân sự liên lục địa xẩy ra giữa biết bao nhiêu là đảo trải dài hàng ngàn dặm của vùng biển và của Thái Bình Dương đã đòi hỏi một mực độ rất chính xác về tình báo.

Cuộc Chiến Việt Nam Không Phải Bắt Đầu Từ Tháng 8 Năm 1964

Cuối cùng, cũng thật là phi lý nếu nói rằng Mỹ đã khởi đầu chiến tranh Việt Nam qua cái cớ của các sự kiện, thực và tưởng tượng, trong Vịnh Bắc Việt.

Chiến tranh đã đang xảy ra giữa cộng sản và không cộng suốt hai thập niên tại Việt Nam và trong cuộc chiến tranh lạnh trên phần còn lại của trái đất. Hà Nội đã bắt đầu cuộc chiến tranh khi ra lệnh cho bộ đội và tiếp liệu của chúng đổ xuống Nam vào ngày 19 tháng 5 năm 1959 và Mỹ có nghĩa vụ chiếu theo hiệp ước phải bảo vệ Nam Việt Nam, Campuchia và Lào. 904 Hơn nữa, cái Quốc hội mà đã biểu quyết Nghị quyết Vịnh Bắc Việt đã chắc chắn nhận thức được rằng Hoa Kỳ đã có 21.000 quân tại Việt Nam và đã bị 1.387 thương vong, trong đó có không ít hơn là 399 trường hợp tử vong tính tới tháng 7 năm 1964.

Vụ Vịnh Bắc Việt sẽ lại trở thành một trong nhiều điều bị đặt tên một cách lạ kỳ là những  “cuộc chiến tranh bí mật” ở Bắc Việt, Campuchia và Lào mà hằng ngày trên các trang đầu, tờ New York Times đã rêu rao một cách công khai là do Mỹ đang thi hành.

Sau đó thì nhà báo Tim Weiner của tờNew Yorkđã tuyên bố một cách sai lầm là các tài liệu NSA về Vịnh Bắc Việt là “một lời thú tội rất chi tiết.” Đúng ra thì khi công bố các tin về việc chận được tin vô tuyến, NSA đã tuyên bố là mình đã “không có ý định chứng minh hay bác bỏ bất kỳ kiểu kết luận nào,” nhưng ngược lại dành việc này cho độc giả tự quyết định lấy.

Vì có vẻ như đã không đọc các tin của NSA về việc kiểm chận được các tin vô tuyến nên Weiner đã không tường trình về các sự kiện bất khã chối cải từ phía Hà Nội nhằm chuẩn bị, ra lệnh rồi hành động vào ngày 2 tháng 8, đó là chưa nói đến lệnh tấn công của  Lê Duẩn vào ngày 2 tháng 8.

 Đối với kẻ có cảm tình với phong trào phản chiến, không có một bằng cớ nào mà lại có thể cho thấy được lổi của Hà Nội trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thậm chí nhiều thập niên mãi sau sự kiện này. Trong một lần trò chuyện với Lê Duẩn, kẻ đã ra lệnh tấn công vào ngày 2 tháng 8, Mao Trạch Đông đã mô tả vụ Vịnh Bắc Việt. “Cuối cùng thì ngay cả người Mỹ cũng không biết được là quả thật hay không bên Việt Nam đã có tấn công bằng ngư lôi. Các ký giả tại . . . Hoa Kỳ đã tin là không hề có [vụ tấn công này] và đó chỉ là một báo động sai lầm. 906 Lê Duẩn, kẻ đã ra lệnh và biết rỏ toàn nội vụ đã không trả lời cho các suy tư này của Chủ tịch Mao.

Betty Boardman , tên theo đạo Quaker và cộng tác với địch đã mô tả đúng kiểu của y rằng vụ Vịnh Bắc Việt là “một lời nói dối thuần túy. Nó đã không xảy ra … một cách trắng trợn như vậy. Quả thật Nói láo quá sức tưởng tượng.” 907

Thượng Viện Thông Qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt

Tiếp theo sự kiện này, vào ngày 7 tháng 8 năm 1964, Thượng viện Mỹ đã thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Việt với chỉ hai phiếu chống .

Sự Nhút Nhát của LBJ

Một cách muộn màng, lần đầu tiên Mỹ bèn ném bom các mục tiêu nhỏ – các căn cứ tàu ngư lôi – ở miền phía Bắc. Các Đồng minh Á châu đã hoan nghênh hành động quân sự lưng chừng này, nhưng Tổng thống Johnson, theo đúng học thuyết về gia tằng áp lực từ từ và về kiểu chiến tranh hạn chế, đã công khai công bố : “Chúng tôi không muốn có chiến tranh lớn hơn.” Ông nhấn mạnh là Hoa Kỳ không có ý định phá hủy các thành phố. Ngay sau đó, Johnson sẽ đã ngưng cả các cuộc tuần tra thu thập tin tình báo chứ chưa nói gì đến các cuộc tấn công vào các mục tiêu tại miền Bắc. Nhút nhát đến mức không thể giải hòa nữa, vào ngày 21 tháng 1 năm 1965 Johnson đã ra lệnh cho binh sĩ Mỹ không được đuổi theo Cộng sản vào lãnh thổ Cam-pu-chia và như vậy đã mặc nhiên cho nước này tính cách trung lập trên thực tế theo kiểu mà trước đó John Kennedy đã chính thức chấp thuận cho Lào.

Vụ Vịnh Bắc Việt quả đã đánh dấu sự tham gia gia tăng của Hoa Kỳ tại Việt Namvới sự đồng ý của Quốc hội. Trước vụ vịnh Bắc Việt, người dân Mỹ đã tán thành cách xử lý của Johnson tại Việt Nam theo tỷ lệ 58-42, sau đó thì là 72-28. 908 Mỹ, cũng giống như ViệtNam, đều muốn chiến thắng. Bạn thắng địch bằng cách tấn công chúng. Tại Iraq và Afghanistan, kiểu chiến đấu để không thua thay vì để chiến thắng đã khiến thất bại tương tự trong việc đánh phá các mục tiêu ở Syria, Iran và Pakistan mà đang hỗ trợ bọn khủng bố.

Cuối cùng thì vụ vịnh Bắc Việt sẽ chia rẻ người Mỹ bởi vì, như lời của Jeanne Renee Jones, người làm việc cho NSA và một chuyên gia về vụ Vịnh Bắc Việt, “Các chỉ trích của bọn phản chiến . . . thì chỉ việc bu vô một chi tiết có tính cách  tương phản .” Thật vậy vài chương trình phát thanh đã không bác bỏ tính cách đầy đủ của các tin tình báo, của nhân chứng thấy tận mắt và của các dữ kiện kỹ thuật, nhưng cũng không đủ nhiều để công kích tính cách trung thực của các phân tích gia hay các chính trị gia.

Vào ngày 5 tháng 8, Khrushchev đã nói với Tổng thống Johnson rằng các kiểu chính sách gây hấn được các Tham mưu trưởng Liên quân lựa chọn sẽ có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân. 909  Johnson lại càng rụt rè thêm.

Sau vụ vịnh Bắc Việt, kẻ thù cộng sản và bọn bạn Mỹ của chúng đã cùng sinh hoạt chung với một sự tự tin mới  910 đề qua mặt luôn các đồng minh dễ bị lừa dối của họ trong phong trào hòa bình đằng sau các chiến tuyến địch.

Vụ Vịnh Bắc Việt Đã Động Viên Cộng Sản, Phật Tử và Phong Trào Phản Chiến

Cộng sản Việt Namvà cánh tả Mỹ phản ứng lại với thực tế của vụ vịnh Bắc Việt. Chính các bài dạy phản chiến, các bài báo và các bài phát biểu của phong trào phản chiến có tổ chức đã khiến Thượng nghị sĩ Fulbright tổ chức các phiên điều trần về chiến tranh. 911 Thủ Tướng Khánh của Miền Nam ViệtNam đã nhìn thấy mối nguy hiểm sắp tới và đã đặt toàn quốc trong “tình trạng khẩn cấp.”

Trong khi sương mù vẫn còn chưa tan ở Vịnh Bắc Việt, tại Copenhagen vào ngày 5 tháng 8 năm 1964 “giới trẻ” đã gần như tổ chức biểu tình bất thần bên ngoài Đại sứ quán Hoa Kỳ để chống lại việc Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam. 912

Tại miền Nam Việt Nam, các Phật tử và sinh viên  do Việt Cộng dựt dây bung ra hành động để vu cáo là Thiên chúa giáo đàn áp các Phật tử, rồi đi đốt các nhà dân và nhà thờ Công giáo cùng tàn phá các trường học , báo chí và các cửa hàng của người theo Thiên chúa giáo. Những tên côn đồ tự xưng là Phật tử kéo một em bé trai Thiên chúa giáo vô chợ ở trung tâm Sài Gòn và đâm chết. Tại Đà Nẵng “Phật tử” kéo bốn bệnh nhân bệnh viện ra khỏi giường của họ và đánh đập cho đến chết. 913

Với lý do phẫn nộ về các nổi bất công, trong các cuộc biểu tình không thể nào xem được như là  tự phát , các người biểu tình “Phật giáo” đã di chuyển trong “những đội hình quân sự dưới sự hướng dẫn của kèn và trống.” 914

Trương Như Tảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Công nhớ lại, “Sau lưng … (các tổ chức tôn giáo, như Phật tử …) đã luôn luôn có một số chính trị viên Cộng sản. Đây là chiến thuật mà chúng tôi gọi là ‘trái dưa hấu’ — màu xanh lá cây ở ngoài vỏ và màu đỏ bên trong. ”  915

Các tài liệu lịch sử chính thức Cộng sản nay tuyên bố là việc xâm nhập sâu vô các sinh viên và các nhóm Phật giáo đã được thực hiện dễ dàng kể từ khi vi5êc Ngô Đình Diệm bị ám sát làm suy yếu chính phủ miền Nam Việt Nam.  916 Sau cuộc đảo chính Diệm, Trần Bá Thanh, Phó Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đã thả các tù binh Việt Cộng, rồi tiêu hủy các hồ sơ cảnh sát về Việt Cộng và còn chỉ định một điệp viên Việt Cộng để đảm nhiệm một chức vụ cảnh sát cao cấp. 917

Các điệp viên Phật giáo Hà Nội đòi hỏi một “cuộc thanh lọc các thành phần tồi tệ nhất của Diệm.” Sau này thì một báo cáo của CIA đã cho rằng các Phật tử đã ” quá tự tin vào khả năng của họ để đối phó với Việt Cộng. ”

Báo cáo của CIA đã chấp nhận các tuyên bố gian dối của Phật giáo là đại diện cho đa số dân Việt Nam mà đã phải khổ đau rất nhiều do bị đàn áp tôn giáo. Báo cáo của CIA tuyên bố các hoạt động Phật giáo không có tham vọng chính trị mà chỉ muốn phục vụ lợi ích chung. CIA đã ca ngợi các Phật tử về “lòng tự cao cực kỳ, . . . lòng quyết tâm sâu đậm, và . . . tính cách tương đối thống nhất của họ.”  918 Thật vậy trong năm 1965 CIA sẽ tài trợ cho việc đào tạo các Phật tử Ấn Quang, trao  $12,500 để đánh đổi với lời hứa rằng họ sẽ không tham gia vào các hoạt động chính trị. 919 CIA đã hoàn tòan không biết gì cả như từng bị với vụ khủng hoảng tên lửa Cuba gần trước đó khi các nhà phân tích của CIA đã không tìm thấy có bằng chứng gì về tên lửa của Liên Xô ở Cuba và lập luận rằng Liên Xô sẽ không bao giờ làm một điều như vậy. 920 Như đã nêu ra ở trên, John Bolton, Rowan Scarborough và Tim Weiner đã mô tả CIA cứ tiếp tục hành xử một cách mù quáng mãi cho đến ngày nay.

Các điệp viên cộng sản cũng rất năng động trên mặt trận thứ hai ở Mỹ cũng như trong số Phật tử.

I. F. Stone – Vụ Khiêu Khích tại Vịnh Bắc Việt đã Đánh Thức Students for a Democratic Society SDS

Chỉ sau Nghị quyết của Thượng viện về vụ Vịnh Bắc Việt có ba tuần thì I. F. Stone nói rằng các cuộc tấn công cộng sản “có thể đã bị khiêu khích ra” 921 mặc dù Việt Nam đã theo dõi chặt chẽ các hoạt động bình thường của các tàu tuần tra tình báo . Thật sự thì tờ báo tin tức của I.F. Stone yểm trợ tích cực các mặt trận Cộng sản. 922 ” I. F. Stone đã cố tình nuôi dưởng hình ảnh một người thuộc cánh tả độc lập, nhưng hồ sơ thực sự của y đã chứng tỏ y là một đảng viên nhiệt thành.”  923 I. F. Stone đã là một trong các kẻ đầu tiên thừa nhận các dự án ERAP Đô thị của SDS.  924

Cựu viên chức Bộ Ngoại giao và một học giả về cuộc chiến tranh Việt Nam tại Đại học California, Berkeley và Texas Tech, Douglas Pike, đã viết rằng I. F. Stone đã là “điệp viên chóp bu về khuấy động trong chiến dịch phản chiến tại Mỹ …ngay thẳng một cách dửng dưng về mọi sự kiện. ” 925

Các tiết lộ từ các điện vô tuyến của Liên Xô nhờ nơi chương trình giải mã Venona cùng các tài liệu lưu trữ của KGB sau đó đã chứng minh là I.F. Stone, bí danh Blin, “Ổ Bánh (Pancake)”, là một điệp viên Liên Xô phục vụ như là một kẻ rất có khã năng về “đề lô”, chuyển tin, hướng dẫn và tạo ảnh hưởng.  926 Dù cho y đúng ra trung thành với ai vào năm 1964, thì I. F. Stone vẫn đã là kẻ có ảnh hưởng chủ yếu với Paul Booth, Giám đốc Nghiên cứu Hòa bình và Dự án Giáo dục (Peace Research and Education Project PREP), dành cho phong trào Students for a Democratic Society SDS: “Chúng tôi đã phát triển mối quan hệ chặt chẽ với Izzy Stone. Chúng tôi phụ thuộc vào anh ta để giải thích mọi  biến chuyển trên thế giới cho chúng tôi. Chúng tôi ngấu nghiến tận hưởng những giây phút lúc hàng tuần anh ta tới gặp chúng tôi. 927

Sau Nghị quyết Vịnh Bắc Việt và việc I. F. Stone phân tích nó, bọn SDS Paul Booth và Todd Gitlin đi vòng Hoa Kỳ cố gắng khuấy động mối quan tâm về cuộc chiến Việt Nam. Chúng đã không thấy các sinh viên thường năng động mấy quan tâm đến việc này.

Ngay cả một năm sau đó, 75% số người dưới 30 tuổi ủng hộ chiến tranh tại Việt Nam vào tháng 11 năm 1965. 928 Lịch sử và “Thế hệ trẻ Năng Động” của CIA giả đã ghi lại một cách sai lầm là đã một cuộc nổi dậy của giới trẻ Mỹ chống lại chiến tranh Việt Nam. Trong thực tế, người Mỹ dưới 30 lại là thành  phần hiếu chiến nhất trong dân Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh. Việc ủng hộ cuộc chiến đã cũng gia giảm trong mọi lứa tuổi suốt cuối những năm 60 và đầu 70, nhưng thậm chí cũng ít hơn trong giới trẻ.

Mặt khác, số thanh niên thanh nữ đại học , một thiểu số có đặc quyền, đã là một nhóm có lợi ích đặc biệt dễ để bị đoàn ngũ hóa . Và một thiểu số rất nhỏ trong số này, bọn SDS cấp tiến, đã cần một chút ít giúp đỡ từ các người lớn đã từng  tham gia và từ các tài chính gia. Trong tháng 10 năm 1964, người thừa kế triệu phú Ann Farnsworth Peretz đã cho tay SDS Todd Gitlin $ 25,000 để tài trợ cho Công trình nghiên cứu Hòa bình và Dự án Giáo dục (PREP). 929 Sau khi có tiền, Paul Booth, bất chấp việc không mấy sinh viên quan tâm, đã vẫn chuẩn bị cho Hội nghị  Hội đồng Quốc gia SDS vào tháng 12 tại thành phố New York. I. F. Stone đã được mời đến nói chuyện. 930 Các tin nhắn bí mật bị giải mã của Liên Xô, VENONA, chứng minh rằng I. F. Stone, bí danh Blin, đã là một điệp viên lãnh lương của cảnh sát mật Liên Xô, NKVD, tiền thân của KGB. Y đã trung thành phổ biến đi thậm chí ngay cả các tuyên truyền kỳ lạ nhất của cộng sản – Nam Hàn đã bắt đầu chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã thả khí độc trên toàn cỏi Việt Nam. 931

Trên lý thuyết việc Bắc Việt quan tâm đến vũ khí và chính sách của Mỹ cũng khá rỏ ràng mãi cho đến khi Mỹ leo thang can thiệp vũ trang sau vụ Vịnh Bắc Việt.  Bắc Việt liền leo thang tấn công hòa bình trên chính trường Mỹ và leo thang tấn công quân sự tại Việt Nam.

Khách Sạn Brinks Bị Đặt Bôm: Johnson Chần Chừ, Việt Sẳn Sàng Xâm Chiếm

Vào cuối tháng chạp năm 1964, hai điệp viên Việt Công – khi cố gắng để ám sát danh hài trình diễn giải trí cho quân đội là Bob Hope – đã mặc đồng phục binh sĩ Nam Việt và đậu lại một chiếc xe có một quả bom 200 bảng Anh trong nhà để xe ở tầng hầm của khách sạn BRINKS ở Sài Gòn. Quả bom được điều khiển phát nổ từ bên kia đường đã giết chết hai người và làm bị thương 58, trong đó có 20 dân thường. Theo sau đó được tiết lộ thì chính một cô gái 20 tuổi, Nguyễn Thị Kiều, đã là sĩ quan trưởng tóan của Tiểu đoàn N-10 đặc công Việt Cộng mà đã thực hiện vụ đánh bom này. 932

 

Hình: Cuộc tấn công khủng bố của Việt cộng vào khách sạn Brinks, Sài gòn đã giết hai người Mỹ và làm bị thương 107. Lục quân Hoa kỳ, Lawrence J. Sullivan 12/24/1964, ARC ID. 542301

Johnson, Mấy Thằng Bé Thần Đồng Đều Do Dự

Các Tham mưu trưởng liên quân đề nghị trả đũa ngay lập tức cho vụ đánh bom Brinks, nhưng McNamara và Rusk đòi hỏi phải điều tra thêm nhiều nữa. Cuộc điều tra đã kéo dài thêm bốn ngày và sau đó đã được quyết định rằng từ nay phải nghỉ là bọn Việt sẽ xem một cuộc tấn công như là một sự leo thang vô cớ của cuộc chiến tranh .

Khi Western Union gửi đi một bản tin – Việt, Anh hoặc Pháp – bằng vô tuyến điện, bằng truyền đơn, bằng bong bóng nước hoặc bằng trâu thì cũng sẽ không làm sao mà có thể làm sáng tỏ hơn nữa được sự miễn cưỡng đã rất minh bạch của Mỹ về các phản ứng quân sự.

Sau nhiều tháng không hành động của Mỹ sau vụ Vịnh Bắc Việt và bây giờ thì là một sự im lặng kéo dài về vụ đánh bom khách sạn Brinks thì cách mà Cộng Sản phân tích thái độ không phản ứng của Mỹ sẽ rất dễ dàng: Hoa Kỳ yếu đuối. Họ không có ý chí để chống lại một cuộc xâm lược của Bắc Việt.  933

Thông điệp này đã được chuyển giao. Bằng việc tuyển dụng và xâm nhập, vào cuối năm 1964, Việt Cộng đã có 69 tiểu đoàn lực lượng chính quy và địa phương quân, 51.300 quân mà trong đó 17.000 đã là bộ đội Bắc Việt len lỏi xuống Nam. 934  Trong vòng vài tháng sẽ còn có bốn tiểu đoàn chính quy Bắc Việt ở miền Nam ViệtNam.

Tương tự như vậy, trùm khủng bố Osama bin Laden đã giải thích thái độ bất động của Mỹ chống lại al Qaeda – tại Beirut, Mogadishu, US Cole – trước ngày 11 tháng 9 năm 2001 là những dấu hiệu của sự suy đồi, yếu đuối, và hèn nhát.

Ngoài việc chuẩn bị các kế hoạch hành quân, trong vòng sáu tuần sau vụ Vịnh Bắc Việt,  Hà Nội cũng đẩy mạnh các hoạt động trên mặt trận chính trị trong chiến lược thống nhất về chiến tranh trong khối Liên Xô và tại Mỹ.

Hệ Thống Bọn Cấp Tiến Mỹ của Việt Nam tại Moscow, Hà nội, San Francisco – Lực Lượng Thanh Niên Đoàn Kết Moscow

Tại Moscow vào các ngày 16 tới 24 tháng 9 năm 1964, Trương Văn Lộc, một đại diện của Mặt Trận Giải Quốc Quốc Gia, đã siêng năng cố thu thập chữ ký của người Mỹ tại một Diễn đàn Thanh niên Thế giới về Đoàn kết của Thanh niên và Sinh viên.

Hai mặt trận của Liên Xô, Liên đoàn Thanh niên Dân chủ và Hội Liên hiệp Sinh viên Quốc tế đồng tài trợ Diễn đàn. Vì lý do này, National Student Association (Hiệp hội Sinh viên Quốc gia) và Student Peace Movement (Phong Trào Hòa bình Sinh viên) từ chối lời mời tham dự. Các tên Mỹ tham dự đã là Aptheker Herbert ( lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Mỹ (CPUSA), Carl Bloice (Dubois Club) và Tiến sĩ Carlton Goodlettt. Sau đó Liên Xô thành lập một Quỹ Đoàn kết quốc tế để tài trợ cho các tổ chức thanh niên trên toàn thế giới. Trong tháng 11 năm 1964, quỹ đã bị cáo buộc đưa $ 50,000 để thực hiện các hoạt động chính trị ở Nam Việt Nam. 935

Hà nội – Đoàn Kết Với Nhân Dân Việt Nam

Tại Hà Nội, từ ngày 25 đến ngày 1 tháng chạp năm 1964, Bắc Việt đã bảo trợ một cuộc họp của bọn Cộng sản và du khách bè bạn , gọi là một Hội nghị quốc tế cho Tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ và cho việc Bảo vệ Hòa Bình. Một bức ảnh tại “Hà nội Hilton”, tàn dư của Nhà tù lịch sử Hỏa Lò ỡ Hà nội ghi ngày cuộc họp là ngày 1 tháng 11 năm 1964 và mô tả nó như là một “hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam để phản đối chiến tranh và để bảo vệ hòa bình” tại Hà Nội.  936  Các tham dự viên đại diện cho Mỹ đã là: Robert Williams, lãnh đạo của phong trào hành động cách mạng chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Mao Cộng sản (Marxist Revolutionary Action Movement), và bốn tên Mao cộng từng bênh vực và tham gia Bước Tiến Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa của Mao – Sidney Rittenberg, Frank Coe, William Đáng và nhà văn Anna Louis Strong. 937

Lần đầu tiên, mục tiêu chính để ảnh hưởng đã là Chính phủ Hoa Kỳ. 938 Các đại diện Việt Cộng đã là: Trần Văn Thành, Nguyễn An Tiến, Huỳnh Văn Tuấn, Lê Thị Cao, Nguyễn Thị Thái Nga, Trần Thanh Vân, Thừa Tiên, Kim Châm, và Hồ Văn Bột. 939 Cùng lúc với sự kiện Bắc Việt đã bắt đầu di chuyển vào chính trường Mỹ, thì CPUSA (Đảng Cộng sản Mỹ) do Liên Xô tài trợ cũng làm y vậy.

Tem: Hà nội đội ơn Khối Đông Âu. Ba lan, đoàn kết với việc Cộng sản giải phóng Đông Dương. Tài liệu của Nat. Ward

Các Hội Dubois – San Francisco, Berkeley

Gus Hall, chủ tịch của CPUSA, trong tháng 10 năm 1963, đã ra lệnh thành lập  một nhóm mới của thanh niên  chủ nghĩa Mác, Câu lạc bộ của Mỹ  W.E.B. Dubois , được đặt tên theo một tác giả Mỹ da đen và cũng là một nhà hoạt động dân quyền được mọi người tôn trọng.

Dubois là một thành viên của Đảng Cộng sản và là kẻ đã nhận giải thưởng Hòa bình Lê-nin vào năm 1960. W.E.B. Dubois đã nói rằng Stalin “đã không hề yêu cầu để được nịnh hót hay được trả thù. Ông rất chừng mực và ôn hòa.”  940 Dubois đã là một vị khách thân tại Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Ru ma ni và Trung Quốc. 941

Các Câu lạc bộ Dubois đã tổ chức hội nghị toàn quốc để tổ chức thành lập trong tháng 6 năm 1964 tại San Francisco. 942 Ngay từ đầu, các Câu lạc bộ Dubois này đã làm việc trực tiếp với SDS, SNCC, SWP, YSL, v.v. . . Lúc ban đầu, Câu lạc bộ Dubois đã đóng vai trò lãnh đạo trong các cuộc biểu tình đòi hỏi dân quyền và biểu tình tại Berkeley-San Francisco trong thời gian 1963-1965. 943  Tuy nhiên chính vào mùa thu năm 1964 mà Câu Lạc Bộ đã để lại dấu ấn mạnh mẻ .

Phong trào tự do ngôn luận

Từ ngày 14 tháng 9 năm 1964 đến 2 tháng giêng năm 1965 tại Đại học California ở Berkeley, một số lượng lớn các sinh viên và những người khác đã bị biến thành cấp tiến bởi một loạt các cuộc biểu tình và các rối loạn mà đã từng được gọi là Phong trào tự do ngôn luận.

Điều lệ về Đại học quy định những người bên ngoài đại học phải cần xin giấy phép để tiến hành các hoạt động chính trị trong khuôn viên trường. Lúc đầu, Câu lạc bộ Dubois và nhiều người khác từ khắp nơi thuộc đủ mọi khuynh hướng chính trị đã phản đối trực tiếp với những quy định này. Ngày 1 tháng 10 năm 1964, Jack Weinberg, thành viên Câu lạc bộ Dubois mà không phải là sinh viên đã bị bắt vì đang cố gắng tuyển dụng thành viên và quyên góp tiền trong khuôn viên trường mà không có giấy phép.

Năm trăm sinh viên đã biểu tình chiếm lấy Hội trường Sproul, bắt Khoa trưởng  Dean Towle làm con tin, và trong vòng 32 giờ, đã bao quanh chiếc xe cảnh sát đang nắm giữ Jack Weinberg. Trong số những tên đứng bên cạnh Mario Savio  trên mui chiếc xe cảnh sát là Bettina Aptheker và Jackie Goldberg. 944 Cuộc biểu tình càng lớn rộng ra. Trước khi kết thúc, 814 tên đã bị bắt giữ và hành động của cảnh sát và đại học đã khiến hàng ngàn người trở thành cấp tiến . Mario Savio, một thành viên YPSL Trotskyite, đã tuyên bố chiến thắng. Phong trào tự do ngôn luận, FSM, đã được khai sanh .

Ngày 2 tháng chạp, con gái của lãnh tụ  CPUSA Herbert Aptheker, Bettina Aptheker và Mario Savio đã dẫn đầu các thành viên FSM để tái chiếm Hội trường Sproul  và Joan Baez thì đã hát: “Chúng ta sẽ vượt qua.” Tới ngày 7 tháng chạp, Viện Trưởng Berkeley là Clark Kerr đã chịu thua và bải bỏ tất cả các quy định của trường đại học về các hoạt động chính trị của sinh viên . Một năm sau, trong số ngày 9 tháng 11 năm 1965 của tờ Daily California  của đại học Berkeley, Bettina Aptheker cuối cùng đã xác định mình là một thành viên Dubois và nói: “Tôi đã là … bây giờ là và đề nghị vẫn là một thành viên của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. ”

Jackie Goldberg đã là một thành viên hoạt động trong các mặt trận Cộng sản,  dẫn đầu nhóm Phụ nữ vì hòa bình Đại Học California tại Berkley, đã là đại biểu của nhóm này đi Moscow năm 1963, cũng là một thành viên của Viện Mỹ-Nga  ở San Francisco  do cộng sản khống chế và là thành viên của Ủy ban Chính sách cho Đại hội Liên hoan Thanh niên Cộng sản Thế giới sắp tới (1968 Sofia). 945

Những tên khác mà hoạt động rất tích cực trong Phong trào tự do ngôn luận   FSM là Brian Turner, Sydney Stapleton, Robert Paul Kaufman, Stephen Weisman, Robert Treuhaft, 946 và Michael Phillip Lerner. 947 Jerry Rubin và Stewart “Stew” Edward Albert đã đang phát triển các quan hệ chặt chẻ với SDS. Students for a Democratic Society SDS để sắp xếp một chuyến viển du vòng nước Mỹ cho vài lãnh tụ Mác xít của FSM và rồi sau đó thúc đẩy các cuộc tranh đấu trong khuôn viên trường đại học, chẳng hạn như ngồi tọa kháng và chiếm giữ các  tòa nhà. 948 Cuối năm 1964, SDS chính thức yểm trợ FSM và ít ra do đó thì cũng là ủng hộ các lãnh tụ Mác xít của nó. Sau này FSM sẽ thoái hóa để trở thành cái mà những nhà phê bình đã gọi là Phong trào Phát Ngôn Bẩn Thỉu   (Filthy Speech Movement).

Bầu Cử Tháng 11 Năm 1964: Johnson, Không Chiến Tranh Tại Việt Nam

Tổng thống Johnson đã không dám coi thường việc các tay hoạt động phản chiến có thể ảnh hưởng tới cuộc bầu cử của mình. Trong tháng 11 năm 1964, Tổng thống Lyndon Johnson, giống như các ứng cử viên Tổng thống từng thành công khác – Woodrow Wilson và Franklin Delano Roosevelt – đã hứa, “Chúng ta sẽ không gửi trai trẻ Mỹ đi xa nhà tới 9000 hoặc 10.000 dặm để làm những việc mà đúng ra những thanh niên châu Á đã phải làm để tự vệ. ”

Các hứa hẹn như vậy và một chương trình truyền hình thương mại – một giọng nói đếm ngược của một vụ thử bôm hạt nhân với hình một đám mây dạng hình nấm làm tiêu tan biến mất một em bé gái đang hái hoa đã cống hiến cho Johnson một chiến thắng bầu cử tuyệt đối trước các triển vọng đáng sợ của cuốn sách về  chính sách tại Việt Nam của Barry Goldwater – Tại sao không là Chiến Thắng? (Why Not Victory? )

Mặc dù chắc có lẽ cũng không cần thiết nhưng tình báo Tiệp cũng đã in ra một truyền đơn tố cáo Goldwater là kỳ thị chủng tộc cùng với một cuốn sách cáo buộc Goldwater là đang lên kế hoạch cho một cuộc nổi dậy dùng bạo lực. Chủ nhà xuất bản của cuốn sách, nhà xuất bản Domino đã được xác định là LeRoy Wolin 949 và David Canter, những thành viên của CPUSA .  950 Wolin và Canter cũng sở hữu và điều khiển Translation World Services , một nhà xuất bản về tài liệu tuyên truyền của Liên Xô (họat động khích động). 951

Vào cuối năm 1964 – với việc miền Nam Việt Nambị suy yếu do bất ổn chính trị và với việc tin tưởng là sẽ không có phản ứng của Mỹ, Hồ Chí Minh đã gửi các tiểu đoàn chính quy Bắc Việt xâm chiếm miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, khoảng 10.000 dân làng Nam Việt, theo đúng phãn ứng bình thường tại Việt Nam , đã quay qua cộng tác với phía bên mà họ nghỉ rõ ràng sẽ chiến thắng, là Việt Cộng, trong năm 1965. 952

Trong khi đó, bọn Mỹ Cộng cũng đã hoạt động rất tích cực ở hậu phương vào năm 1965.

*********

843 Mary Hershberger, Traveling to Vietnam: American Peace Activist and the War, Syracuse University Press, 1998, trang 7. 

844  Mary Hershberger, Jane Fonda’s Words of Politics and Passion, New York: The New Press, 2006. Sách này là một công trình cực kỳ gian trá khi biên soạn lại các tuyên bố thực sự của Fonda, mà ta có thể tìm thấy trong các bản sao chép chánh gốc của FBIS (Wintersoldier.com), một bài được viết lại hoàn toàn sau khi đã lọc bỏ những danh từ và hành động gây bối rối nhất của Fonda. Cũng vậy, bài viết của Jerry  Lembcke với tựa đề  Hanoi Jane: War, Sex, and Fantasies of Betrayal cũng là một bài viết về nhân vật thật  Jane Fonda nhưng đã được ‘rữa sạch’ đi. Ngược lại, trong sách này, các tuyên bố của Fonda đã được trình bày đầy đủ với dấu . . . . , để cho thấy các chổ bị nhảy qua.

845 Minority of One, tháng 6, 1964 viện dẫn trong Mary Hershberger, Traveling to Vietnam, Syracuse University Press, 1998, trang 5.

846  Hoàng Văn Chí nói với Daniel E. Teodoru, Quốc Hội Hoa Kỳ, Thượng viện, Ủy Ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam-II, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973, trang 47.

847 Trương Thị Mỹ viện dẫn trong Bergman, Women… trang 133.

848 P.J. Honey, “Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số 2, tháng 6, 1971, trang 6. 

849 Bernard B. Fall, The Viet-Minh Regime: Government and Administration in the Democratic Republic of Vietnam,New York: Institute for Pacific Relations, 1956, trang 5.

850 Mary McCarthy, Hanoi, London: Weidenfeld & Nicolson, 1968; Anthony Daniels McCarthy and her friends – tiểu thuyết gia Mary McCarthy and Vietnam“. National Review, 5 tháng 2, 1990.  FindArticles.com. 14 tháng 3, 2009. http://findarticles.com/p/articles/mi_m1282/is_n2_v42/ai_8313963.

851 Sol Stern, “The Ramparts I watched,” City Journal, mùa Đông 2010. 

852 Ron và Allis Radosh, Red Star Over Hollywood,San Francisco: Encounter books, 2005, trang 66.

 853 United States Committee for the Christian Peace Conference, 1966-1967, Hộp 11, Lưu trử của Church Peace Mission, 1950-1967, Sưu tập : DG 177, Swarthmore College Peace Collection, Swarthmore,PA.

854 Liên hệ của FOR với CPF, lưu trử của Catholic Peace Fellowship, University of Notre Dame Archives, CCPF các hộp 11-17.

 855 Thomas C. Cornell, “Catholic Peace Fellowship Ten years Old,” The National Catholic Reporter, 25 tháng 4, 1975; Christian Peace Conference 1964-66, trao đội thư từ giữa Jim Forest và John Heidbrick, Catholic Peace Fellowship, ngăn CCPF 2/12,  Văn khố Notre Dame , CPF 002.

 856 Đài Âu châu Tự do 10 tháng 6, 1964, Văn khố Open Society, U.S.A.BOX-FOLDER-REPORT: 17-1-95. tại

http://files.osa.ceu.hu/holdings/300/8/3/text/17-1-95.shtml.

 857 Edith Temple Roberts, “Communist Hold On ‘Christian’ Peace Movement,” BBC Central Research Unit, Backgrounder, 27 tháng 5, 1964, và Đài Âu châu Tự do 10 tháng 6, 1964, Văn khố của Open Society, U.S.A.BOX-FOLDER-REPORT: 17-1-95. tại

http://files.osa.ceu.hu/holdings/300/8/3/text/17-1-95.shtml

858 Thomas C. Cornell, “Catholic Peace Fellowship Ten years Old,” The National Catholic Reporter, 25 tháng 4, 1975.

859 Larry McDonald, “Soviet Propaganda Front Opens U.S. Section,” Cong. Record, 23 tháng giêng, 1980, E-87.

860 Information Digest, 25 tháng chạp, 1981, trang 376.

861 Larry McDonald, “World Peace Council on congress: Soviets Lobby for U.S. Disarmament,” Cong. Record, 8 tháng 10, 1975, E-5330.

862 Tim Weiner, Legacy of Ashes: The History of the CIA, New York: Doubleday, 2007, trang 240; Ngược lại xin xem Mark Moyar, Triumph…, trang 310-316; Tài liệu đúc kết các tin tình báo mật về các trao đổi điện tín của hải quân Bắc Việt trong các đụng độ tại Vịnh Bắc Việt vào ngày 2 tới 4 tháng 8, 1964, được giải mật ngày 5 thang 11, 2005 tại NSA, Central Security Service, Thông Tin Công Cộng, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và  05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm.

863 Robert J. Hanyok, “Skunks, Bogies, Silent Hounds, and Flying Fish: The Gulf of Tonkin Mystery, 2 tới 4 tháng 8, 1964,” Cryptologic Quarterly, Mùa Đông 2000/Xuân 2001, (Bộ 19, Số 20, Số 1) trang 1-55; về vấn đề liệu NSA có sữa đổi bằng chứng hay không  thì  Louis Giles trả lời trong “The Gulf of Tonkin Mystery: the SIGINT Hounds were Howling,” 5 tháng chạp 2005 tìm thấy tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm  

864 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, trang 135.

865 Robert J. Hanyok, “Skunks, Bogies, Silent Hounds, and Flying Fish: The Gulf of Tonkin Mystery, 2 tới 4 tháng 8, 1964,” Cryptologic Quarterly, Mùa Đông 2000/Mùa Xuân  2001, (Bộ 19, Số  20, Số 1), trang 3.

866 Scott Shane, “Vietnam Study, Casting Doubts, Remains Silent,” New York Times, 31 tháng 10, 2005.

867 Lúc 19:02 ngày 31 tháng 7, căn cứ hải quân Bắc Việt tại Bến Thủy báo cáo trông thấy  “một tàu địch” cách xa 20 hải lý. 2/QvHN/R25-64 ST220 RPT 2/Q/VHN/R25-64 S 6-0 tìm thấy tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm.

868 “Enemy Vessel Firing on Hon Me,” 31 tháng 7, trang 922. 2/Q/VHN/R24-64 St 220 RPT 2 2/Q/VHN//R24-42, st 220.

869 Mark Moyar, Triumph, trang 310 ghi chú 1, trang 477 tường thuật nội vụ chính thức của Phạm Hồng Thủy và nhiều kẻ khác, Lịch sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam, trang 92-94; 2/Q/VHN/R25-64 ST220 RPT 2/Q/VHN/R-25-64 56-0 922, 31 tháng 7. Xem tài liệu đúc kết của NSA về tin tình báo Signet intelligence của các điện vô tuyến hải quân Việt trong Vịnh Bắc Việt ngày 31 tháng 7- 10 tháng 8, 1964, giải mật năm 2005 tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm.

870 2/Q/VHN/R25-64 ST220 RPT 2/Q/VHN/R25-64 S 6-0.

871 Một bản dịch thứ nhì lúc 19:24 cho thấy  “quyết định đánh địch đêm nay…khi nhận được lệnh như vậy” 2/Q/V LDX R26-64 ST 220, RPT 2/Q/VHN/R-26—64, st 2209.  

872 “DRV Navy May Attack DESOTO Patrol, 2/Q/VHN/ 26-64 19:24, 1 tháng 8, 1964.

873 Bổ túc số 1 cho Tường Trính Spot  2/Q/VHN/ 526-64. NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf ofTonkin – 11/30/2005 và  05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

874 Moyar, Triumph trang 310-11 ghi chú 3 viện dẫn chuyện kể chính thức của Phạm Hồng Thủy và mấy người khác, Lịch sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam, trang 92-94; Bùi Tín, Mặt Thật, trang 191-2; Moise, Tonkin Gulf, trang 73, 90; NSA chận được tin là các lực lượng hải quân đã nhận được lệnh tấn công tàu Maddox như đã được tóm tắt trong 3/0/VHN/R03-64, 6 tháng 8 Tóm lược Liên lạc giữa hải quân Quân đội Nhân dân Việt nam cho thấy những kế hoặch chuẩn bị trước hầu tấn công chiếc USS Maddox.

875 Moise, trang 73.

876 Robert F. Turner, Reassessing the Causes: Gulf of Tonkin incident not the real start,” Washington Times, 2 tháng 8, 2009.

 877 3/0/VHN/R03-64, 6 tháng 8 Sơ lược của các liên lạc viễn thông của Hải quân Cộng Hòa Nhân dân Việt nam cho thấy những tính toán để tấn công chiếc USS Maddox.

878 DESOTO CRITIC, 2 tháng 8 lúc 7:12 am.

879 2Q/VHN/R-26-64 FOLLOWUP NR 3 báo cáo về phúc trình 2/QVHN/R-26-64.

880 Xem các đúc kết của NSA về các tin tình báo liên quan những trao đổi vô tuyến của hải quân Bắc Việt suốt trong biến cố vịnh Bắc Việt ngày 2 tới 4 tháng 8, 1964, giải mật ngày 5 tháng 11, 2005 bởi NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

881 B205/243-63 0209472 DRV Vessels Attack Desoto Patrol in theGulf ofTonkin.

882 Lưu Quang Phố, (dịch bởi Don Brewster) “An Heroic Battle in the Bay of Thanh Hoa,” Youth, 2004 bản sao từ Mike Benge, 10 tháng 8, 2009.

883 Robert J. Hanyok, “Skunks, Bogies, Silent Hounds, and Flying Fish: The Gulf of Tonkin Mystery, 2-4 tháng 8, 1964,” Cryptologic Quarterly, Mùa Đông 2000/Mùa Xuân 2001, (Bộ 19, Số 20, Số 1), trang 5-6, 9, 12.

884 Bổ túc số 1 cho Spot Report 2/Q/VHN/R26-64 2152Z, 1 tháng 8, 1964. Báo cáo bổ túc  2,3,4 cho Spot Report 2/Q/VHN/R26-64.

885 2/Q/VHN/R36-64 ST 220 SIGINT Readiness Bravo, Báo cáo Lantern số 9; Edward J. Marola và Oscar P. Fitzgerald, The United States Navy and the Vietnam Conflict, Bộ II: From Military Assistance to Combat, 1959-1965 Washington: Naval Historical Center, 1986 viện dẫn trong NSA, United States Cryptologic History, American Cryptology during the Cold War, 1945-1989, Book II: Centralization Wins, 1960-1972, “The Crisis in the Gulf,” trang 518 văn bản tìm được tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006.  http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

886 2/Q/VHMIXR33-64 ST 220 SIGINT Readiness Bravo, Báo cáo Lantern số 7.

887 2/G11/VHN/R07-64 9:56 sáng 3 tháng 8, 1964, SIGINT Readings Báo cáo Bravo Lantern số 2.

888 2/G11/VHN/R-11-64, 11:40 sáng 4 tháng 8, 1964 SGINT Báo cáo Readiness Bravo “Lantern” số 7 “kế hoặch cận kề của Cộng Hòa Nhân Dân Việt Nam có khã năng tấn công bằng hải quân các điệp vụ DESOTO. “

889 Robert J. Hanyok, “Skunks, Bogies, Silent Hounds, and Flying Fish: The Gulf of Tonkin Mystery, 2-4 tháng 8, 1964,” Cryptologic Quarterly, Mùa Đông 2000/Mùa Xuân 2001, (Bộ 19, Số 20, Số 1,), trang 3, 20-1, 27, 30

890 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, trang 124-6.

891 Terry H. Anderson, Vietnam is Here: The antiwar Movement,” trong David L. Anderson, John Ernst (eds.) The War Never Ends: New Perspectives on Vietnam War,Lexington:University ofKentucky, 2007, trang 246.

892 GOLDWATER, BARRY M. WHY NOT VICTORY?: A Fresh Look at American Foreign Policy.New York: McGraw-Hill, 1962

893 Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’sGriffin, 1997.

 894 Tác giả, một thủy thủ làm việc trên bờ, từng nhận nhiệm vụ sĩ quan trực trên một hàng không mẫu hạm đang ở ngoài khơi Cali trong một đêm tối đen để canh giữ các phi cơ đang đậu. Trời đã tối tới mức mà tôi đã vấp té và ngã nhào trên các chướng ngại vật ở bong tàu và tôi cũng đã không nhìn thấy được cả thành của bong tàu. Đã có nhiều lần chúng tôi bị mất những thủy thủ bị rớt xuống biển mất tích luôn.

895 Nixon, No More, trang 73-74.

896 Kỷ thuật bổ túc cho 2/Q/VHN/R40-64, DTG  4 tháng 8, 17:16.

897 2/QVNA/R38-64 ST 220 SIGINT Readiness Bravo, Lantern, Báo cáo Bravo số 12.

898 National Cryptological School, Chương  6, “The Gulf of Tonkin Incident: The DESOTO patrol and OPLAN 34a, “ On Watch 9/86, 50 text at NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

899 2/Q/VHN/R-48-62 sT220 SIGINT Readiness Bravo, Báo cáo Lantern số ngày 6 tháng 8.

900 Louis F. Giles, Director of Policy and Records, NSA, “The Gulf of Tonkin Mystery: the SIGINT Hounds Were Howling,” 5 tháng chạp 2005. Tài liệu tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf ofTonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

901 2/Q/VHN/R51-64 ST220 SIGINT Readiness Bravo, Lantern, Báo cáo với số tái phân phối 326 , 10 tháng 8, số 36 tái phân phối (A), trang 302 10 tháng 8, 1964.

902 William Gerhard và Rene Jones phỏng vấn Tướng Gordon A. Blake, 5 tháng 6, 1972, không đánh số trang 10 tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006. http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

903  Marshall Wright, Sven F. Kraemer, “Presidential Decisions the Gulf of Tonkin Attacks of August 1964,” TỐI MẬT, trang 16, tìm thấy tại Thư viện Johnson; NSA, United States Cryptologic History, American Cryptology during the Cold War, 1945-1989, Book II: Centralization Wins, 1960-1972, “The Crisis in the Gulf,” trang 523. Tài luiệ của cả hai tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf ofTonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006.

 http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005.cfm

904 Robert F. Turner, Reassessing the Causes: Gulf of Tonkin incident not the real start,” Washington Times, 2 tháng 8, 2009.

906 Trao đổi giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẩn ngày 11 tháng 5, 1970, “Cold War International History Project (CWIHP), www.CWIHP.org  với sự cho phép của Woodrow Wilson international Center for Scholars.

907 James W. Clinton phỏng vấn Betty Boardman, 4  tháng 10, 1990 trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 100, 102.

908 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 310-315 cung cấp đầy đủ nguồn tin viện dẫn.

909 H.R. McMaster, Dereliction of Duty, New York: Harper Collins, 1997, trang 159-160 viện dẫn Thư của Chủ Tịch Khrushchev gởi Tổng Thống Johnson, 5 tháng 8, 1964, FRUS: Vietnam, 1964 trang 636-38.

910 NSA, William Gerhard và Jeanne Renee Jones phỏng vấn Tướng Gordon A. Blake, 5 tháng 6, 1972, không đánh số trang 24. Tài liệu tại NSA, Central Security Service, Public Information, “Gulf of Tonkin – 11/30/2005 và 05/30/2006.

http://www.nsa.gov/vietnam/vietn00005. 

911 Trao đổi thư từ với J. William Fulbright,; Vietnam Hearings, trang 32 ghi chú 3, cùng được viện dẫn trong Tom Wells, The War Within, trang 68 ghi chú 3.

912 Hình và ghi chú trongWarRemnantsMuseum  ởSaigon. Các ảnh của tác giả thuộc bộ  Viet II DSC_359, trang 360. 

913 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 316 ghi chú 31-33 viện dẫn Sài gòn gởi cho Bộ Ngoại giao ngày 23 tháng 8, 1964, lBJL, NSF, VNCF, hộp 7; Time 4 tháng 9, 1964; Saigon gời cho Bộ Ngoại giao ngày 25 tháng 9, 1964,PRO, FO, 371/175472; Lacouture, Vietnam, trang 207-8; New Work Times, 24 và 27 tháng 8, 1965.

914 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, trang 264.

915 Trương Như Tảng, “Psychological Warfare,” Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 166.

916 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 317 ghi chú 36-37, 38 viện dẫn Nguyễn Phúc Khanh, và các kẻ khác, xuất bản trong Chung Một Bóng Cờ, trang 156-7; Sài gòn gởi  Bộ Ngoại giao , 24 tháng 8, 1964, PRO, FO371/1755472; CIA, “Situation in Vietnam,” 27 tháng 8, 1964, LBJL, NSF, VNCF, hộp 7; CIA, “Situation in Vietnam,” 1 tháng 9, 1964, DDRS, 1979, 20C; SNIE trang 53-64, 8 tháng 9, 1964, FRUS, 1964-1968, bộ I, trang 341; Saigon gởi Bộ Ngoại giao , 24 tháng 9, 1964, FRUS, 1964-1968, bộ I, trang 360; SNIE 53-2-64, 1 tháng 10, 1964, FRUS, 1964-1968, bộ 1, trang 368; New York Times,  19 tháng 9, 1964 và 29 tháng 8, 1964; Higgins, Our Vietnam Nightmare, trang 285-6; CIA, “Tri Quang and the Buddhist-Catholic Discord in South Vietnam,” 19 tháng 9,  1964, LBJL, NSF, VNCF, hộp 9; New Yorker, 19 tháng 8, 1964; Shaplen, Lost Revolution, trang 279. 

917 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 317 ghi chú 38 viện dẫn SNIE53-2-64, 1 tháng 10, 1964, FRUS, 1964-68, bộ 1, trang 368; “A COSVN Standing Committee Account of the Situation in South Vietnam from the End of 1961 to the Beginning of 1964, 20 tháng 4, 1964, TTU, Pike Collection, Đơn vị 6, hộp 1. 

918 CIA, FOIA, “Buddhist Action in Vietnam: A Special Assessment of the Situation in the Light of Events in March and April 1966,” Hồ sơ số EO-1993-00002, Thư viện LBJ Library Vụ số # NIJ trang 93-68, Tài liệu số # 2006, 29 tháng 4,1966, trang 2, 4, 5, 7-11.

919 Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Trung Tâm Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, công bố , 19 tháng 2, 2009, trang 38 viện dẫn FVSA, 19011, 9 tháng 8, 1965; FVSW 8571, 9 tháng 9, 1965; FYSA 19515, 14 tháng chạp 1965; Phụ đính  3 của FVSA 26054, 26 tháng 8, 1968.

920 Ước lượng tình báo Đặc biệt 85-3-62, 19 tháng 9, 1962 viện dẫn trong Bret Stevens, “The NIE Fantasy: The intelligence community failed to anticipate the Cuban Missile Crisis,” Wall Street Journal, 11 tháng chạp, 2007; Tim Weiner, Legacy of Ashes: the History of the CIA, New York: Doubleday, 2007, trang 195-197.

921 Miller, trang 221 ghi chú 8.

922 Francis X. Gannon, Biographical Dictionary of the Left,Los Angeles:Western Islands, 1972, Bộ I, trang 551-552.

923 Xem:  Robert Asahina, “I. F. Stone, Self-Crafted Icon:  A Long, Hard Look at a Venerated Old Left/New Left Troublemaker,” American Spectator (Tháng 7, 1984). I. F. Stone đã từng tuyên bố là dù chỉ cần một đảng chính trị duy nhất thôi thì một cuộc bỏ phiếu kín tổng quát  cũng có thể kiểm soát được tình trạng nền hành chánh kém hiệu quả tại Liên Xô. Hollander, trang 170, ghi chú 203. 

Việc kém hiệu quả này đã là một tội lổi mà các tiểu điền chủ Ukrainian , cho tới số 14 triệu người, đã không để ý tới. Sau đó, I. F. Stone đã trở thành Thành viên Danh Dự của Institute for Policy Studies, cái mà y gọi là “viện duy nhất mà chúng ta đã có”. Powell, Covert Cadre, trang 151, ghi chú 34.  Stone cũng đã là một thuyết trình viên cho  P.C.P.J. ngày 24 tháng 4, 1971, dịp mà 7,000 người đã bị câu lưu vì cản trở lưu thông cùng bít đường vô các cơ sở. Powell, Covert Cadre, trang 43, ghi chú 73. Y đã trở thành một thành viên của ủy ban Commission on U.S.-Central American Relations, một tổ chức thân cận với chính phủ Cộng sản Sandinista ở Nicaragua. Powell, Covert Cadre, trang 237-238 ghi chú 67-68. Chỉ mãi tới khi sắp chết vào năm 1989 thì Stone mới chỉ trích Gorbachev là đạo đức giả về vấn đề nhân quyền. 

924 Zaroulis, trang 31.

925 Doug Pike (ed.)Indochina Chronology, Bộ XIII, Số 2, (Tháng 4-6, 1989),  trang 36.

926 John Earl Haynes, Harvey Klehr, và Alexander Vassiliev, Spies: The Rise and Fall of the KGB in America, Yale, 2009.

927 Miller, trang 221 ghi chú 8.  Xem thêm :  Zaroulis,  trang 30.

 928 “Support for Vietnam War,” http://www.com~jimxc/Politics/Mistakes/Vietnam_support.html

 929 Độ $10,000 đã được chi cho các dự án đô thị E.R.A.P. của SDS,  Kirkpatrick Sale, SDS, trang 161.

930 Miller, trang 222 ghi chú 12. Không biết Stone có tính tiền công hay không nhưng y và vợ tên Esther đã làm sao mà cứ mổi mùa hè đều dùng chiếc Queen Elizabeth II để vượt Đại tây dương.

 931 Herbert Romerstein và Eric Breinde, The Venona Secrets, Washington: Regnery, 2000, trang 432-438.

932  Stuart A. Herrington, Stalking the Viet Cong: Inside Project Phoenix,New York: Ballantine, 1982, trang 141, trang 144-5.

933 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 347-349 ghi chú 60-65 viện dẫn “Resolution Issued by 3rd Conference COSVN,” 15 tháng giêng , 1965, CDEC Tài liệu lưu trử số No. 01-0526-70, TTU, Pike Collection, Unit 6, hộp 12; Nguyễn Phúc Khánh và đồng bọn, eds., Chung Một Bóng Cờ, trang 581-4; Karnow, Vietnam, trang 423-5; New York Times, 24 tháng chạp , 1964; Westmoreland, A Soldier Reports, trang 90; The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, Chương 15, 20-1; Johnson go83i Taylor, 30 tháng chạp, 1964, FRUS, 1964-1968, bộ 1, trang 477; Wheeler gởi Westmoreland, 31 tháng chạp, 1964, FRUS, 1964-1968, bộ  I, trang 479. 

934 Mark Moyar, Triumph Forsaken, trang 335 ghi chú 24 viện dẫn Trần Văn Quang và đồng bọn., Tổng Kêt Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, trang 311; Saigon gởi về Bộ Ngoại giao, 14 tháng 10, 1964, DDR, 1985, trang 211.

935 “Background [to Berkeley protests],” The Online Archives of California, California Digital Library, University of California, (N.D.) 1964 trong phần  content.cdlib.org/xtf/view ?docId=kt4w1003q8&doc.view=content&chunk.Id=d011… 

936 Hình tại Tàn Dư Lịch sử Nhà tù Hỏa Lò, viện bảo tàng  “Hanoi Hilton” ở Hà nội.

 937 Douglas Pike, Viet Cong trang 328 viện dẫn đài Radio Hanoi.

938 Pike, Viet Cong, trang 328.

939 Như trên, trang 328-329.

940  Hollander,  trang 170, ghi chú  205.

941 Hollander, trang 166.

942 Xem:  Michael Myerson, These Are the Good Old Days, viện dẫn trong Edward J. Bacciocco, The New Left in America: Reform to Revolution 1956-1970, Stanford; Hoover Institute, 1974, trang 150.  Myerson đã là một đảng viên Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ. Vài tên có tham dự trong đại hội thành lâp tháng 6 năm 1964 đã là:  Carl Boice, Al Richmond, Ken Cloke, Eugene Dennis, Jr., và con gái của Herbert Aptheker, Bettina Aptheker. Chủ tịch DuBois đã là Phil Davis, một cựu Bí thư Chi bộ S.N.C.C. Field Secretary.  Các tay ủng hộ chính yếu ban đầu của DuBois Club đã là:  Joan Baez, Terence và Matthew Hallinan, Paul Robeson, với Bertram Russell. 

943 Edward J. Bacciocco, The New Left in America: Reform to Revolution 1956-1970, Stanford: Hoover Institute, 1974, trang 149-150, trang 152.

944 Charles Burress, “Free Speech Movement Turns 40,” San Francisco Chronicle, 6 tháng 10, 2004.

945 Báo cáo thứ 13 của tiểu ban Thượng viện Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities—California, 1965, trang 148.

946 Như trên

947 “The Seattle Liberation Front,” Information Digest, 2 tháng 5, 1970, trang 3 speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html. 

948 Miller, trang 223 ghi chú 13.

949 Ngoài việc bị nhận dạng như là một đảng viên của Đảng Cộng sản Mỹ, y cũng là một thành viên quan trọng của Chicago Peace Council (một mặt trận của CPUSA), một lãnh tụ của mặt trận Veterans for Peace của đảng CS Hoa Kỳ. http://www.freerepublic.com/focus/f-news/2031236/posts

950 Herbert Romerstein và Stanislav Levchenko, The KGB Against the “Main Enemy,”: How the Soviet Intelligence Service Operates Against the United States,Lexington (Mass): Lexington Books, 1989, trang 273.

951 Hạ viện, Ủy ban Committee on Un-American Activities, Communist Outlets for Distribution of Soviet Propaganda in the United States, Phần I, Quốc hội Nhiệm kỳ 87, khóa 2, 9, 10 và 12 tháng 5, 1962 viện dẫn bởi Trevor Loudon, “The Paid Soviet Agent Behind Axelrod and Obama,” tại  therealbarakobama.wordpress.com/2008/11/01/loudon-the-paid-soviet-agent-behind-axelrod-obama

 952 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 5.

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfiels’s Americong #6”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfiels’s Americong #6 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: