Roger Canfield’s Americong #131

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 131

Bắc Việt Tổng Tấn Công Nam Việt

Vào Lể Phục Sinh,

Bọn Biểu Tình Thì lại Điên Cuồng Lên . . .

Vì Các Trận Không Kích Của Hoa Kỳ

30 Tháng 3 tới 26 Tháng 4 Năm 1972  

 

Trong thời gian cuối năm 1971 và đầu năm 1972, Cơ quan Tình báo Quốc phòng (Defense Intelligence Agency, DIA)  ghi nhận bọn Bắc Việt đã tăng cường quân nhu quân liệu và dự đoán sẽ có một cuộc xâm tràn xuyên qua vùng phi quân sự. CIA thì lại bác bỏ việc phân tích về một cuộc tấn công như vậy chỉ vì lý do nó sẽ trực tiếp vi phạm Hiệp ước Hòa bình Geneva. 

Cuộc Lấn Tràn Vĩ Đại Của Hà-nội

Nhân cơ hội số lượng quân đội Mỹ đã bị giảm mạnh ở Nam Việt, vào ngày Good Friday thứ sáu 30 tháng 3 năm 1972, Bắc Việt đã phát động một cuộc tổng tấn công quy ước xuống Nam xuyên qua vùng phi quân sự. Số 14 sư đoàn chính quy Bắc Việt được trang bị đầy đủ với thiết giáp gồm 600 T-54, T-55 và PT-76, đại pháo 130 ly, 152 ly và 160 ly cùng đủ loại phòng không. Các lực lượng Bắc Việt về tầm mức thì cũng tương đương với toàn thể lực lượng tấn công của quân đội Đức trong trận Ardennes vào Thế chiến II, mà chỉ trong ba ngày đã từng cướp đi mạng sống của gần 20.000 quân nhân Mỹ trong  trận chiến lớn nhất của Thế chiến II đối với Hoa Kỳ.

Đầu năm 1972, sau nhiều tháng mà Bắc Việt cứ than vãn về sự leo thang với tầm quy mô của Mỹ theo kiểu “Chiến tranh bằng Không Quân” nhắm vào các mật khu ở Việt Nam, Campuchia và Lào thì ngược lại,  phong trào phản chiến đã lặng câm trước cuộc xâm lược của Bắc Việt vào nền dân chủ duy nhất  ở Đông Dương là Nam Việt Nam.

Khi đặt tên trận tổng công kích này là “Chiến Dịch Nguyễn Huệ” dựa theo lần Việt Nam đánh bại Trung Hoa vào năm 1789, Bắc Việt đã hy vọng nơi một chiến thắng cuối cùng và ít ra thì cũng ngăn chặn được sự tái đắc cử của Tổng thống Richard Nixon vào mùa thu. Kết quả tiên liệu đã không gì là chắc chắn. Các cuộc tấn công quy mô trước đó của tướng Võ Nguyên Giáp trong trận Khe Sanh và vào Tết Mậu Thân năm 1968 đều đã đi đến kết thúc với tới 100.000 tử vong về phía Bắc Việt. 4239

Các Hành Động Phản Chiến Đều Nằm Trong Kế Hoặch Tấn Công

Như được dự trù trong Nghị quyết trong tháng 12 củaTrung Ương Cục Miền Nam, hành vi địch vận trong hàng ngũ địch, tức là phong trào phản chiến, đã là một phần của kế hoạch tấn công.

Bắc Việt đã cần, yêu cầu và nhận được sự giúp đỡ từ các đồng chí của chúng ở ngay hậu tuyến địch, cái Mặt trận thứ hai của Hà Nội tại Mỹ.

Vào ngày 3 tháng 4 năm 1972, mụ Bình đã gọi điện thoại cho một cuộc biểu tình của bọn PCPJ ở Harrisburg, Pennsylvania. “Chúng ta hãy đoàn kết lại … để chấm dứt sự cam dự của Mỹ tại Việt Nam …. Chúng ta hãy yêu cầu … Nixon … phải đáp ứng các đề xuất chính đáng của MTGPMN … “. Mụ Bình khoe là một tù binh đã tuyên bố, “Chúng tôi, các tù binh Mỹ … xin chúc các bạn thành công … [Chúng tôi] hy vọng quý bạn sẽ càng ngày càng lớn mạnh thêm”. 4240

Vào ngày 4 tháng 4 năm 1972, ngày thứ năm của cuộc xâm lấn của Bắc Việt, một đại diện của  Chính phủ Bắc Việt tại các cuộc hòa đàm Ba-lê đã điện thoại cho ‘phong trào’ ở Hoa Kỳ để cho họ biết là phải sẵn sàng hành động để đáp ứng lại cuộc dự trù leo thang về không tạc. 4241 Một điện báo của FBI đã dự đoán, “những cuộc biểu tình để chống lại sự leo thang sẽ xẩy ra ​​với các vụ không kích của không quân Mỹ ở Nam Việt [vào] … các đơn vị Bắc Việt trong tỉnh Quảng Trị …”.

Các Cuộc Biểu Tình Chống Kiểu Chiến Tranh bằng Không Quân

Thật vậy, vào đầu tháng 4, Tổng thống Nixon đã quyết định, đúng như Hà Nội đã dự đoán, để tăng gấp đôi việc triển khai Không quân  và Hải quân Mỹ ở Đông Dương để giúp đánh bại cuộc xâm lược, ngược lại với quan điểm của các Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại Giao là Melvin Laird với William Rogers. 4242

Ngày 4 tháng 4, khoảng 250 người do VVAW và New Mobe tổ chức đã cùng những người khác đi bộ diển hành hô vang và tay dương cờ Việt Cộng để phản đối sự xuất hiện của Tham Mưu Trưởng Quân Đội Westmoreland tại Đại học Yale. Đám đông đã xô đẩy cảnh sát và đả đảo tướng Westmoreland ba lần khi ông đã cố gắng ra nói chuyện ở bên ngoài của Mory với một nhóm sinh viên bảo trợ cho việc phản đối này. Westmoreland cho biết ông đành bỏ qua buổi hẹn này để tránh cho Yale và quân đội Mỹ khã dỉ có thể bị “mất uy tín”. Một viên cố vấn tại đại học đã tỏ ý nghi ngờ lòng dũng cảm của vị Tướng. 4243  Vị Tướng đã bị xua đuổi ra khỏi thành phố và đành bỏ qua bài phát biểu soạn sẳn ​​của ông tại đại học Yale. Không có ai đã bị bắt giữ trong vụ này. 4244

Cũng trong ngày 4 tháng tư năm 1972, tờ Boston Globe tường thuật là tay con cưng của VVAW là John Kerry nay ra ứng cử vào Quốc hội. Kể từ đó, FBI đã ngừng tất cả mọi cuộc điều tra về y.

Ngày 6 tháng 4, Nixon cho lệnh hàng không mẫu hạm không kích Bắc Việt Nam, độ 60 dặm về phía bắc của vùng phi quân sự. Vào ngày 10 tháng 4, B-52 không tập Vinh, một trung tâm chuyển hàng  ở 150 dặm phía trong nội địa Bắc Việt, lần này là ngược với quan điểm của Tướng Abrams và Đại sứ Bunker mà đã cùng chủ trương cần phải tập trung tất cả hỏa lực đánh vào cuộc xâm lược ở miền Nam. Vào ngày 15, lần đầu tiên trong cuộc chiến, Tổng thống cho phép không kích các mục tiêu ở Hà Nội và Hải Phòng mà đã từng được lựa chọn bởi các tham mưu trưởng liên quân và các vị chỉ huy quân sự Hoa Kỳ. 4245

Tại một cuộc họp của VVAW vào ngày 11 tháng 4, không một tên dấn thân phản chiến nào đã có đề cập, ít nhất là một cách công khai, đến vụ tổng tấn công  của lực lượng chính quy Bắc Việt vào miền Nam Việt Nam mà đã xẩy ra hơn tuần lể rồi. Ấy vậy, vào ngày 16 tháng 4, văn phòng trung ương VVAW gọi điện thoại cho tất cả các phối hợp viên khu vực yêu cầu họ về  trình diện ngay lập tức tại Washington để phản đối việc không tập của Mỹ xuống Hà Nội và Hải Phòng dự trù sẽ xẩy ra ngay trên thềm điện Capitol vào ngày hôm sau. 4246

Tờ Daily World  có tường trình về cuộc biểu tình trước Tòa Bạch Ốc và một cuộc họp báo mà nhân đó, David Livingston, một lãnh tụ lao động vừa trở về từ Hà Nội, có cho biết là Việt Cộng đã chuẩn bị để sẽ chiến đấu từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Các diễn giả khác đã là Abraham Heschel (CALC), Gerhardt Elston (National Council of Churches ~ Hội đồng Quốc gia các Giáo Hội), Thượng nghị sĩ Mike Gravel, David Dellinger, Noam Chomsky, George Wald và Giám mục ‘Episcopal’ Paul Moore. Joseph Crown của Lawyers on American Policy Toward Vietnam (Luật sư về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam) đã có báo cáo về kế hoạch buộc tội (impeach) Tổng thống Nixon. 4247

Sau đó, một vài thành viên của VVAW đã tiến hành một loạt các cuộc biểu tình được tổ chức rất yếu ớt tại Đài tưởng niệm Washington, điện Capitol, Nghĩa trang Arlington và Ngũ-giác-đài suốt cho tới ngày 22 tháng 4. Các tên phụ tá của số Thượng nghị sĩ William Fulbright, Charles Percy, William Proxmire và Vance Hartke đều đã có giúp bọn biểu tình này.

Phong Trào Phản Chiến Đã Báo Động Cho Hà-nội Về Các Trận Không Kích

Cho dù các cuộc biểu tình VVAW đều vô hiệu quả , FBI cũng báo cáo là VVAW đã báo động cho phong trào phản chiến vào ngày 16 tháng 4, như vậy là đã báo sớm trước cho kẻ thù các vụ không kích Hà Nội và Hải Phòng và đương nhiên là sẽ gây tổn hại cho sinh mạng người Mỹ. 4248

Trong khi đó, ở Atlanta, đa số đại biểu tham dự Đại Hội của giáo phái ‘Methodist’ đã đồng kêu gọi sự tham gia của Mỹ ở Việt Nam “là một tội ác chống lại nhân loại” và tuyên bố ủng hộ cho việc ân xá tất cả lính đào ngũ, nhưng lại từ chối hoặc là tuyên bố phần trách nhiệm nào đó trong cuộc chiến tranh của Bắc Việt cũng  là “tàn bạo và vô nhân đạo ” 4249  hay ít ra cũng lên án chính sách đối xử với các tù binh của Hà Nội.

Tuy nhiên, có gần 100 đại biểu trong số 900 đó đã chống lại việc lên án Hoa Kỳ và các tín đồ ‘Methodist’ Đại Hàn đã phản đối và bỏ ra về vì họ ý thức được là chính  các lực lượng Mỹ đã cứu sống Nam Hàn để đem lại an ninh cho các Ki-tô hữu và chính bọn xâm lược Hà Nội mới là phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. 4250

Bất chấp cơn giận dữ này hay cũng có thể vì nó, và cho dù phong trào chủ hòa có nói gì đi nữa thì vào ngày 25 tháng 4 năm 1972, viện Gallup vẫn có cuộc thăm dò báo cáo là nhân dân Mỹ không muốn ngừng thả bom và họ còn ủng hộ gia tăng các vụ không kích với một tỷ lệ 47% chống 41%. 4251

Cuộc đấu tranh về chính trị của Hà Nội ngay tại Hoa Kỳ, địch vận, đã tiến hành đúng y như được dự tính trong đám chủ hòa dấn thân hơn là trong người dân Mỹ và hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới Tổng thống Nixon mà đã quyết định xúc tiến bỏ bom bất kể sự phản đối của các bộ tưởng của ông về Quốc phòng và Ngoại giao là Laird và Rogers.

Tàu Liên Xô Bị Trúng Bom – Không Hề Dám Phản Đối.

Năm phóng pháo cơ B-52 khi bỏ bom Hải Phòng đã đánh trúng bốn tàu của Liên Xô, nhưng Liên Xô đã không dám làm gì cả. Thật vậy, họ đã vẫn chờ đợi  Kissinger đến Moscow bốn ngày sau đó mà còn lại đã tháo bỏ tất cả các bích chương từng treo dọc trên đường Sheremetyevo Airport cho thấy cảnh người Mỹ tàn sát nhân dân Việt Nam. 4252  Và do đó, việc sợ Liên Xô sẽ can thiệp với hàng tỷ đô la và hàng ngàn kỹ thuật viên mà đã từng làm Lyndon Johnson bị tê liệt quả là sai hoàn toàn. Phân tích và lập trường của Bộ Tổng Tham Mưu đã luôn luôn đúng, kể ngay từ ngày đầu tiên của cuộc chiến.

Hà-nội Trưng Dụng Các Gia Đình Tù Binh cùng Quốc Hội Mỹ

Chưa đầy một tháng sau khi Bắc Việt xâm lấn Nam Việt, vào ngày 25 tháng 4 năm 1972, Committee of Liaison (Ủy ban Liên lạc) đã gởi thơ cho tất cả các gia đình tù binh, “Kể từ ngày 1 tháng 4, Tổng Thống Nixon đã … tái ra lệnh một cuộc không tập khủng khiếp … (nhắm) … [cảng] Hải Phòng và … ngay trong với chung quanh Hà Nội. Hành vi gây thãm họa chết chóc này  … đã tạo ra . . . nguy cơ cấp thời … cho các tù binh”.  Ngũ-giác-đài có tuyên bố là mọi tù binh đều an toàn, nhưng ” tuyên bố này của Ngũ-giác-đài cần phải bị các gia đình tù binh cực kỳ phản đối”. 4253

Ngày 26 tháng 4, mụ Bình bèn gởi thơ cho Quốc hội Mỹ, “[Cái] Quốc hội có quyền quyết định là …. Chúng ta muốn gì? … Chính phủ Mỹ phải rút toàn bộ lực lượng của mình trong một thời gian được quy định trước“. 4254  Vào ngày 27 tháng 4 năm 1972, Đài phát thanh Hà Nội nêu lời George McGovern nói là việc Nixon đã vừa ra lệnh rút quân mà lại cũng tăng gia không tập qụả đúng là “một thủ đoạn chính trị”. Chúng nhằm để “lừa dối hầu giữ thể diện cho Tổng thống và cho vai trò của Thiệu”. Đài phát thanh Hà Nội đã lên tiếng là chính sách không tạc quả là “một trò lừa bịp tàn nhẫn mà đã đưa tới việc kết thúc số phận bạc bẻo của các tù binh chúng ta đang cầm giữ, đã giết  thường dân vô tội, đã khiến cần  thêm binh lính và rút bòn tiền của mọi công dân Mỹ đang phải đóng thuế”.  4255 Đúng thiệt là Hà Nội thì cũng không thể nào mà ăn nói hay ho hơn là George McGovern.

Hà-nội  khi Pháo Kích đã Nhắm ngay vào cácThường Dân ĐangTrốn Chạy

Trong các chiến trận vào tháng 4 năm 1972, Bắc cộng đã cố tình chủ trương phủ mưa pháo 130 ly và tên lửa 122 ly xuống đầu hàng chục ngàn người dân tị nạn đang  trốn chạy trên các con đường hướng xuống Nam  hầu tránh khỏi các trận đánh lớn ở Quảng Trị và An Lộc.

Hàng chục ngàn thường dân đã kéo nhau rải dài hàng ngàn dặm dọc theo những thoát lộ, phụ nữ thì ráng đeo tòn ten con nhỏ dại trong giỏ đeo bên mình, 4256 để rồi tất cả đều đã bị tàn sát dọc trên các con  đường dùng để ráng trốn thoát chạy dọc Quốc lộ số 1, những con lộ mà Bernard Fall đã gọi là “Street Without Joy ~ Đại lộ Không Tiếng Cười” và Quốc lộ 13 như là “Horror Road ~ Đại lộ Kinh Hoàng”. Những vụ tàn sát này đã không hề có có tính cách “chọn lọc”. Chủ trương cần phải “giết bất cứ ai và mọi ai dám cưởng lại” đã rất là bừa bãi và không phân biệt ai cả.

Ấy vậy, đã có một Jane Fonda vẫn lên tiếng trên đài phát thanh Hà Nội để mô tả cuộc chiến chung quanh Quảng Trị như một sự tiếp nối của cuộc đấu tranh ngàn năm của Việt Nam cho “tự do và độc lập”. 4257

Quả đã có một sự câm lặng đáng phỉ nhổ về hành vi tàn sát rất là vô nghĩa các người dân thường trong đám người tự phong là dấn thân vì nhân đạo và bọn chủ hòa độc đoán trong phong trào hòa bình. Theo quan điểm của chúng, mọi hành vi man rợ của chiến tranh chỉ có thể là do từ một phía mà thôi, và đó chính là kiểu chiến tranh bằng Không quân của Mỹ. Theo cùng với tiên liệu của Douglas Pike, Robert Thompson, chuyên viên Anh quốc về phản du kích, khi nêu ra các vụ thảm sát tại Huế, Cái Bè, Đắc Sơn và nhắc lại lời của các bộ đội đào ngũ (Đại tá Trần Văn Đắc và Đại tá Lê Xuân Chuyên), đã cho thấy việc tàn sát thường dân này là báo hiệu cho những gì sẽ xẩy ra vì nếu Hà Nội thắng trận thì một cuộc tắm máu chắc chắn sẽ xẩy ra đúng theo như chính sách thí người của chủ nghĩa cộng sản. 4258

QLVNCH Chiến Thắng Tại  Quảng Trị  Và An Lộc, Nhưng Lại Không Hề Được Nói Tới

Và rồi muôn thuở vẫn vậy, đã không hề có một chút xíu gì trong báo chí để đề cập đến sự oai hùng anh dũng của các đơn vị Nhảy Dù và Thủy quân Lục chiến  Nam Việt khi đối diện với Cộng quân mà đã thành công đánh đuổi chúng ra khỏi Quảng Trị và Bình Định cũng như là thành công bảo vệ An Lộc với Kontum. 4259 Tại An Lộc, Sư Đoàn 18 Bộ Binh với 6.800 quân đội VNCH cùng dân quân dưới quyền chỉ của Tướng Lê Minh Đảo, cùng sự hỗ trợ của không quân Mỹ, đã hầu như xóa tên ba trong số bốn sư đoàn Bắc Việt. Sư Đoàn 18 đã cầm cự suốt trong một tháng trời trước 30.000 quân chính quy Bắc Việt với cả 100 xe tăng và đại pháo. 4260

Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến thì cũng đã  tái chiếm lại Quảng Trị, đã chiến đấu dành từng đường phố, từng căn nhà và phải sử dụng tới lựu đạn và vũ khí hạng nhẹ.

Nhưng tay Walter Cronkite thì lại mô tả là quân Bắc Việt đã tự nguyện “biến mất” khỏi Quảng Trị thay vì là đã bị đánh bại tan tành.

Trung Sỹ Huỳnh Văn Lượm và John Ripley

Lịch sử rồi thì phải nhớ đến Trung Sỹ TQLC của QLVNCH là anh Huỳnh Văn Lượm, người một mình tự tay bắn nổ tan chiếc thiếp giáp dẫn đầu của quân Bắc Việt ngay trên cầu Đông Hà hướng về Huế dọc theo bờ biển. Tác phong oai hùng của quân nhân QLVNCH Huỳnh Văn Lượm đã xứng đáng để được trao tặng Medal of Honor (Huy chương Anh Dũng)  và đã giúp cho Đại úy TQLC Mỹ   John Ripley đủ thì giờ leo lên gắn chất nổ trên sườn cầu và xuống lại để phá nổ cây cầu Đông Hà hầu chận lại đám quân cộng sản đang tràn xuống về hướng biển Đông. 4261

Stuart Herrington đã tường thuật: “Chính quân đội miền Nam Việt Nam, chớ không phải quân đội Mỹ, đã phải đối mặt với mười ba sư đoàn của Hà Nội và hoàn thành bảo vệ được đất đai của họ”. 4262 Quân Lực VNCH đã mất 8.000 tử vong đối với 40.000 quân Bắc Việt bị loại khỏi chiến trường. 4263

Bất chấp những thất bại của chúng trên các mặt trận, Hà Nội rõ ràng vẫn tin là chúng đang chiến thắng ngay tại các quán cà phê trên vỉa hè Ba-lê và trên các đường phố của New York với Washington. Trên mặt trận ngoại giao thì trong các cuộc đàm phán bí mật, vào ngày 2 tháng 5 năm 1972, Kissinger đã gặp Lê Đức Thọ, kẻ từng khen ngợi hành động chống đối việc thả bom Hà Nội và Hải Phòng từng đã xẩy ra trên các đường phố của Mỹ và ngay tại Thượng viện Mỹ. Lê Đức Thọ kiêu ngạo khăng khăng đòi Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu phải “không chậm trễ” từ chức. Tốt nhất là ngay ngày mai thôi”.  4264

Các Mục Tiêu Của Nixon: Hải-phòng, Tàu Liên Xô Và Quốc Hội

Vào ngày 8 tháng 5 năm 1972, Tổng thống Nixon đã phê duyệt một cuộc không kích với tầm mức chưa từng bao giờ xẩy ra, chiến dịch ‘Linebacker’, gồm cả việc thả thủy lôi phong tỏa Hải Phòng. Đúng ngày 9 tháng 5, sau tám năm rưỡi trời ròng rã mà mọi đề nghị của các Tham Mưu Trưởng và Tư lệnh Chiến Trường đều bị bác bỏ, thì nay chỉ trong một phút thôi, các phi cơ thuộc hàng không mẫu hạm U.S.S. Coral Sea đã thả thủy lôi phong tỏa ngăn cấm mọi di chuyển tàu bè vô hay ra khỏi Hải Phòng. 4265 Với một đường tiếp tế quan trọng bị khóa mất, cùng số lượng thương vong quá nặng nề, vậy mà Hà Nội vẫn công khai khoe khoang về những chiến thắng mới, về một sự kiện quan yếu là đã bắn hạ được chiếc phi cơ thứ 3.500 của Mỹ trên vùng trời Bắc Việt, nói dóc cho tới bốn lần cao hơn là con số thực tế 944 đã có. 4266

Công Luận Ủng Hộ Tổng Thống

Chiếu theo cuộc thăm dò công luận thì bài phát biểu của Nixon gởi toàn quốc vào ngày 8 tháng 5, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ trong Quốc hội và trên báo chí, đã nhận được từ 59% đến 76% sự ủng hộ của quần chúng.  4267 Vào ngày 13 tháng 5, một cuộc thăm dò của Harris Louis đã cho thấy người dân Mỹ tán thành việc phong tỏa hải cảng Hải Phòng với hơn cả tỷ lệ 2 chống 1, tức là  59% so với 24%. 4268  Bảy năm sau khi chiến tranh bắt đầu, có vẻ là công chúng Mỹ đã không từ bỏ quan niệm về việc phải chiến thắng. Douglas Pike nghỉ là Giáp đã đánh giá quá cao giá trị thực sự của phong trào phản chiến. 4269

Từ ngày 19 đến 21 tháng 5 năm 1972, đã có một thành viên VVAW đi tham dự một cuộc họp của nhóm Vietnamese Patriots (Việt Kiều Yêu Nước) tại Canada. Bọn VVAW và Việt cộng đã báo cáo về các dự định trong mùa xuan, cùng thảo luận về các hoạt động phản chiến trong tương lai tại Hoa Kỳ, rất có khả năng là sẽ cùng chung với bọn đào ngũ Mỹ ở Canada.

Một số hoạt động phản chiến đã đi xa hơn là chỉ biểu tình ủng hộ lập trường của địch mà còn là những hành vi trắng trợn phản quốc: tình báo, gián điệp và phá hoại.

*****

4239  Walter J. Boyne, “The Easter Halt,” Air Force Magazine online, Tháng 9 nam 1998, Bộ 81, Số  9,  http://www.afa.org/magazine/Sept1998/0998easter.asp

4240  “Madame Binh Telephones Harrisburg Peace Rally,” Đài Giải Phóng Liberation Radio (Bất hợp pháp)19:00 GMT, 3 tháng 4 năm 1973, được nêu ra trong sách của Rothrock, trang 133 ghi chú 7.

4241  FBI, New York gởi cho Giámđốc (100-448092), VVAW, Telegraph, 10:40 pm khẩn, 4 tháng 4 năm 1972; FBI, Đơn vị An Ninh Quốc nội Domestic Intelligence Division, Phiếu trình Tin TỨc Informative Note, 4 tháng 4 năm 1972

4242  Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 701-2.

4243  Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, trang 481-482.

4244  FBI, New Haven gởi cho Giám đốc (ATTN: DIệD), 1:40 am NITEL, 5 tháng 4 năm 1972, 1-2.

4245  Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 703-4.

4246  FBI, [bị kiểm duyệt] gởi cho Giám đốc (Lưu ý: Đơn vị An ninh Quốc nội), Teletype, 16 tháng 4 năm 1972.

4247  “Peace Forces Rally in Capital Saturday,” Daily World, Bộ  IV, Số  181, 12 tháng 4 năm 1972.

4248  Bản tin FBI Informative Note, 25 tháng 10 năm 1973; Fidel Castro, “Fidel Sends Greetings to World, Peace Forces,” FBIS, Havana bằng tiếng Tây-ban-nha, 29 tháng 10 năm 1973; “World Congress of Peace Forces: Peace to You Our Planet Earth,” x 221269 21:56:11-22:06:08 1973 USSR; Russia; Cambodia; Northern Ireland; South Africa: Rhodesia: COL SD 25-31, Tháng 10 năm 1973 tại Footage Farm theo ‘link’  footagefarm.cm.co.uk.

4249  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 339.

4250  Robert Wilson, Biases and Blind Spots: Methodism and Foreign Policy Since World War II, Chương  4, The Reemergence of Radicalism, trang 6.

4251  Gallup, 25 tháng 4 năm 1972

4252  UPI, “GIs: Moscow Heroes?” Baltimore News American, 10 tháng 5 năm 1972, trang 11.

4253  Phúc ttrình COLOFAM  gởi: Quý Gia Đình CácTù Binh, 25 tháng 4 năm 1972.

4254  “Nguyen Thi Binh Sends Letter to U.S. Congress,” Paris VNA, 05:40 GMT, 26 tháng 4 năm 1972, FBIS, văn khố TTU đưo0ọc nêu ra bởi Rothrock, trang 150 ghi chú 25.

4255  Cơ Quan Thông tin Hoa Kỳ (U.S. Information Service), “Talking Points: Some Thoughts on the Current Vietnam Debates,” USIS Saigon, Tháng 4 năm 1972, tại TTU, McGovern viện dẫn đài Hà-nội Chương trình Quốc tế bằng Anh ngữ, 27 tháng 4 năm 1972 được nêu ra trong sách của Rothrock, Divided…  trang 290-91 ghi chú 72.

4256  Các hình của An Lộc, Đại lộ số 13 với đòan người tỵ nạn, Phil Clarke, Readers Digest, do Max Friedman cung cấp, 2 tháng 7 năm 2009.

4257  Khai trình của Edward Hunter, “Analysis of Jane Fonda Activities in North Vietnam”, Ủy ban Hạ viện về An Ninh Quốc Nội (Committee on Internal Security), các phiên điều trần lien quan  H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Nhiệm kỳ 92, Khóa 2, 19 tháng 9 năm 1972, trang 7589.

4258  Robert Thompson, “Communist Atrocities,” New York Times, June 15 tháng 6 năm  1972.

4259  Oriana Fallaci, (phiên dịch viên  John Shepley)“Nguyen Van Thieu,” Interview With History, Boston: Houghton Mifflin, 1977, trang 61.

4260  Lâm Quang Thi, Hell in An Loc; Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 378.

4261  Bill Laurie cho tác giả biết vào ngày 8 tháng 7 năm 2009 và nêu sách của Richard Botkin, Ride the Thunder với sách của G.H. Turley, Easter Offensive, Vietnam 1972, Presidio, 1985. Bill Laurie, “Vietnam, the Media and Lies”, tại http://veteransforacademic freedom.org/2010/01.

4262  Stuart Herrington, Silence was a Weapon: The Vietnam War in the Villages (Novato, CA: Presidio Press, 1982, trang 188.

4263  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 339.

4264  Lợi và Vũ, Negotiations, đã viện dẫn sách của Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 128-29.

4265  Sorley phỏng vấn Đề đốc Thomas Moorer, 26 tháng 9 năm 1994, đượcnêu ra trong sách của Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 327.

4266  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 328.

4267  Jeffrey Kimball, Nixon’s Vietnam War (Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 1998), trang 316.

4268  Tom Wells, the War Within, trang 545.

4269  Douglas Pike Marxism, 277 cited in Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 708.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #131”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #131 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: