Roger Canfield’s Americong #163

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

 

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 163

Bọn Chịu Cộng Tác Và Các Vị Anh Hùng

Tù Binh Quy Cố Hương – Hà-nội và Hoa-thịnh-đốn

 

Bắc cộng và tổ chức Indochina Peace Campaign, IPC (Chiến Dịch Hoà Bình cho Đông Dương) của Hayden-Fonda, đều đã tiên liệu sẽ có “vấn đề” trong chiến dịch “Operation Homecoming ~ Chiến Dịch Quy Cố Hương” nhân khi tù binh được về lại nhà.

Những Lời Cuối Của Tù Binh Khi Quy Cố Hương

Cho tận đến phút cuối của cái ngày cuối đó thì Hà Nội vẫn đã cực khổ bỏ công ráng tận cùng khai thác và tuyên truyền về việc sắp phóng thích các tù binh.

Vào ngày 10 tháng 2 năm 1973, Bắc Cộng đã cho phép các phóng viên Pháp là  Jean Thoroval và Jean Leclerc du Sablon của AFP đến phỏng vấn tù binh tại “Hà Nội Hilton” [nhà tù Hỏa Lò].

Chúng đã cứ phải chạy lục đục bám theo các tù binh, một số còn “trần như nhộng” đang tắm, rồi chạy lục đục theo luôn vào các khu giải lao rồi luôn ngay cả vào các phòng giam, nhưng mọi tù binh đều từ chối không thèm trả lời và đều cho hai tên nhà báo Pháp làm việc cho Hà Nội hãy tới tiếp xúc với tù binh có cấp bực cao nhất của họ là Robbie Risner, một “tay cứng cựa … (mà) đã vẫn khăng khăng chủ trương là Mỹ không hề bao giờ không tạc các khu dân cư, kể cả hồi cuối tháng chạp rồi”. Khi trả lời AFP, Risner  vẫn cứ tuyên bố “đúng” là ông ta không hề chấp nhận được bọn Bắc cộng khi chúng tố cáo là Mỹ cố tình tấn công các khu có “dân cư”. 4836

Mọi Tù Binh Trung Thành Đều Bị Hăm Dọa Và Hạ Nhục

Vào ngày 11 tháng 2, tờ báo quân đội Quân Đội Nhân Dân đã “phỏng vấn” được các tù binh khác một cách tốt hơn (hay nhờ ban biên tập giỏi hơn) so với cái kiểu mà các tay phóng viên AFP được Hà Nội chấp thuận đã thực hiện với Risner. Trong khi đó thì đã có tay Đại úy William Glen Byrns tuyên bố, “Tôi đã nhận chân ra được chính sách khoan hồng của quý vị. … Tôi đã đuợc quý vị đối xử một cách nhân đạo. Điều này đã khiến tôi ngở ngàng và rất ư là cảm kích”. Đại úy Neil Enix Sevensper thì lại tuyên bố, “Quý vị đã từng chữa trị các thương tích của tôi. Tôi sẽ mãi mãi mang ơn quý vị … về lòng quảng đại và nhân đạo của quý vị “.

Robbie Risner

Tờ Quân Đội Nhân Dân thì lại đăng được những lời tuyên bố tuyệt diệu hơn của tay cứng cựa Robbie Risner. “Sau khi tôi được phóng thích … thì rồi tôi cũng sẽ phải nói những gì mà Chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu tôi nói”.  Cái tờ báo quân đội Bắc cộng này tuyên bố là Risner “đã nhiều lần liên lạc với các nhà báo nước ngoài và lên án chính phủ Hoa Kỳ đã kéo dài cuộc chiến tranh Việt Nam … đã từng viết nhiều bài báo và đã được cho phép để soạn thu và phát các chương trình phát thanh trong trại … “. Tuy nhiên, “bây giờ thì [Risner] lại đã đổi cách nói của mình”. Risner bèn sử dụng loại ngôn ngữ chuyên biệt của Hà Nội và tuyên bố là mình ghi nhận đã được đối xử khoan hồng, nhân đạo, hào phóng và đã đánh giá cao “các hình thức giải lao vui tươi và lành mạnh”.  4837

Sau này khi được hỏi về tuyên bố của mình thì Robinson Risner đã nói, “chỉ cần nhìn lại nơi xuất phát các tuyên bố đó: chúng đều chỉ từ trong một nhà tù ở Bắc Việt”. Khi về lại nhà, Reisner chỉ toàn là tố cáo mình từng bị đối xử không có gì là tốt bởi bọn cộng sản. Risner đã liên tục bị tra tấn, kiểu “đối xử đặc biệt” riêng dành cho mắt, miệng, mặt, vai suốt mãi trong nhiều năm qua và đã có công nhận mình quả thật đã bị bẻ gãy để “hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện”, mặc dù vẫn đau đớn cố gắng ráng chỉ khai ra những “tin tức vô nghĩa hay không đúng thật” mà thôi.  4838

Chúng đã không bao giờ tra tấn chúng tôi để khai thác tin quân sự. Chủ yếu chỉ  là để hỗ trợ về chính trị. Chúng tôi đã luôn luôn biết được là từng đã có một cuộc biểu tình phản chiến lớn ở Hoa Kỳ bởi vì ngay liền lúc đó thì chúng tôi đều bị đánh đập và hành hạ tàn nhẫn hơn nhiều. Chúng luôn luôn ráng bắt chúng tôi viết thơ theo quan điểm của bọn chủ hòa. Tôi thì đã không bao giờ tự bắt mình làm được điều đó. 4839

 

Trong phần II  Bản tin của Hà Nội về việc phóng thích tù binh sắp xẩy ra, Hà Nội quả đã có cả một quân đội toàn tù binh tự thú hòng tiếp tục cứ tố cáo mà thôi.

Bản tin đã cho biết là James Stockdale từng “thú nhận” có một chân bị thương tích trầm trọng và “các quân y sĩ … đã giúp điều trị chân khỏi bị cắt bỏ … Điều này quả thật thể hiện chủ nghĩa nhân đạo rất là cao quý và hào phóng …”.  Stockdale đã cứ lặp đi lặp lại cái thông điệp này về cá tính tốt đẹp của Bắc cộng “trong rất nhiều dịp … (với) các phóng viên ngoại quốc”.  Bất chấp các ” lời thú tội” đó, Stockdale rồi sẽ vẫn nhận được huân chương Congressional Medal of Honor nhờ những khổ đau,  hy sinh và khả năng lãnh đạo của mình!

Jeremiah Denton thì lại đã cho biết, “Các bộ đội Việt đã cứu tôi [khỏi] … chết đuối”.  Trong một bài thu âm vào ngày 18 tháng 7 năm 1965 thì có ghi lại: “Tôi đã phạm những tội đáng kinh tởm khi bỏ bom thường dân vô tội … theo lệnh của Chính phủ Mỹ. … Tôi quả có tội”. Bọn Băc cộng sản có mô tả là Denton thường khóc nhiều mổi khi đi dâng lể hay nhận thuốc và quà tặng từ nhà gởi qua. “Anh ấy thường xuyên vở bụng của mình … Anh ta đã ăn quá là no và mọi việc đều đã rất ” tốt, tốt thôi”.

Dĩ nhiên, một tay Denton mắt thật  ráo khô và không hề chút gì sợ hãi thì đã cứ chớp mắt đánh ‘Morse’ mấy chữ T-R-A  T-Ấ-N  với các phóng viên truyền hình Nhật Bản.

Khi tuyên bố với tờ báo quân đội của Hà Nội thì William Anderson đã có than phiền về việc các sĩ quan đối xử không công bằng với binh lính. Nhưng khi trở về nước lại thì William Anderson đã sẽ vẫn trở thành một sĩ quan và sẽ ở lại phục vụ trong cái quân đội mà mình đã bị buộc phải tuyên bố với bọn Việt cộng là mình quá ư là chán ghét.

Tại Hà Nội, tù binh Joseph Crecca thì lại đã học được một ngoại ngữ quốc và đã tốt nghiệp môn khoa học vật lý. Sau khi an toàn về nước, Crecca bèn chỉ trích phong trào chủ hòa:

Cách suy nghĩ méo mó của đám người này đã là khi biểu tình phản đối sự tham dự của Mỹ tại Việt Nam, họ nghỉ là sẽ rút ngắn lại thời kỳ chiến tranh và giảm số thương vong của Mỹ. Họ đã cực kỳ sai lầm, cả về cả hai quan niệm đó, đó là chưa kể đến những ảnh hưởng rất tai hại về những hành động của họ trên tinh thần của quân đội và tù binh của chúng ta.

Crecca đã nói, “Sau cùng thì phải ta cũng nhìn nhận là khi chiến đấu chống lại một chế độ chính trị (cộng sản) mà đến thời điểm đó đã từng giết hơn một trăm triệu người dân thì đã không thể nào là có thể sai lầm được”. 4840

Gerald Coffee thì đã sẽ ghi học về lịch sử Việt Nam và sau này trở thành một họa sĩ.

James Alfred Mulligan thì có nói với quân đội Bắc cộng là mình mang ơn việc được chữa lành vết thương và được cho phép đi xem lể nhà thờ. Bắc cộng đã tường thuật là Mulligan có thú nhận: “Tôi đã từng giết rất nhiều thường dân cũng như là tàn phá tài sản của họ”.  4841 Cả hai Coffee và Mulligan đều cùng đã bị tra tấn khai thác. 4842

Gần sau đó thì CBS đã có một chương trình truyền hình đặc biệt, nhằm cô động lại toàn cuộc chiến tranh Việt Nam, với tựa đề Vietnam: A War That Is Finished (Việt Nam: Một cuộc chiến đã Chấm Dứt). John Hart đã lồng vô phim các lời trích  thuận lợi của tù binh mà đã bị lọc ra từ một bộ phim tuyên truyền của ngay Hà Nội để làm như là họ đã phản ảnh trung thực về việc đã từng được đối xử ra sao, về những tâm tư phản chiến của họ và về sự chính trực của kẻ thù trong thời chinh chiến đó. 4843

Đợt Phóng Thích Đầu Nhằm Vinh Danh Số Vài Tù Binh Từng Đã Cam Chịu Cộng Tác Vối Địch

Vào ngày 12 tháng 2 năm1973, từ 12 giờ đến1 giờ 30 chiều, tại phi trưòng Gia Lâm, trong “lô hàng đầu tiên” được thả thì Bắc cộng đã quyết định không cho John McCain được nằm trong cái “lô hàng “ để phóng thích rất là vang tiếng này. Thay vào đó, nhóm đầu tiên của Hà Nội đã chỉ gồm 117 tù binh cao cấp nhất cùng những tù binh bị bệnh 4844 và đã được thêm chút mắm muối bằng hai thành viên cao cấp của POW Peace Committee (Ủy ban Tù binh vì Hòa bình)  là Trung tá Edison Miller và Trung tá Hải quân Walter Wilber.

Edison Miller chính là kẻ đã tình nguyện thực hiện những chương trình phát thanh trên Đài Hà Nội và cũng đã từng gặp Jane Fonda cùng bọn phản chiến khác đến thăm Hà Nội. Edison Miller đã về đến Camp Pendleton và được đón về như một người hùng. Nhưng Miller bèn tỏ lòng biết ơn của mình bằng cách đứng ra chế nhạo buổi lễ của Lực Lượng TQLC Mỹ (United States Marine Corps USMC) tổ chức. Y đã “dừng lại, giơ lên ​​một bàn tay nắm chặt, rồi quay  tròn nguyên một vòng”. Rồi thì Edison Miller đã sẽ bắt đầu tại Orange County một sự nghiệp chính trị khá ngắn chỉ vì nhờ được giúp đở của Tom và Jane cùng tay bạn là Thống đốc Jerry Brown. Tên chịu cộng tác Walter Wilber thì cho biết y đã tuyên bố những lời phản chiến chiếu theo “lương tâm và đạo đức” của mình mà thôi. Cũng như các tên từng bị khuất phục để cộng tác với kẻ thù thì cũng có tù binh Bob Chenoweth thuộc “Ủy ban Hòa bình” của các tù binh, cũng như tù binh từng được phóng thích đầu tiên là George Smith, thì đều đã sẽ tham gia tổ chức IPC của Tom Hayden và Jane Fonda. 4845

Bọn VVAW liền vui sướng  ghi nhận và hoan nghênh chào đón các tù binh bằng cách đăng danh sách tên tuổi cùng địa chỉ của họ trong các biên bản họp cũng như các Bản tin Newsletters của POW’s Peace Committee. 4846

Danh sách Danh Dự này của VVAW đã gồm có Trung Sỹ Nhất Staff Sergent John A. Young, Hạ Sỹ Specialist 4 Michael Branch, Trung Sỹ Nhất Staff Sergent Robert P. Chenoweth, Trung Sỹ Nhất Staff Sergent James A. Daly, Trung Sỹ Abel L. Kavanaugh, Trung Sỹ Nhất Staff Sergent  King David Rayford Jr, Trung Sỹ Nhất Staff Sergent  Alphonso Ray Riate và Binh Nhì Frederick L. Elbert Jr. Bọn  VVAW mà nay đã lộ diện chỉ là một đám Mác-xít  đã cố tình không liệt kê tên tuổi của các hạ sĩ quan hay các sĩ quan chỉ huy như Đại tá Miller và Trung Tá Hải Quân Wilber. Cái bọn VVAW này quả thật đã không tuân theo đúng đắn kỷ luật đảng mà.

Cái kiểu tuyên truyền tả phái lộ liểu của đám Ủy ban Tù binh Hòa bình này đã không thể nào mà xẩy ra êm xuôi được. Vị tù binh Chuẩn Đô đốc James B. Stockdale, Đại tá Theodore W. Guy và thiếu tá Edward W. Leonard sau này đã đâm đơn kiện đám các tù binh từng cộng tác với địch về tội đã trợ giúp địch, đã nổi loạn và thúc đẩy bội phản. Bộ Quốc phòng đã quyết định chỉ điều tra Miller và Wilber. Sau ba tháng phỏng vấn 19 nhân chứng cùng là tù binh khác, Bộ Trưởng Hải quân John W. Warner đã tống đạt văn thư khiển trách Miller và Wilber và chỉ để trừng phạt họ phải  về hưu sớm “tùy khi chính phủ cần” và rồi bác bỏ không còn tiến hành việc truy tố nữa. Bộ Trưởng Hải quân Warner đã quyết định không đưa chúng ra một tòa án mặt trận vì “ảnh hưởng gây xáo trộn sẽ có [của các lời khai chứng] vào  … [19 ] tù binh khác và gia đình của họ”.  4847 Nhưng 19 tù binh mà vị Bộ trưởng đã tìm cách để “bảo vệ” hầu khỏi bị khủng hoảng khi ra làm chứng thì đã từng đứng ra tình nguyện làm chứng để cáo buộc Miller và Wilber và cũng đã phải từng sống nhiều năm trong một địa ngục cộng sản mà chắc chắn là quá ư là dể sợ hơn nếu so với chỉ chút  thời gian phải trải qua trong một phòng xử án Mỹ.

Tuy nhiên, khi tên tù binh đã từng phản bội để chịu làm cộng tác viên với kẻ thù là Larry Kavanaugh đã tự tử vào ngày 27 tháng 6 năm 1973 thì vụ truy tố bọn đó đã không còn được xúc tiến nữa.

Chuyến Bay Đầu Của Tù Binh Rời Hà-nội – Những Anh Hùng, “những tên nói láo, đạo đức giả và làm cờ thí”

Trong khi đó, vào ngày 12 tháng 2 năm 1973, lô đầu tiên hàng loạt tù binh được về nước, (những người khác sẽ kế tiếp theo: 20 người vào ngày 8 tháng 2; 67 người vào ngày 29 tháng 3, một người vào ngày 1 tháng 4) để kể lại những mẫu chuyện về việc họ từng bị tra tấn và sau đó đã từng phải hứng chịu các cáo buộc của Hayden và Fonda là cái đám những người ái quốc Mỹ hốc hác và tàn tật đó đều chỉ là những “kẻ nói dối, đạo đức giả và những con tốt thí” mà thôi.

Chúng tôi rất hãnh diện đã được . . . phục vũ đất nước trong những điều kiện khó khăn

Tới ngày 12 tháng 2 năm 1973, Đại úy Jeremiah Denton đã là người đầu tiên bước ra khỏi phi cơ:

Chúng tôi rất hãnh diện từng được có cơ hội để phục vụ đất nước của chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn. Chúng tôi cực kỳ mang ơn [Nixon] vị Chỉ Huy Trưởng của chúng tôi và đất nước của chúng tôi cho ngày hôm nay. XIN CHÚA ĐÓAI THƯƠNG MỸ QUỐC”.  4848

 

Về vấn đề lâu nay vẫn từng bị loan báo là “một chính sách đối xử khoan dung và nhân đạo” thì Thiếu Tá Hải Quân Rod Knutson đã có nói: “Đời quý bạn chắc thì không bị như vậy đâu … Tôi đã bị đánh đập. Tôi … bị đánh gãy răng, bể mũi, cổ tay của tôi bị đập nát  … đôi mông của tôi thì chỉ còn giống như là những miếng ‘hamburger’ mà thôi. Tường ngục thì đầy vết máu tung tóe  …. 4849  Theo lời Đại úy Howard Rutledge: “chúng dùng dây thừng … và trói tôi theo tư thế giống như loại bánh ‘pretzel’; nếu tôi cúi xuống … thì dây thừng sẽ xiết chặt khiến tôi không còn thở được nữa…. Tôi cầu nguyện và xin Chúa cho mình được bất tỉnh đi để không còn bị biết gì nữa”. 4850

“Bọn chó đẻ vẫn còn giam quân nhân của mình

Trong thời gian các tù binh đang được phóng thích thì Đô đốc Thomas Moorer, Tham mưu trưởng Liên quân đã ghi nhận là Hà Nội vẫn đang giữ lại các tù binh và các quân nhân Mỹ từng bị mất tích tại Lào. Để trả đũa, Moorer ra lệnh ngưng không còn rút quân đội Mỹ còn lại ở Nam Việt nữa. Nixon bèn hủy bỏ quân lệnh này của Moorer. Moorer đã gửi đi một thông điệp dành riêng cho các vị chỉ huy quân sự loan báo là Nixon và Kissinger “đã lại lần nữa” bỏ rơi các tù binh vẫn còn sống và “Bộ Trưởng Quốc Phòng cùng Ngoại Trưởng đã không hề được hỏi ý”. Moorer đã từng phải hét vào mặt Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger, “Bọn chó đẻ vẫn còn giam quân nhân của mình”.  4851

Trước công luận thì Nixon tuyên bố là tất cả các tù binh đều đã được thả về.

Vào ngày 29 tháng 3 năm 1973, Tổng thống Nixon đã tổ chức đại tiệc chào đón 610 tù binh tại Tòa Bạch Ốc và Ross Perot thì đã tổ chức một buổi liên hoan mừng 400 quan khách toàn là tù binh. Ngày 31 tháng 3, tổ chức American Legion đã bảo trợ một cuộc diễn hành trên đường Broadway ở New York. Bọn VVAW đã xuất hiện để phản đối, nhưng bị đám đông yêu nước chế nhạo và một số người đã quăng chai đuổi chúng đi. Cảnh sát đã giải tán một nhóm VVAW mà đã cố đến phá đám buổi liên hoan mừng tù binh quy cố gương tại khách sạn Commodore Hotel. 4852

Đám Đạo Đức Giả, Đám Gian Dối, Đám Chốt Thí

Jane Fonda thì lại vẫn cứ tuyên bố, “quả thật là buồn cười khi bọn tù binh cho biết là chúng từng bị buộc phải tiếp [khách phản chiến] … . Chúng đều là đám đạo đức giả và nói láo ….”  4853 Tại UCLA thì y thị đã nói, “Chúng ta không làm sao tin được  là [chúng] … đã nói thật. Chúng là những tên sát nhân chuyên nghiệp”. 4854  Trên tờ Los Angeles Times thì y thi cũng đã viết : “Đó là một lời nói láo, nói láo có sách vở … cáo buộc là chính sách …đã toàn là … tra tấn”. 4855  Cora Weiss thì phát biểu, “Những tên từng phàn nàn bị đối xử tàn tệ nhất thì lại cũng tuyên bố là chính chúng đã khiêu khích để gây ra như vậy”. 4856  Weiss chủ trương là mọi tù binh nào mà không chịu nhận tội ác chiến tranh, không chịu cung cấp tin tình báo quân sự và đã từng tuyên bố này kia thì đương nhiên đã tự khiến mình bị tra tấn mà thôi –  một tiêu chuẩn của riêng mụ Weiss mà như chúng ta vẫn biết, thậm chí cũng sẽ không áp dụng được ngay đối với những nạn nhân bị hãm hiếp.

Các Tù Binh Đáp Lể Lại Tom, Jane và Cora

Các phản đối của tù binh về việc Fonda gọi họ là những tên nói láo, đạo đức giả và chốt thí đã mãi mãi không bao giờ lắng động được.

Chuẩn úy Bậc 2 Chief Warrant Officer Roy Zeigler II, một người từng ở tù tới năm năm đã hỏi: “Chúng tôi đã phải chăng là những tên nói láo, đạo đức giả và chốt thí? Bao người … đã chết dưới bàn tay của bọn quản giáo …. Tôi mong những oan hồn các kẻ đã chết trong các trại tù sẽ về lại để ám ảnh quý vị mãi mãi”. 4857  James Ray Texas thì nói: “Tôi … thách [Fonda] … hãy ráng nhìn những vết sẹo vẫn còn trên các cánh tay của tôi vì từng bị tra tấn rồi mới hãy nhìn thẳng mặt tôi mà tuyên bố tôi là một thằng nói láo cũng như là một đứa đạo đức giả. 4858  Đại tá “Bud” Day thì nhớ lại, “Tôi là một trong các kẻ … bị y thị chửi là thằng nói láo …. Tôi đã từng phải vô bệnh viện …”  với một cánh tay bị gãy và bị tê liệt. Rỏ ràng là kinh nghiệm tù của Đại tá Day về “sự tàn bạo, nạn đói khát và bị tra tấn” đã không hề là một chuyện gian dối được.

 

Sau khi được phóng thích thì tù binh Mike Benge có thu xếp để gặp Jane và Tom chỉ sau khi Benge có cho Fonda biết là mình đồng ý với lập trường tù binh đã được đối xử  khoan dung của y thị. Đó là một mưu chính trị nhằm dụ Jane tham dự một chương trình truyền hình ở Los Angeles của Bob Dornan, nhưng Tom Hayden đã “kiểm soát được tâm trí của y thị” và đã “từ chối không cho tham dự cuộc thảo luận truyền hình đó”. Một vài tuần sau đó thì Dornan đã bị xua đuổi rời khỏi một sân khấu tại Berkeley trong khi ông ta vẫn cứ la lớn, “Con đỉ cái, mày cũng không dám tranh luận ngay cả với tù binh Mike Benge này”. 4859

Đã có gần cả trăm tù binh bị tra tấn bắt phải đọc những tuyên bố nhằm mục đích tuyên truyền hay để khai thác tình báo quân sự. Nói chung thì đã có độ 20% ​​tù binh đành bỏ mạng trong cánh tay “khoan dung và nhân đạo” của bọn Việt Cộng. 4860

Các tù binh và nhiều người khác bắt đầu lên tiếng phản đối phong trào phản chiến. Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí US News và World Report trong số ngày 14 tháng 5 năm 1973, vị Thượng nghị sĩ  Mỹ tương lai và cũng là cựu tù binh là John McCain đã chia sẻ suy tư của mình về hậu quả bọn biểu tình phản  chiến đã từng gây ra cho người tù binh trong cảnh đang bị giam cầm. John McCain đã xác nhận việc John Kerry ra điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện của J. William Fulbright đã là “một việc tuyên truyền có hiệu quả nhất [bọn quản giáo Bắc cộng] đã sử dụng đối với chúng ta ….”. Tại Thượng viện, tên Kerry đã “bắn phá phủ đầu chúng tôi với những trích dẫn phản chiến của một số kẻ cao cấp ở Washington. Đấy chính là tuyên truyền hiệu quả nhất mà chúng đã sử dụng để chống lại chúng tôi”. 4861

Các cơ quan lập pháp ở Colorado, Indiana, và California đã ban hành những  nghị quyết lên án Jane Fonda về việc đã gọi tù binh là những kẻ nói láo. Thượng viện California thì lên án Fonda là một kẻ “làm loa tuyên truyền những lời dối trá của kẻ thù”. 4862

Quốc Hội bèn điều tra các công dân Mỹ nào mà đã “đi ra ngoại quốc đến các khu vực thù địch”.  Ngày 4 tháng 6 năm 1973,  Dân biểu Ichord thuộc Ủy ban An ninh Quốc Nội đã nói:

Một số đáng kể công dân Hoa Kỳ … nơi đó [ở Bắc Việt Nam] … đã cung ứng viện trợ và đã ủng hộ kẻ thù cũng như đã … gây ra thiệt hại trực tiếp cho các quân nhân của chúng ta, kể cả việc khiến tù binh bị tra tấn. Hơn nữa, … các công dân đó, khi xử sự theo cung cách đó đã thực sự chỉ kéo dài cuộc chiến tranh, cùng với mọi đau khổ, chịu đựng cùng hoang phí đi kèm mà thôi. 4863

Trong một tài liệu của IPC, Jane Fonda đã viết:

Đã có một lịch sử ngàn năm văn hiến … những lần thất trận [tại Việt Nam] … Quan điểm của tôi … đã bị trích dẫn một cách sai lầm khắp nơi …. Những gì ban đầu tôi đã nói  … là tù binh nói láo khi họ khẳng định đó là chính sách tra tấn tù binh Mỹ của Bắc Việt  …

Chúng ta phải thắc mắc về tính cách kỳ thị chủng tộc bàn bạc trong các cách phiên giải của họ …

Đã từng có bao nhiêu trường hợp bị đối xử tàn bạo do hành vi chống lại các điều lệ …?  Đã từng có bao nhiêu trường hợp bị biệt giam do hành vi sữa soạn … trốn tù …?  Đã từng có bao nhiêu kẻ cần phải biện minh cho các tuyên bố phản chiến mạnh mẽ mình từng làm … để tránh mối nguy phải bị ra trước tòa án quân sự mặt trận? 4864

Làm Sao Để “Viết Lại Lịch Sử” 

Một bài thơ của John H. “Dave” Davis từng được đọc tại buổi lễ khánh thành Đài Tưởng niệm Việt Nam ở California đã  thể hiện được toàn bộ nội vụ Tù Binh của bộ Fonda / Hayden:

Chúng ta có nhớ

 FONDA

Baez

Hayden

Garwood

Các Tù binh

Tra tấn

Những người mất tích trong chiến trận

Sự rối mù

ĐAU XÓT

Ta nhớ lại

Quy cố hương

Các ‘Hippies’

Các váy ngắn ‘mini’

KHÔNG ĐEO XÚ-CHIÊN!

Phản chiến?

Những liếc nhìn

NHỔ NƯỚC MIẾNG

Mắng chưởi

ĐAU ĐỚN TẬN THÂM TÂM  4865

Chiến tranh đã chấm dứt với Hoa Kỳ, nhưng riêng với bọn Tom, Jane, với cả Việt Nam và VVAW thì không phải vậy đâu.

*****

 

4836  “AFP Reporters Try to Question POW’s in Hanoi”, Paris AFP bằng Anh ngữ, 07:31 GMT, 11 tháng 2 năm 1973, Chỉ dành cho công vụ thôi (For Official Use Only).

4837  “The Hanoi Hilton in Recent Days”, Quân Đội Nhân Dân, 11 tháng 2 năm 1973, được nêu ra trong “Army Paper Interviews POW’s at Hanoi Hilton”, đài Hà-nội chương trình Việt ngữ dành cho Nam Việt, 03:45 GMT, 11 tháng 2 năm 1973,  Chỉ dành cho công vụ thôi (For Official Use Only).

4838  Howes, Voices… , trang 61, 64, 66, 91-92.

4839  Sam Venable, “Big Week for former POW”, Knoxville News Sentinel, 18 tháng 9 năm 2008.

4840  Jim Camp, “The U.S. Forbids Torture”, Bình Luận WEB Commentary, 27 tháng 4 năm 2009.

4841  Phần III và cuối của bài tường thuật trong tờ Quân Đội Nhân Dân : “The Hanoi Hilton in Recent Days”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội bằng Việt ngữ, 14:00 GMT, 13 tháng 2 , Chỉ dành cho công vụ thôi  (For Official Use Only).

4842  Howes, Voices…, trang 7, 70-71,  94-5.

4843  Bruce Herschensohn, “An American Amnesia: How the U.S. Congress Forced the Surrenders of South Vietnam  and Cambodia”, New York: Beaufort Books, 2010, trang 11, 52.

4844  “Hanoi Reportage On Release of First U.S. POW Group”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội bằng Việt ngữ, 11:42 GMT, 12  tháng 2  năm 1973; “Hanoi Reports Hanoi Release of 116 U.S. POW’s”, Thông tấn xã Hà-nội bằng Anh ngữ, 09:08 GMT, 12 tháng 2  năm 1973; “VNA Releases Name list of First Group of Returned POW’s”, Thông tấn xã Hà-nội bằng Anh ngữ, 09:19 GMT, 12 tháng 2  năm 1973.

4845  Chicago Tribune, 8 tháng 9  năm 1973, trang 8. Xem thêm: Black Panther, 16  tháng 6  năm 1975, trang 15.

4846  “Eight POWs Charged”, Weekly Indochina News Report, VVAW, Số 4, 29  tháng 6  năm 1973.

4847  Vẫn đã có những tên cộng tác viên mà đã không bao giờ bị truy tố được như là McKinley Nolan, Gustav Mehrer. Bọn đáng nghi thì gồm có Humberto Acosta-Rosario và Walter Cichon. “Các báo cáo CIA … cho thấy là (Robert) Garwood đã … tham dự trong những sinh hoạt như là phát thanh kích động các quân nhân Mỹ phải đào ngũ” và “nhiều tù binh Mỹ từng bị giam giữ tại Hà-nội mãi cho đến Chiến dịch Quy Cố Hương (Operation Homecoming) năm 1973 đã tuyên bố là họ có nghe vài bài nói tuyên truyền của Garwood trên đài Hà-nội. Các cựu tù binh của VC như Trung Sỹ James Strickland và Trung Sỹ Coy Tinsley đều đã được điều tra về tên từng cộng tác với địch là Robert Garwood. Các lời khai của họ đều đúng với y như lời khai của các cựu tù binh như là Ortiz-Rivera và Agosto Santos trước đó hai năm. Thêm nữa, Trung Sỹ Watkins có nói “Garwood có nói với anh ta là y (Garwood) sẽ đi Bắc Việt để gặp một tên trong đám lãnh tụ đảng Black Panther Party và Black Muslims trong tháng 8 hay 9 năm 1970. Garwood cũng khoe khoang mình từng cùng sát cánh với VC để đánh lại các binh lính Mỹ. Watkins đã nói là  Garwood có deo một huy hiệu hình Hồ Chí Minh và tay thì cầm súng AK-47. Ngày 5 tháng 2 năm 1981, Garwood đã bị tuyên án về cả hai tội danh đó và đã bị quy kết từng là một tên thông ngôn, một tên lấy cung, một tên tuyên truyền, một tên quản giáo, một tên điềm chỉ viên được “cấy” để làm việc cho kẻ thù là cả VC và Bắc cộng. Garwood đã đành phải nhận mình từng báo cáo để tiết lộ các kế hoặch vượt ngục của các bạn tù và cũng từng đã khuyến dụ họ nên ‘bước qua bên kia” hầu cộng tác với địch như y đã từng làm.

http://www.miafacts.org/grwd_5.htm

4848  Đọc thêm về nhiều bình luận đáng giá của Đại tá James Kesler, Không Lực Hoa Kỳ USAF, Đại úy Davis Gray, Jr., Không Lực Hoa Kỳ USAF và Đại tá Robinson Reisner: Richard Nixon, RN, Bộ. II, trang 400-410; Herald of Freedom, 5 tháng 10 năm 1979, trang 2.

4849  Thiếu tá Hải quân Rod Knutson, Prisoner at War, Penguin Books, 1978, trang 345.

4850  Đại úy Howard Rutledge, P.O.W., 1965.

4851  Sydney Schanberg, “McCain and the POW Cover-Up”,  trang trên Liên Mạng của  The Nation Institute,  18 tháng 9 năm 2008, được in lại trên tờ The American Conservative, số Tháng 7 Năm 2010, trang 10-19.

4852  FBI, New York NY 100-160544, đoạn, 3 tháng 4 năm 1973

4853  “Jane Fonda Claims POWs Not Tortured”, Pasadena Star News, 1 tháng 4 năm 1973; Xem thêm: San Francisco Chronicle, 1 tháng 4 năm 1973, trang 4.

4854  “Prove It, Jane Says of POW Torture”, L. A. Times, 19 tháng 4 năm 1973; Andersen, trang 267.

4855  Andersen, trang 267; Reunion, trang 455; San Francisco Chronicle, April 30 tháng 4 năm 1973.

4856  Los Angeles Times, ”Antiwar Leaders Reply to Criticism of actions”, 14 tháng 11 năm 1973 được viện dẫn trong sách của Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 71 ghi chú 77.

4857  Guidry, trang 105.

4858  Như trên.

4859  Benge có nói với Canfield, 28 tháng chạp năm 2008, 6:54 PM.

4860  Lewy, trang 333-340, nêu ra trong sách của Billingsley do Collier và Horowitz xuất bản, Second Thoughts, trang  248, ghi chú 56.

4861  Roberta Leguizamon “Stolen Valor”, FrontPageMagazine.com, 27 tháng 9 năm 2004.

4862  W. B. Rood, “Hayden and Fonda: Who Has the Clout”, Los Angeles Times, August 15 tháng 8 năm 1979, trang D-1.

4863  Nêu ra trong sách của Denney, trang 13.

4864  Jane Fonda, “Who is Being Brainwashed?”,  An Indochina Peace Campaign Report, Santa Monica: Indochina Peace Campaign, 1973. Phần nhấn mạnh là của tác giả.

4865  John H. (Dave) Davis, Jr., “We Remember”.

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #163”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #163 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: