Roger Canfield’s Americong #187

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộcchiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 187

 Tang Vật D: Hayden, Gián Điệp Của Bắc Cộng?

 

Tom Hayden, một Tên Luôn Luôn Khả Nghi

Có phải chăng Tom Hayden,trong suốt thời chiến tranh Việt Nam và luôn cả sau đó, đãxử sự không như một kẻ chỉ phản chiến nhưng mà hành tung lại còn giống y một gián điệp ngoại quốc? Trong cái danh sách ngắn liệt kê bọn Mỹ “luôn luôn khả nghi” là rất có thể đang làm gián điệp cho kẻ thù thì đã có Tom Hayden, một tên từng ẳm được 40.000.000đô Mỹ sau khi chịu  xé bỏ hôn thú với Jane Fonda theo yêu cầu của y thị. Hayden đã từng được bầu để đại diện cho ba phần tư của một triệu người tại Thượng viện tiểu bang California và đãtrở thành trong nhiều năm một kẻ có ảnh hưởng trong Đảng Dân chủ.

Muôn Trùng Bằng Chứng

Sách này đã nhằm cố gắng tiết lộ và mô tả hành vi của những tên Mỹ đã từng cộng tác với Bắc Việt. Nội dung về các hồ sơ bí mật của Tom Hayden cùng các văn khố tình báo nay vẫn chưa được phép giải mật. Tuy nhiên, các nguồn tin công khai, các tài liệu đương thời và các án tòa từng được công bố chiếu theo Freedom of Information Act ~ FOIA (Đạo luật Tự do Thông tin) thì đều cho thấy là Hayden đã là một gián điệp. Muôn trùng bằng chứng (căn cứ trên công trình truy cứu qua Đạo luật Tự do Thông tin, các văn khố của bọn Tân Tả tại Viện Hoover và các tài liệu Indochina Archives  (Văn khố Đông Dương) tại Berkeley, cũng như là truy cập trên Liên Mạng với Texas Tech’s Vietnam Archives và các cuộc phỏng vấn cá nhân đều rỏ ràng tố cáo Tom Hayden là một nghi phạm chính yếu trong tư cách là một gián điệp phục vụ cho ngoại quốc. Một kết luận như vậy thì chắc chắn sẽ không sao dễ dàng mà bác bỏ được.

Số Mỹ cấp tiến và có khuynh hướng tự do – không phải là “đám hữu khuynh mù quáng”, từ lâu nay cũng đã vẫn gọi Hayden là một Lê-nin Mỹ  (như Walter Mondale, Dick Flacks, Roger Vadim) hay là một Sì-ta-lin (như Abbie Hoffman và Thượng nghị sĩ tiểu bang California James Mills).

Tom từng tuyên bố: “Tôi là Việt Cộng” tại buổi hội nghị “đoàn kết” mà y đã đứng ra tổ chức cho Việt cộng tại Bratislava, Tiệp Khắc vào tháng 9 năm 1967.

Haydencũng từng đã “phỏng vấn” tù binh Mỹ Doug Hegdahl, còn Thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồngthì cũng đã tuyên bố Tom là một “đồng chí cùng chiến tuyến” trong sứ mệnh chống Mỹ. 5419

Từ năm 1965 đến năm 1973,

• Hayden đãphỏng vấn tù binh chiến tranh,
• Thu xếp được bốn đợt phóng thích tù binh mang đầy tính cách tượng trưng,
• Giúp chọn lựa ai mới được cho gặp tù binh cùng đãm nhiệm công tác chuyển giao thơ cho họ,
• Từng mắng các tù binh là “những tên đạo đức giả, nói láo vàchỉ là những con tốt thí” sau đợt “Hồi Hương” vào năm 1973 của họ.
• và chủ trương ràng buộc việc hợp tác để tìm kiếm các kẻ bị liệt kê mất tích trong công vụ vớiviệc phải bồi thường cho Việt Nam, v. v. . .

Các Hồ Sơ Bí Mật (của CIA, FBI, NSA) Về Tom Hayden

Trong những năm đầu thập niên chín mươi,chính tác giảcũng đã có nhận được rất nhiều hồ sơ FBI mà đã bị kiểm duyệt trước, về Tom Hayden chiếu theo Đạo Luật Tự Do Thông Tin. Trong số những chi tiết gợi nhiều nghi vấn nhất thì chính đã làcác trích lục về những phiên tòa công khai có dính líu tới đương sự và các vấn đề an ninh quốc gia. Sự thậtlà quả đúng đã khônghề có một biện lý Mỹnào đã đứng ra truy tố Tom Haydenvề tội làm gián điệp cho ngoại quốc.

Tuy nhiên, những tài liệu về tòa ánđóđã cho thấy Tom Hayden thường xuyên bị thu âm được là “đang theo dõi …các sinh hoạt của các cường quốc nước ngoài hay các gián điệp của họ”,đó là theo một biên bản tòa vào ngày 13 tháng 6 năm  1969.5420  Cũng đã có cả hàng trăm hồ sơ tình báo bí mật từng được trích dẫn trongcác phiên tòa.

Bằng chứngrốt ráo về vai trò của Hayden như là một kẻ vô tội hay như là một tên gián điệp của nước ngoài thì lại đang nằm trong hơn cả 10.000 trang của mục “chặn kiểm thông tin liên lạcvới ngoại quốc”.

Những tài liệu này từng đã được kiểm tra trong toàn bộ hay chỉ một phần bởi mười tám thẩm phán liên bang trong cả tám vụ đăng đường suốt cả thời gian  mười lăm năm trời. Các vị thẩm phán liên bang đều đã từ chối cho phép công bố phần lớn cả hàng ngàn trang tài liệu liên quan đến Hayden. Họ đã e ngại là việc công khai hóa các tài liệu về Hayden đã sẽ có khả năng gây “thiệt hại nghiêm trọng hoặc tối nghiêm trọng” đối với nền an ninh quốc gia và các chính sách đối ngoại của các cơ quan tình báo Mỹ.

Theoquan điểm của nhiều thẩm phán khác nhau thì các “việc chận kiểm nghe các liên lạc với ngoại quốc”đó đều đã có khả năng tiết lộ :

• “các công tác và hoạt động tình báo nhạy cảm; … có tính cách ‘crypto logic’… về tình báo”;
• Các “nguồn tin tình báo, phương pháp” và các hoạt độngvề ngoại quốc của Mỹ;
• “tiết lộ các hoạt động tình báo” thuộc những lãnh vực hay các loại thông tin đặc biệt, có khả năng giúp nhận ra được các điệp viên Mỹ vàcác “gián điệp ngoại quốc”.

Tang Vật  ‘D’

Những lý do đó đã thuyết phục được các vị thẩm phán để quyết định không cho phép công khai hóa đa số những tài liệu của các cơ quan tình báo Mỹ. Đúng ra thì chỉ là hỏa mù thôi chớ không có khẩu súng nào nổ thật sự cả, bởi vì nếu có chăng thì sự thật vẫn còn nằm  trong các tài liệu bị niêm phong trong các kho – và những tài liệu đó đã được phân loại như là Exhibit D (Tang Vật ‘D’), gồm có tổng cộng là hai hộp bằng cạt-tông bị niêm kín trong một cái thùng. Chúng ta sẽ phải chờ cho tới khi toàn bộ hồ sơ của Hayden, được liệt kê là Exhibit D (Tang Vật ‘D’), được công khai hóa nhân khi các hồ sơ lưu trữ về cuộc  Chiến tranh Lạnh của cộng sản và của Hoa Kỳ sẽ được bạch hóa, và cho tới khi đó thì chúng ta vẫn sẽ không có được bằng chứng rỏ ràng và cũng còn phải tạm chấp nhận là có nhiều nghi vấn về sự kiện Tom Hayden, Jane Fonda, Cora Weiss, David Dellinger hay đám bè bạn bè có phải đúng là những tên phản quốc hay đã từng làm gián điệp cho bọn Cộng sản hay không.

Tuy nhiên, các bằng chứng có tính cách gián tiếp khả dĩ đưa đến việc suy luận ra được thì đều đã rỏ ràng cho thấy là quả đúng như vậy. Đã có rất ư là nhiều bằng chứng công khai về bao lần bọn Tom, Jane, Cora, David từng cùng tình nguyện đi làm công cụ tuyên truyền cho bọn thù trong thời Chiến tranh Lạnh của Mỹ, từ năm 1965 mãi cho đến ít nhất là năm 1975, mà đều đã từng được ghi lại trong chi tiết chiếu theo bối cảnh lịch sử đương thời mà khả dĩ khiến ta phải lạnh mình thôi.

Đúng vậy. Các án tòa với nội dung và cách dùng từ rất ư là cẩn thận của tòa án trong cả tám vụ, cả hình lẫn hộ, từ  tháng 6 năm 1969 đến tháng 6 năm 1984 mà có liên quan đến Tom Hayden và đồng bọn, đều đã chứng minh được, mà cũng không ai là không biết trước, là cả FBI, CIA, Cơ quan An ninh Quốc gia ~ NSA và Quân Báo thuộc Bộ Quốc phòng (Defense Intelligence Agency ~ DIA) đã từng thu lượm tin “tình báo ngoại quốc” bằng cách chận nghe lén các nước ngoài cùng điệp viên của họ. Sự hiện hữu chính thức của bằng chứng các lần chận nghe lén hợp pháp nhằm “lấy tin tình báo ngoại quốc” (cũng như những vụ nghe lén bất hợp pháp khác trong quốc nội) mà thường thu âm được Tom Hayden và những tên khác, đều đã bị tiết lộ một cách miễn cưỡng trong tiến trình tố tụng từ tháng 6 năm 1969 đến tháng 6 năm 1984, và đã rất là trớ trêu, lại chính từng bị yêu cầu bởi ngay Tom Hayden và đồng bọn.

Tổng Thống Lyndon Johnson và Richard Nixon cùng các Chưởng lý Liên bang Ramsey Clark, John Mitchell và Harold Tyler 5421 đãcho phépbành trướng “việc kiểm soát ở ngoại quốc các cuộc điện đàm và điện tín”  5422  trong thời chiến tranh Việt Nam và cũng chuẩn phê các vụ chận nghe lén để lấy tin tình báo trong mục đích phản gián. Các tài liệu nghe lén về Hayden đã vẫn được bảo mật chiếu theo sự đòi hỏi của các Tổng Thống Ford, Carter và Reagan cũng như là các vị Chưởng lý Liên bang của họ, kể từ Ramsey Clark của L.B.J. luôn cho tới Griffin Bell của Carter.

Hayden Thường Xuyên Tiếp Xúc Nói Chuyện Với Các Điệp Viên Ngoại Quốc

Các hồ sơ tòa án cho thấy là tuy chính mình không phải là đối tượng trực tiếp trong công việc tình báo ở ngoại quốc thì Tom Hayden đã lại rất là tình cờ, nhưng thường xuyên, bị nghe lén dạo giữa năm 1967 và 1972 nhân những lần trao đổi nói chuyện với các gián điệp ngoại quốc. Chúng ta đã không thể biết một cách chính xác những gì Tom đã từng nói và nói với ai. Các trích lục biên bản ghi lại đúng nguyên văn của những cuộc đối thoại bị nghe lén đó, chiếu theo nhiều án lệnh của ngay cùng những thẩm phán đó mà đã có nghiên cứu các lời khai hữu thệ, các mục lục, các trích lục hay các tài liệu thu băng bí mật đó, đều bị niêm phong và lưu giữ trong các hầm văn khố.

Các Thẫm Phán Bác Bỏ Thỉnh Cầu Công Bố Các Hồ Sơ Của Y

Các thẫm phán mà đã từng nghiên cứu cẩn thận các bản tóm tắt về những tài liệu thu băng nhe lén hay các cuộc trao đổi thuộc các Tòa án Quận ở Chicago 5423 và Washington, DC, 5424  và thuộc các Hệ Thống Tòa Phúc thẩm Mỹ (U.S. Circuits Courts of Appeal) ở Washington, DC  5425 và Tòa Phúc Thẫm Số Bảy (Seventh Circuit) ở Chicago, 5426 đềuđã từ chối không cho phép công khai hóa các án lục về những cuộc nói chuyện của Hayden hay các tài liệu cho thấy bọn gián điệp tiết lộ ra những liên hệ với y về những vấn đề có tính cách “an ninh quốc gia “. Trong một vụ, Tối cao Pháp viện Mỹ đã bác bỏ thỉnh cầu kháng án của Tom Hayden và Jane Fonda nhân khi NSA đã từ chối không chịu công bố các bản tường trình tình báo ngoại quốc liện hệ đến chúng.  5427  Một tòa án khác thì tuyên phán: “Đã quá rõ ràng … là các tài liệu … quả chứa đựng ‘những nguồn tin hay các phương pháp tình báo” hay “tổ chức, … các tên tuổi, hay số nhân viên đang làm cho (CIA)”.  5428

“Điệp Viên … hay Bọn Cộng Tác”

Những nhận xét đáng kể nhất đã có là của thẫm phán Tòa án Quận Mỹ (U.S. District Court) John Pratt vào tháng 6 năm 1984 mà đã phán quyết hủy bỏ một vụ hộ từng kéo dài cả mười hai năm nhằm vào các cơ quan tình báo Mỹ. Sau khi đọc được tang vật về các cuộc đàm thoại do nghe lén điện thoại, Thẩm phán Pratt phán quyết từ chối cung cấp chúng cho Hayden và đồng bọn. Thẩm phán Pratt tuyên phán là các tài liệu bí mật và tối mật đã có khả năng “rõ ràng tiết lộ về những chi tiết thuộc nền an ninh quốc gia, … thay vì là một duyên cớ hầu để theo dõi về chính trị hay để có thề truy tố”.

Các hồ sơ tòa đều đã bị quy định là không được công bố vì “ngoại lệ về gián điệp ngoại quốc”.  Còn về việc cái đám bị nghe lén như là Hayden và đồng bọn quả có thể bị tố cáo như là “điệp viên hay cộng tác” thì Thẩm phán Pratt phán quyết, “việc mô tả như vậy đã được công nhận để có thể bao gồm luôn các cá nhân mà đã từng có hành vi ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của đất nước này”.  5429

11.000 Trang Vẫn Còn Bị Bảo Mật

Hiện đang có khoảng 11.000 trang tài liệu lien quan những lần nghe lén điện đàm cùng các tài liệu bí mật khác thuộc về Tom Hayden mà vẫn còn được lưu giữ trong các kho của các cơ quan chính phủ Mỹ, bất chấp cả mười lăm năm khọng thành công  của y qua các vụ kiện và kháng cáo, cả hình, hộ hay hành chánh để cố gắng dành lại những tài liệu bí mật đó. Cả mười tám thẩm phán liên bang đã có đọc các chi tiết đó một cách riêng tư ngay trong văn phòng của họ, nào là lời khai hữu thệ, các bản tóm tắt, các chỉ số, các biên bản, các hồi ký, các trích lục và các băng thu âm những lần nghe lén. Mười tám vị thẩm phán liên bang đó đã ra lệnh cho chính phủ Mỹ chỉ được công bố một phần nhỏ thôi của toàn bộ tài liệu về nội dung các nghe lén điện đàm.

Hayden đã không “thành công đáng kể” trong các vụ án do y khởi tố

Các thẫm phán thậm chí cũng từ chối, chiếu vào số lượng trang tài liệu ít ỏi từng được công bố, để phán quyết phải bồi trả tiền nhiệm cách của luật sư cho Hayden, vì y đã thất bại để “substantially prevail ~ thành công đáng kể” trong việc căn cứ vào Đạo luật Tự do Thông tin ~ FOIA để khởi tố FBI, CIA và NSA. Đạo luật FOIA đặc biệt ưu đãi mọi người nào mà muốn được quyền tham khảo các tài liệu cá nhân của họ. Jane Fonda đã tuyên bố dành được “chiến thắng về đạo đức” trong các vụ án của y thị, trong khi đó thì Tom đã tái bản bộ hồi ký của y là Reunion, và đã cho in theo dạng chữ đậm ‘bold’ con số ít chon lọc tài liệu mà y từng nhận được. Do đó, Hayden đã khiến cho mấy kẻ ngây thơ tin tưởng một cách sai lầm là y đã tuyệt đối thắng kiện đối với bọn gọi là áp bức trong chính phủ Mỹ.

Hành vi theo dõi bất hợp pháp đã không phải là vấn đề

Lưu ý: sau nhiều lần đình trể và cuối cùng cũng đã được công bố, thì hành vi theo dõi bất hợp pháp trong quốc nội  5430 đã không phải là vấn đề để phải tranh luận trong các vụ án đó. Các cơ quan an ninh đã nhận được lệnh phải công bố tài liệu về những lần chận nghe lén từng được thực hiện một cách bất hợp pháp ở quốc nội, trực tiếp hay gián tiếp, về những người hay nơi cư ngụ của các kẻ hoạt động chính trị trong nước. Các tài liệu về những lần chận nghe lén đối với các cường quốc nước ngoài thì vẫn được giữ kín.  5431

Hành Vi Hợp Pháp Về Việc Chận Nghe Lén Những Tiếp Xúc Với Ngoại Quốc

Đại đa số, 61 phần trăm của 18.000 trang của hồ sơ Hayden của FBI, 5432 tức là khoảng 11.000 trang thì đều là những tài liệu về chận nghe lén các ngoại kiều và tại nơi cư ngụ ủa họ chớ không hề là những vụ chận nghe lén bất hợp pháp chính ngayHayden hay là nơi y cự ngụ. Đa số các lần chận nghe lén của Hayden và đồng bọn đã đều có vẻ là “việc theo dõi … các tiếp xúc ngoại quốc”

chiếu theo quan điểm của cả United States District Court (Tòa án Quận Hoa Kỳ) và Court of Appeals of the District of Columbia (Tòa án phúc thẩm của Quận  Columbia) vào năm 1983 và năm 1984. 5433 Các thẩm phán đã chê trách việc lạm dụng thẫm quyền về nghe lén điện đàm của các Tổng Thống, Chưởng lý Liên bang, các cơ quan an ninh và quân đội và đôi khi cũng chỉ đơn giản bác bỏ lý do về “an ninh quốc gia”. Tuy nhiên, không hề có một thẩm phán nào mà đã chấp nhận thỉnh cầu của Hayden là chính phủ đã lạm dụng trong chính sách chận nghe lén các liên lạc ngoại quốc.

Cứ bị lặp đi lặp lại, mọi cáo buộc của Hayden về vấn đề lạm dụng của chính phủ đều đã thất bại:

• không đủ căn bản để đảo ngược hai tiền án hình sự tại Chicago về tội bạo loạn và cải lệnh tòa;

• không đủ căn bản để khởi tố về hộ đối với các công tố viên Chicago vì đã công bố các băng thu nghe lén về y mà đã được biết đến trong phiên tòa xử Ellsberg;

• như một lý do để chấp thuận các thỉnh cầu chiếu theo đạo luật FOIA của y nhằm phải công bố các hồ sơ bí mật của các cơ quan tình báo.

Mọi Tài Liệu Lưu Trữ Đều Bị Niêm Kín

Sau nhiều năm cứ theo dõi các tài liệu về nghe lén theo thủ tục tố tụng ‘ex parte ~ đơn phương’ hay ‘in camera ~ ngay trong văn phòng thẫm phán’, mọi thẩm phán phán xử về thỉnh cầu xin công khai hóa đều cuối cùng quyết định niêm kín hầu hết các tài liệu để trong kho hầu hoàn trả lại cho cơ quan tình báo Mỹ mà cả Tom Hayden hay các luật sư nhiệm cách cho y đều cũng không được tham khảo, ngoại trừ một số ít mà chỉ mô tả rất là mơ hồ về nội dung của các cuộc điện đàm giữa y với các điệp viên ngoại quốc.

Tuy là vẫn rất không tin các biện luận của chính phủ về lý do “an ninh quốc gia” như là một lý do để chận nghe lén và sau khi bắt buộc phải cung cấp cho họ các bằng chứng trong chi tiết về nội dung các tài liệu đó thì tất cả các thẩm phán đã rốt cuộc chịu tin các viên chức mà họ đã từng phán xử phạt trong các vụ án về đặt máy nghe lén trong nước một cách bất hợp pháp. Chính ngay các tòa án mà đã từng buộc Tổng thống Nixon phải công bố tài liệu mật Pentagon Papers, cũng như ngay luôn cả các cuộn thu băng riêng của Tòa Bạch Ốc, thì lại đã cũng không cho công bố các hồ sơ về Hayden.

Có Gì Mà Sao Phải Quá Bảo Mật Vậy?

Các cơ quan an ninh đã từng tuyên bố và các tòa án cũng từng tin là “… việc tiết lộ các tin ‘khả dĩ có hiểm nguy’ … hoặc là sẽ … cho thấy nội tình trong các phương pháp cùng khả năng thu thập tin tình báo của quốc gia hoặc sẽ gây trở ngại trong các quan hệ ngoại giao với các chính phủ ngoại quốc”, như một phán quyết  của tòa án đã có giải thích. 5434  Các mô tả khác về loại tài liệu bí mật nhằm nghe lén điện đàm mà chính ngay các vị thẫm phán cũng đã từng ghi nhận, thì có bao gồm cả các đề tài quốc phòng, ngoại giao, tình báo ngoại quốc, an ninh quốc gia, v. v. . .

Một số thẩm phán đã quyết định phải bảo mật các tài liệu vì chúng liên hệ đến “những lần chận nghe lén (các liên lạc) tình báo nước ngoài”, mà một số là của các “gián điệp ngoại quốc”.  5435 Trong một vụ án của Dellinger, cả hình lẫn hộ liên quan đến việc Hayden đã bị nghe lén lúc đang thảo luận về “an ninh quốc gia” thì các cộng tác viên thân cận nhất của y tại Chicago lẫn các tên từng phỏng vấn tù binh là David Dellinger và Rennie Davis cũng đã bị thu âm luôn, 5436 có lẽ nhân khi “gọi điện thoại đến các tòa đại sứ quán ngoại quốc” … 5437 Trong một vụ án của Ellsberg mà có liên quan đến Tom Hayden, “những lần chận nghe lén để lấy tin tình báo ngoại quốc ” cũng có thu băng được các cuộc đàm thoại của Hayden với đám cật ruột là Robert Scheer và Stanley Sheinbaum cùng bọn đồng minh chính trị của y là Daniel Ellsberg, Leonard Boudin và Richard Falk. 5438

Chính Phủ Mỹ Chấp Thuận Thỏa Mãn Các Phán Quyết Tòa

Trong các vụ kiện về hộ do Hayden khởi xướng nhằm chống FBI, CIA và NSA, 5439  các vị thẩm phán đã yêu cầu chính quyền phải xác minh lý do không được công bố từng mỗi và mọi tài liệu 5440 cho nguyên đơnvà, sau khi cứu xét thì họ đã  đồng ý với lý do “an ninh quốc gia” của chính phủ để không cho công khai hóa cả 60 phần trăm của các tài liệu của FBI và cho tới cả 80 phần trăm của các tài liệu CIA và NSA. Trong số các tài liệu được công bố thì Hayden cũng từng đã nhận được đa số của 39 phần trăm hồ sơ FBI mà y đã thỉnh cầu  5441 và 22 phần trăm đối với hồ sơ của CIA. 5442

Lưu Trử Lịch Sử Về Những Lần  

Hayden Từng Tiếp Xúc Với Ngoại Quốc

Khác với các án lục tòa, việc ghi nhận có tính cách lịch sử của sách này cho thấy không những chỉ các mục tiêu khả dĩ ở ngoại quốc của công tác đặt máy nghe lén của Mỹ sau năm 1965 mà cũng luôn cả các đối tượng mà từng khả dĩ đã có nói chuyện với Hayden. Đó đã là các tòa đại sứ hay các gián điệp Cu-ba, Bắc Hàn, Bắc Việt, Campuchia, Liên Xô, Trung Cộng, Đông Đức và Tiệp Khắc. Sự việc đã rất rõ ràng là không làm sao mà đã phải cần cho tới cả hàng ngàn trang để chỉ nhằm ghi lại các tin đồn nhảm nhí về Tom và Jane hay để ghi nhận là Tom Hayden đã từng xin chiếu khán, tài liệu du lịch hay thu xếp xuất ngoại thông qua các tòa đại sứ hay các nhân viên sứ quán phụ trách về điện thoại hay điện tín. Nổi lo ngại sẽ có thể làm lộ dạng các điệp viên Mỹ tại các địa phương cùng tiết lộ các khả năng kỹ thuật  5443 có thể biện minh được cho việc bảo mật một số tài liệu, nhưng sẽ đối với bao nhiêu tài liệu và trong bao lâu nữa?

Chuyên Viên Xuất Ngoại

Chắc chắn là những lần liệt kê dưới đây mà đã từng được công khai phổ biến của những lần Hayden tiếp xúc ở ngoại quốc với bọn thù của Hoa kỳ trong thời Chiến tranh Việt Nam thì đã không thuần túy chỉ là nhằm thu xếp cho các chuyến bay mà thôi.

• Tháng chạp năm 1965, đi Moscow, Bắc Kinh và Hà Nội;

• Tháng 4 năm 1967, đi Puerto Rico tham dự Tricontinential do Castro kiểm soát;

• Tháng 9 năm 1967, tại Bratislava, Tiệp Khắc tham dự một “Hội nghị Đoàn kết” Mỹ Việt;

• Tháng 10 năm 1967, tại Hà Nội để quan sát các “tội phạm chiến tranh” của Mỹ (cùng phỏng vấn tù binh Doug Hegdahl);

• Tháng 11 năm 1967, tại Nam Vang, Campuchia để đón nhận ba tù binh Mỹ (Dan Pitzer, Edward R. Johnson, James A. Jackson) và sắp xếp cho ba đợt phóng thích tù binh sau đó;

• Tháng 2 năm 1968, đi dự “Cultural Congress ~ Đại hội Văn hóa” của Castro tại Havana;

• Tháng 6 năm 1968, bức thơ “Good Fortune, Victory ~ May Mắn, Chiến Thắng” để đề bạt Robert Greenblatt với tay ngoại giao Đại tá Hà Văn Lâu;

• Tháng 7 năm 1968, đi Ba-lê gặp bọn Bắc Việt;

• Những lần tiếp xúc khác trong năm 1968 với bọn Bắc Việt để lấy tin viết bài trong tờ Ramparts;

• Tháng 8 năm 1968, nhiều lần gọi điện thoại đến Havana nhân khi đang có Đại hội đảng Dân Chủ;

• Chuyến đi vào mùa thu năm 1968 của Robert Greenblatt, (do Hayden thu xếp?) thăm Khối Đông Âu ;

• Các chuyến đi của Robert Scheer đến Bắc Việt, Trung cộng, Bắc Hàn trong hai năm 1968-1969;

• 1970-1971, tiếp xúc với Bắc Việt để xin tài liệu viết cuốn sách của Hayden … Love of Possession ~ Đam Mê Chiếm Đoạt . . . ;

• Tháng 7 năm 1972, Jane Fonda trên Đài phát thanh Hà Nội ;

• Chuyến đi vào mùa thu năm 1972 tại Hà Nội;

• Tháng chạp năm 1972, Hayden – Fonda cùng gởi điện tín cho Hà Nội;

• Tháng 4 năm 1974, đi thăm vùng được “giải phóng” tại Nam Việt;

• Xuân năm 1975, Campuchia và Nam Việt Nam sụp đổ.

Mọi chi tiết đều đã được nêu như ở trên.

Hayden, Trong Số Ít Mà Hà-nội Đã Chọn Lọc Ra

Tom Hayden đã là một trong số ít người Mỹ được bọn cộng sản cho phép đến các thủ đô của chúng trong thời chiến. Hayden đã thuộc trong cái đám nhỏ nhoi rất là chọn lọc để kiểm soát, phê duyệt và sắp xếp cho những tên khác được phép đi tới các nước đó hay không. Y từng phỏng vấn tù binh Mỹ và đứng ra nhận lãnh họ. Y đã từng thực hiện những chương trình phát thanh tại Hà Nội và Havana. Y đã từng viết nhiều bài báo và sách ủng hộ Hà Nội bằng cách sử dụng ngay chính các nguồn tin của cộng sản. Y đã từng tổ chức những hội nghị “đoàn kết”. Hayden đã thường bị triệu tập đến Hà Nội, Ba-lê và các nơi khác hầu gặp bọn  lãnh đạo, bọn nhân viên ngoại giao và bọn chỉ huy quân sự của Hà Nội trong thời chiến tranh.

Nếu quả thật y không làm một gián điệp thì Tom Hayden đã bị lường gạt vì đã bị trả lương quá ư là it ỏi cho một công tác mà y đã hoàn thành that là tuyệt mỹ. Thêm nữa, dĩ nhiên, thì cũng có cái yêu cầu đòi bồi thường rát đáng kinh ngạc của Hayden vào năm 1986 rằng y từng “cộng tác” với CIA. Nếu quả đúng vậy, tại sao CIA đã không chịu giao cho y các hồ sơ cá nhân của y?

Một Đe Dọa Vế An Ninh?

Sau khi Ronald Reagan được bầu làm Tổng Thống, tổ chức bảo thủ Heritage Foundation đã soạn thảo một tường trình dày cộm, tựa là Mandate for Leadership ~ Huấn Dụ với Lãnh Đạo, để đưa ra những kiến nghị về chính sách cho tân chính quyền. Sam Francis đã có viết một chương ngắn về tình báo Mỹ mà trong đó ông đã nêu lên những tiềm năng rủi ro về an ninh quốc  – tụi IPS, KKK và Campaign for Economic Democracy (Chiến dịch  cho Dân chủ về Kinh tế) của Hayden. 5444  Hayden đã đặc biệt liệt kê bản báo cáo của Francis như là bị soạn ra bởi “đám hữu phái chính cống đầy đa nghi hoang tưởng, và đó là tôi đang nói về những tên đang công khai ủng hộ cái chính sách đàn áp, việc đặt máy nghe lén điện đàm, việc các điệp vụ “black-bag ~ bao đen”, … các nhóm cực hữu cực đoan”.  5445

Có thể vậy.

Ấy vậy, Tom Hayden vẫn rỏ ràng bị thất kiện ngay với những thẩm phán có khuynh hướng tự do mổi lần y ráng thỉnh cầu tòa được thông tri các hồ sơ tình báo về những lần nghe lén điện đàm có dính líu tới y. Mọi tòa, kể cả Tối cao Pháp viện Mỹ, đều phán quyết là việc công bố toàn bộ các tài liệu về nghe lén sẽ nguy hại đến nền an ninh quốc gia.

Cuộc Chiến tranh Lạnh nay đã kết thúc. Nếu quả thật Tom Hayden đã từng rất xứng đáng để giành được các huy chương và khen thưởng trong tư cách một kẻ ái quốc tuy với những lý tưởng cộng sản thì nay cũng phải đã đến lúc các nhân viên phụ trách các văn khố lưu trữ trên thế giới thuộc cả bên cộng sản lẫn bên thế giới tự do đều phải thanh minh và ghi nhận đúng đắn vị trí của y trong lịch sử bằng việc cung cấp các hồ sơ lâu nay được bảo mật thuộc về y cho mọi người ái quốc và sử gia khác tham khảo. Những tin đồn là các tài liệu về tù binh trong tòa Đại sứ Mỹ tại Bangkok có thể đều đã bị phá hủy  5446 cũng có thể là một gợi ý rất đáng lo ngại về số phận của các hồ sơ về Hayden – và luôn cả về Sự Thật.

Và cũng không cần đắn đo gì cả, các hồ sơ bí mật về những người ái quốc khác trong câu chuyện kể của chúng ta thì cũng nên được tiết lộ mà thôi. Tôi xin dành việc này lại cho thế hệ các sử học gia kế tiếp theo sau này.

*****

5419  Thời Mới viện dẫn bởi Bernard-Joseph Carbanes trong một bản tin Agence France Presse đánh đi vào ngày 20 tháng 10 năm 1967 từ Hà-nội; Paris AFP bằng Anh ngữ, 14:00 GMT, 30 tháng 10 năm 1967, Thời Mới, 20 tháng 10 năm 1967.

5420  U.S. v. Dellinger et al, vụ đăng đường số 472 F 2d 391 (1972).

5421  Lần đầu tiên được chính thức công nhận bởi Chính Phủ Hoa Kỳ trong Ellsberg et al v. Mitchell et al, trang 670, F.Supp 1, 20 tháng 6 năm 1984.

5422  Nixon, Richard Nixon, Bộ I, trang 586-87.

5423  Thẫm phán Liên bang Quận Julius Hoffman, U.S. v. Dellinger et al, vụ hình số No. 18295, đặc biệt nên tham khảo án lục 502 F. Supp. 813 trước Tòa U.S. District Court of Appeals, 7th Circuit (Chicago). Xem thêm New York Times, 31 tháng 7 năm 1970.

5424  Tòa án Quận U.S. District Court, District of Columbia: vụ đăng đường David Dellinger et. al. v. John Mitchell, et. al. Vụ hộ số Number 1768-69; Thomas C. [sic] Hayden v. U.S. Department of Justice, Vụ hộ số No. 76-0288; Daniel Ellsberg et. al. v. John N. Mitchell, Vụ hộ số No. 1879-72; Thomas C [sic] Hayden v. Central Intelligence Agency, Vụ hộ số No. 76-284; Thomas E. Hayden v. National Security Agency, Vụ hộ số No. 76-286.

5425  Toà U.S. Court of Appeals for the District of Columbia Circuit: Daniel Ellsberg, et. al. v. John N. Mitchell, vụ đăng đường số 82-1085; Dellinger et al v. John N. Mitchell, Vụ hộ số No. 23931, 442 F. 2d782; 143 U.S. App. D.C. 60; Thomas E. Hayden v. National Security Agency, Vụ hộ số No. 78-1728, 608 F. 2d 1381.

5426  U. S. v. David T. Dellinger, tòa U.S. Court of Appeals for the Seventh Circuit, 21 tháng 11 năm 1972, (hình sự) số No. 18295, 75-77.

5427  N.Y. Times, 13 tháng 5 năm 1980, trang 11-17.

5428  Hayden v. CIA, Vụ hộ số No. 76-284, ‘slip opinion’, 15 tháng 4 năm 1977.

5429  Ellsberg et al v. Mitchell et al, vụ Hộ số 1879-72 trong 670 F. Supp 1, 4 mà trong đó, thẫm phán Pratt đã viện dẫn án lệ Zweibon IV  tại trang 170. Vụ kiện của Hayden đã được tách khỏi các vụ liên hệ đến Ellsberg và đồng bọn vào năm 1981, nhưng sự kiện và nội dung của các lần chận nghe lén Hayden thì cũng đã được tiết lộ nhân khi xét xử Ellsberg.

5430  Chi nhánh Cảnh sát Los Angeles có lưu giữ những hồ sơ về Tom Hayden và Jane Fonda chiếu theo các nguồn tin công khai và riêng tư, nhưng rất có khả năng là chúng đã được trao trả về cho chúng trong tháng 11 năm 1983. Đọc: Santa Monica Evening Outlook, “L.A.’s Freedom of Information Act sparks debate”, 30 tháng 11 năm 1983. Cũng như nhân một lần trao đổi riêng tư với một sĩ quan cảnh sát Los Angeles với khả năng  hiểu biết đương thời về các hồ sơ tình báo đó.

5431  Tuy nhiên, ngay cả các tài liệu về nghe lén điện đàm quốc nội từng khởi đầu với lệnh của Chưởng lý Liên bang Ramsey Clark của L.B.J. sau các vụ bạo loạn năm 1967 tại Detroit mà cuối cùng vẫn không được chấp nhận trong phiên xử Hayden và đồng bọn vì đã làm náo loạn đại hội đảng Dân chủ tại Chicago vào năm 1968, bởi vì các tòa đã nhận thấy là nội dung các cuộn băng thu đó, dù là bất hợp pháp, thì vẫn “không hề dính líu” gì tới vụ bạo loạn hay các vụ cải lệnh tòa.  Do đó, các tòa đã phán quyết, trừ ra đối với Bobbie Seale, là không đáp ứng định nghĩa “tài liệu hay chứng tỏ ~ material or relevant” và là chính phủ đã không hề “che dấu đặc tính của các tài liệu thu băng”.

5432  Hayden có nhận được 7.000 trong số 18.000 trang của hồ sơ FBI của y chiếu theo các nguồn tin vào ngày 4 tháng 11 năm 1977.

5433  Ellsberg et al v. Mitchell et al, vụ Hộ số No. 72-1879, U.S.C.A., D.C., 10 tháng 5 năm 1983 và U.S.D.C., D.C. 670 F. Supp. 1, 20 tháng 6 năm 1984.

5434  Ellsberg …, Tòa Phúc Thẫm U.S. District  Court  of  Appeals,  D.C., 1983.

5435  Phán quyết đồng thuận và tương phản của Thẫm phán Circuit Judge MacKinnon trong vụ Daniel Ellsberg, et. al. v. John N. Mitchell, No. 82-1085,  U.S. Court  of  Appeals, 10 tháng 5 năm 1983.

5436  Dellinger et v. Mitchell et al, Vụ Hộ số No. 1768-69, U.S.D.C., D.C.; và NY Times, 18 tháng 6 năm 1969, trang 24. Bobbie Seale và Jerry Rubin đều đã được loại bỏ ra khỏi vụ án và rất có thể đã không bị thu băng nhân lần nghe lén vì lý do an ninh quốc gia nào cả.

5437  UPI, 15 tháng 3 năm 1969.

5438  Daniel Ellsberg, et.al. v. John N. Mitchell, et. al., Vụ Hộ số No. 82-1085 (kháng cáo từ tòa U.S.D.C., D.C. Vụ Hộ số 72-1879), U.S.C.A., D.C., trang 8, 9, 19.

5439  Hayden v. Department of Justice et al, Vụ Hộ số 76-288; Hayden v. Central Intelligence Agency, Vụ Hộ số 76-284; Hayden v. NSA, Vụ Hộ số 76-286; và vụ Hayden v. the Department of Defense được nêu ra trong các báo.

5440  Bản Mục Lục Vaughn là danh sách liệt kê của từng và mổi tài liệu có đặc tính về nội dung của nguồn tin chứa đựng trong đó, một biện dẫn chi tiết về việc khước từ cho công bố từng tài liệu, và một biện dẫn về một ngoại lệ đặc biệt trong việc công khai hóa tài liệu. Thêm nữa, các tòa án thì cuối cùng cũng đã có nhận được các bản nhật ký, các trích lục và các băng thu các cuộc điện đàm đó.

5441  Trong số 18.000 trang thuộc 114 bộ tài liệu thì Hayden đã từng nhận được chỉ 140 trong số 900 trang được giải quyết trong tháng 11 năm 1075. Thẫm phán Quận William J. Bryant đã ra án lện khẩn cấp vào ngày 21 tháng 5 năm 1976 nhưng tới ngày 13 tháng 5 năm 1980 thì chiếu theo hồ sơ được công bố, FBI đã thuyết phục được các thẫm phán cho phép họ có thể giữ lại đa số (11.000 trong số 18.000 trang, tức là độ 61 %) của các hồ sơ mật mà không công bố, Tang vật ‘D’, từng được mô tả như là hai thùng bằng cạt-tông niêm kín cất giữ trong một cái hầm. Đọc: Hayden v. DOJ et al, Vụ Hộ số 76-0288. Thêm nữa, thỉnh cầu của Hayden để xin được bồi hoàn lệ phí luật sư đã bị tòa bác bỏ, điều mà chắc chắn y đã phải được chuẩn chấp bởi tòa nếu mà y khả dĩ  đã “chứng minh được đầy đủ” trong đơn thỉnh cầu.

5442  Trong số 117 tài liệu của CIA thì y có nhận được toàn bộ 3 hồ sơ và 23 hồ sơ thì chỉ phần nào thôi. Đọc: Memorandum and Order of District Court Judge Louis (?), A. Flannery ngày 27 tháng 9 năm 1977 trong vụ Hayden v. CIA et al, Vụ Hộ số 76-284, cộng thêm án lệnh ‘slip order’ ngày 15 tháng 4 năm 1977.

5443  Nếu công bố vài hồ sơ về chận nghe lén điện đàm thì có thể sẽ tiết lộ ra các phương pháp kỷ thuật từng được sử dụng để thu băng và / hay giải mã các cuộc điện đàm của những điện thoại hay những liên lạc thông tin tại những địa điểm đặc biệt đó. Tương tự vậy, việc thông tin chỉ dành cho một hay vài đương sự tại một địa điểm ở ngoại quốc sẽ có khả năng tiết lộ tên tuổi của các điệp viên, mà một số rất có thể vẫn còn hiện diện tại đó và / hay đang nắm giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyến ở đó. Tuy nhiên, với thời gian đã qua đi và với việc cuộc Chiến Tranh Lạnh đã chấm dứt, các hành vi nhằm bảo vệ những nguồn tin và phương cách tình báo đã không còn thích hợp và cần phải được cân nhắc để đối chiếu với tiêu chuẩn quyền và nhu cầu của công chúng để được biết sự thật về lịch sử của đất nước mình.

5444  Heritage Foundation, Mandate for Leadership.  Đọc thêm: Washington Post, 30 tháng 4 năm 1981, trang 1.

5445  George Cornell, San Diego Union,  9 tháng 2 năm 1981.

5446  Tiết mục Evans và Novak, Sacramento Union, 16 tháng 4 năm 1993.

*****

 

 

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #187”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #187 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: