Roger Canfield’s Americong #174

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 174

Giải Phóng: Cambodia và Hoa-Kỳ

 

Weathermen cùng VVAW

Trong khi đó, vào ngày 19 tháng 9 năm 1973, FBI đã bắt giữ thành viên WUO tên là Howard Norton Machtinger ở New York. Sau khi được tại ngoại hầu tra, cái tên làm cách mạng non trẻ này bèn bỏ trốn chìm đi mất. Ngày 28 tháng 9 năm 1973, Tổ chức chìm Weather Underground đặt bom nổ trụ sở châu Mỹ La-tinh của ITT để trả đũa vụ đảo chính do Mỹ hậu thuẫn nhằm lật đổ “chính phủ xã hội Chí-lợi” của Salvador Allende. Allende đã từng có những mối quan hệ rộng rãi với khối Xô Viết và tình báo Cuba. Quân đội Chí-lợi mà lâu nay vẫn có truyền thống lâu đời nhất  về tôn trọng chính quyền dân sự ở toàn châu Mỹ La tinh, 5017 đã phải miễn cưỡng tiến hành một cuộc đảo chính để bảo vệ đất nước khỏi một mối đe dọa của cộng sản. Lịch sử của chủ nghĩa cộng sản thì đã rất là rõ ràng. Lần bầu cử tự do nào mà đưa bọn Cộng sản lên cầm quyền thì cũng sẽ là lần cuối cùng bầu cử quả thật được tụ do mà thôi. 5018

Đi  ‘Tham Quan’ Các Vùng Bị Giải Phóng Tại Nam Việt

Vào ngày 15 tháng 9 năm 1973, Fidel Castro cũng đã đến thăm Khe Sanh ở Quảng Trị trong khu được ‘giải phóng’ ở miền Nam Việt Nam. 5019 Sau vụ Moscow, trong tháng 11 năm 1973 thì Cora Weiss, Don Luce và giáo sư Sam Noumoff cũng sẽ tới thăm mụ Bình trong khu vực “giải phóng” miền Nam Việt Nam hầu  “trò chuyện thân mật”. 5020  Dạo trong năm 1973, Karen Nussbaum  và sáu thành viên khác của IPC cũng đã đến thăm Hà Nội. 5021 Ngày 2 tháng chạp năm 1973, Lý Văn Sáu của MTGPMN đã gởi văn thơ đánh giá cao các lực lượng tiến bộ, “Chúng tôi là một dân tộc biết rất rõ giá trị của tình đoàn kết. … Nhờ hành động của quý bạn trên toàn thế giới như là tiếp viện máu, dụng cụ y tế, vài lần lên tiếng đề cao tình đoàn kết, thì đó đã quả là quý giá hơn là tất cả vàng trên thế giới”. 5022

Các Vụ Tàn sát Man Dại của Bọn Khmer Krahom Trong Năm 1973

Trong khi đó, tại Campuchia thì trong tháng 3, tháng 4 và tháng 5 năm 1973, bọn Khmer Krahom (Đỏ) đã phát động một cuộc tấn công cuối cực kỳ tàn nhẫn nhằm đánh chiếm gần hết ba tỉnh biên giới cực nam giữa Campuchia với Nam Việt Nam.

Thi hành theo lịnh của đảng CS Khmer, nhiều vùng trong các tỉnh Kampot, Takeo và Kandel đã bị bọn Krahom Khmer đốt sạch nhà cữa, buộc sơ tán cả 15.000 dân, thanh trừng giết hết tất cả những ai từng thuộc các lực lượng Sihanouk mà nguyên trước đây đã từng là đồng minh của chúng, tìm bắt để xử tử các trưởng thôn trưởng làng và mở rộng chiến dịch cưỡng bức cộng sản hóa, khởi đầu vào khoảng giữa năm 1970 tại các vùng thuộc tỉnh Kampot.

Tường Trình Quinn Về Các Hành Vi Dã Man Của Bọn Khmer Krahom

Theo tường trình Ken Quinn của Bộ Ngoại giao thì khi ráng bắt chước theo Lê-nin, Sì-ta-lin và cuộc Cách mạng Văn hóa Hồng Vệ binh của Mao Trạch Đông,  bọn Krahom Khmer đã phát triển và thực hiện những chương trình độc tài toàn trị nhằm thay đổi hoàn toàn các định chế gia đình, văn hóa, kinh tế, tôn giáo và chính trị Khmer.

Trong các khu vực dưới quyền kiểm soát của chúng, bọn Khmer Krahom đã:

• Thành lập các hiệp hội liên-gia và các hiệp hội thanh niên để thay thế hệ thống gia đình hầu lấy những quyết định khi cần;

• Gửi trẻ em đến các khóa học tập từ hai đến ba tuần để dạy chúng phải thù mọi tôn giáo và cả luôn uy quyền của cha mẹ chúng mà thay vào đó, chỉ yêu nhà nước và đảng mà thôi;

• Bắt buộc phải có giấy thông hành cùng giấy phép mổi lần phải đi ra khỏi huyện;

• Tổ chức các buổi học tập tuyên truyền về đêm để nhồi sọ về học thuyết Cộng sản, chiến tranh nhân dân và sản xuất nông nghiệp;

• Cải tạo tư sản và số dân còn chống đối bằng lao động, giam cầm và khủng bố để xóa bỏ thực tế về giai cấp trong xã hội;

• Tịch thu tài sản tư nhân, tập thể hóa việc sản xuất và phân phối; và

• Cưởng bách định cư các dân làng.

Các chính sách này đã hoàn toàn không dựa trên nền văn hóa Khmer truyền thống, nhưng chỉ đã nhằm thực hiện một cách cực kỳ tàn nhẫn các học thuyết cộng sản được nhập vào từ của ngoại quốc là Liên Xô và Trung cộng.

Việc tấn công của cộng sản thẳng vào định chế gia đình đã được lấy cảm hứng từ chuyện của một đứa nhỏ tám tuổi tên Pavlik Morozov tại Liên Xô mà đã được đánh bóng thành một anh hùng vì nhờ đã từng có tuyên bố cha mẹ mình đều là “kẻ thù của nhân dân”, một ý tưởng hoàn toàn quá ư là xa lạ bị nhập từ một nước ngoài vô Campuchia hay cả luôn cho Việt Nam trong mục tiêu này.

Để bắt buộc người dân phải tuân thủ và chấp nhận chính sách tận hũy hệ thống  gia đình, đức tin và văn hóa thì một chính sách khủng bố cực kỳ tàn nhẫn và liên tục đã được thực thi. Theo báo cáo của Quinn, “Chính sách khắc nghiệt lan tràn khắp mọi nơi … [trong] mọi tỉnh. Các bản án tử hình đều tương đối khá phổ biến. … Thường thì người đó đã bị còng tay dẫn đi và chỉ đơn giản là không bao giờ xuất hiện lại nữa”. Cái chết chỉ trong đường tơ kẻ tóc. “Bất cứ ai mà bỏ chạy khỏi các khu do Khmer Krahom kiểm soát, thậm chí dù chỉ đề tạm tránh đụng độ nặng đang xẩy ra, thì đều đã bị bắn ngay tại chỗ”.

Chính sách khủng bố quả rất là hiệu quả. Nổi kinh hoàng sẽ bị bắt và bị xử tử đã rất kinh khủng … ngay cả chính tại nhà của mình, vì tai sách mạch rừng. “Đã không còn gì phải nghi ngờ là bọn Khmer Krahom đã xem cuộc đấu tranh hiện nay như là một chiến tranh nhân dân toàn diện của mà mọi công dân đều phải tham dự”.  5023

Các tin tức thì lại rất là thưa thớt. Ngày 5 tháng 10 năm 1973, báo Washington Star thì đã chỉ có bản tường thuật là bom thả đã giết chết chín người gần phi trường Ponchentong ở Nam Vang. Còn ngày 2 tháng 11 năm 1973 thì tờ New York Times chỉ đăng lại một tin ngắn của UPI, “Phiến quân Campuchia đã tấn công  làng ‘Các Thương Phế binh” và báo cáo là đã có 6 tử vong. 5024 Ngoài ra thì cũng không có gì khác cả.

Tình Đoàn Kết của Bọn VVAW Với Đám Khmer Krahom Đỏ

Do đó, vào ngày 8 và 9 tháng chạp năm 1973, các thành viên VVAW Barry Romo và Peter Zastrow đã tới tham dự một Hội nghị Đoàn kết với Nhân dân Campuchia. Bọn Campuchia Khmer Krahom Đỏ trước đó đã từng gây kinh ngạc cho đám đại biểu VVAW tại hội nghị WPC ở Moscow. Romo đã trung thành báo cáo lại cái chương trình nghị sự của bọn cộng sản Campuchia. Khmer Krahom đã đòi hỏi Mỹ phải ngừng bỏ bom Campuchia và yểm trợ các “con rối” của chế độ Lon Nol. Chúng có chịu nhìn nhận cái Chính phủ Hoàng gia Đoàn Kết Quốc gia của Hoàng tử Norodom Sihanouk mà nay chỉ là đầy tớ của chúng. “Với mùa mưa sắp kết thúc ở Campuchia, các lực lượng giải phóng sẽ lên đường và sẽ cần tất cả những hỗ trợ có thể có được”.

Hai tên đại biểu của VVAW tại hội nghị Paris là Romo và Zastrow đã cùng tuyên bố sẽ “tiếp tục sự hỗ trợ của chúng tôi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Campuchia” nhằm chống lại cuộc không kích của Mỹ và bù nhìn Lon Nol. 5025 Và rồi bọn Khmer Đỏ bèn đưa ra một tuyên bố lạnh mình: “Chúng sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì khác hơn là một chiến thắng toàn diện”.  5026  Quả thật là một sự mỉa mai đắng cay khi Saloth Sar, Pol Pot, tên lãnh đạo khát máu của Khmer Krahom lại đã là thuộc viên của Việt cộng và Trung Cộng và từng đã được đào tạo tại Ba-lê. Tên Sar đã là một ‘fan’ ái mộ chủ nghĩa xã hội không tưởng và đã học hỏi để áp dụng về sau này qua mộtr tiến trình chỉ đọc sơ qua Lê-nin, Sì-ta-lin và Mao trong các quán cà phê tại Ba-lê.

Cộng Sản Bừa Bãi Mưa Pháo và Đạn Cối Xuống Đoàn Dân Campuchia Đang Chạy Trốn

Trong khi đó, tại Campuchia thì quân Bắc cộng và Khmer Đỏ vẫn đang mưa pháo và cối xuống  người dân thường tại Nam Vang, Campuchia khi họ cố chạy trốn về nơi an toàn hay đang chen chúc trong các hầm tránh bom, cạnh rạch ven đường hay sau các bao cát.

Trong khi hãng thông tấn Agence France Presse báo cáo có 100 người chết và 300 người bị thương trong vòng bốn ngày thì Elizabeth Becker đã cho độc giả báo Washington Post biết, “Ta chỉ còn có thể đoán được là rất nhiều người đã bị thương hay nằm chết mà không ai biết được trong các hầm trú ẩn hay trên bờ mương”.  Becker đã lưu ý, “Nam Vang nay phải trải qua cảnh chiến tranh mà vô số các làng mạc đã từng phải gánh chịu trong ba năm qua”. Một phụ nữ vô danh người Âu thì lại cho biết,” Một quả cối đã rớt nổ ngay trước mặt tôi”. Và “Xác người văng tung tóe khắp trời và tôi bèn bỏ chạy về nhà và uống một ly rượu ‘scotch’”. 5027

Người phụ nữ này chỉ trong một vài ngày sau rồi sẽ ra đi và như vậy, lại mất đi một nhân chứng sống của một cuộc chiến bí mật ở cái đất nước Campuchia xa xôi mà còn cực kỳ tàn ác hơn nhiều nếu so với những vụ bêu xấu Mỹ “bí mật” bỏ bom bị đăng hàng ngày trên tờ New York Times.

Bọn Đồng Minh Của Hà-nội Ở Ngoại Quốc Ngày Càng Nhiều

Trong buổi họp toàn quốc của Ban chỉ đạo VVAW trong tháng chạp năm 1973, bọn lãnh tụ đã tự phong chúng là thuộc “một tổ chức quần chúng chống chủ nghĩa đế quốc và là đội tiền phong của cuộc cách mạng mà cuối cùng sẽ do nhân dân tiến hành”.  Một năm sau thì bọn VVAW đã liên kết với Revolutionary Union (Liên minh Cách mạng) của Bob Avakian để cùng nhau cam kết thực hiện một cuộc cách mạng đầy bạo lực tại Hoa Kỳ. 5028

Trong tháng chạp năm 1973, tay giáo sư Gabriel Kolko đã đến thăm Hà Nội và Sài Gòn để tuyên bố là chế độ Thiệu ở Sài Gòn yếu kém và có thể sẽ xụp đổ như Nga Hoàng  hay Quốc Dân Đảng Trung Hoa trước đây. Hà Nội thì đã không tin lời giáo sư Kolko. 5029

1974 – Bắt Đầu Của Sự Chấm Dứt, CBS Ủng Hộ Kẻ Thù

Đám truyền tin, đặc biệt là CBS Evening News, đã giữ đúng sứ mệnh tuyên truyền thiên Bắc cộng  cùng chủ trương phải ngưng viện trợ của Hoa Kỳ cho Nam Việt. Ernest Lefever của Viện Brookings Institute rất có uy tín đã tố cáo là CBS đã đúng là “vận động … nhưng là dưới chiêu bài chỉ báo cáo trung thực mà thôi”.

Sau khi hoàn thành một cuộc phân tích về nội dung của các cách đưa tin trong các năm 1972 và 1973, Lefever đã phát giác ra là CBS News “từng có 48 bản tin  nhiều hơn nhằm chỉ trích chủ trương Mỹ cùng kêu gọi phải chấm dứt viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam hơn là các bài bình luận muốn Hoa Kỳ đẩy mạnh chiến cuộc chống lại Bắc Việt”.  5030  Vào cuối năm 1974 thì Neil Sheehan đã sẽ nói với một cử tọa tại Army War College (Đại học Chiến tranh) là “Ý tưởng về công bằng và khách quan không hề có thật”. 5031

Đại Sứ Martin Biết Rỏ Mặt Bọn Vận Động Cho Hà-nội

Vào đầu năm 1974, Đại sứ Graham Martin đã rời Sài Gòn đi Ba-lê để gặp Henry Kissinger và Lê Đức Thọ hầu thảo luận về việc thi hành hòa ước Ba-lê.

Sau này thì Graham có cho các người khác biết là mình đã có biết trước:

“Phó Trưởng Đoàn MTGPMN … đã … lớn tiếng mắng chưởi đám chủ hòa Mỹ tới gặp y … và đã chê là phong trào chủ hòa ở Hoa Kỳ đang tan rã … đang bị trì trệ không thi hành được chính sách tuyên truyền tại Quốc hội … cho chu kỳ sắp tới đây”.

Đại sứ Martin cho biết là vào ngày 31 tháng 10 năm 1973, Hà Nội đã gửi đi danh sách tù chính trị, các mẫu thơ và một tài liệu hướng dẫn cách vận động hành lang tại Quốc hội. Theo Martin thì Dân biểu Ron Dellums đã có chính thức đưa tài liệu này vào Hồ sơ Quốc hội ( Congressional Record) . 5032 Vấn đề tù chính trị của Sài Gòn đã vẫn là một chủ đề chính cần được để Quốc hội thảo luận.

Nhóm Chủ Hòa Đã “Vô Tư” Điều Tra Các Nhà Tù Nam Việt

Ngày 4 tháng giêng năm 1974, Dân Biểu Robert N.C. Nix, Chủ tịch Ủy ban Giao Tế châu Á và Thái Bình Dương Hạ viện đã có gởi văn thơ cho đại sứ Graham Martin và Bộ Trưởng Nội vụ Lê Công Chất để yêu cầu cho một nhóm các “công dân ưu tú Mỹ” được giúp đở “mà không bị trở ngại” trong việc tiến hành một “cuộc điều tra khách quan” về hoàn cảnh trong các nhà tù ở Nam Việt Nam.

Thành phần nhóm đã là Areh Neier, ACLU; William Webber, New York Theological Seminary; Robert Chenoweth, một cựu thành viên của “Peace Committee ~ Ủy ban Hòa bình” thuộc tổ chức Cựu tù binh POW  và cũng là phát ngôn viên của IPC; Deborah Wylie, American Report, thuộc Clergy and Laity Concerned; John Boone, Đại học Boston; Ying Kelly, hội viên Hội đồng thành phố Berkeley và East Bay Women for Peace (Phụ nữ East Bay vì Hòa bình); và Robert Ransom, IBM, Gold Star Father.

Ngay cả trước khi bức thơ của Nix kịp đến Sài Gòn thì nhóm này, chỉ thiếu Neier và Chenoweth, đã tự quyên được 7 tới 8.000 đô, và sau khi nhận được sổ thong hành thì bèn bay đi ngay Nam Việt Nam. Ròng rã trong suốt tám ngày, họ đã được tự do đi lại đúng theo ý muốn và cũng đã tiếp xúc được với bất kỳ ai họ muốn mà “không hề bị làm khó dể”.  Họ cũng chả cần gặp viên chức Nam Việt nào cả và chỉ ghé gặp Đại sứ Graham Martin vào ngày 16 tháng giêng năm 1974, vài ngày trước khi lại ra đi.

Vào ngày 18 tháng 2 năm 1974, Đại sứ Martin đã viết cho Dân biểu Nix, “Các mục tiêu của nhóm này thực sự không phù hợp với những gì họ đã trình bày với ông khi họ đến tiếp xúc để tìm sự hậu thuẩn của ông. Họ đã nói láo với tôi và cà ÔNG luôn”.

Không những Martin đã bác bỏ tuyên truyền của Hà Nội về tù chính trị, mà còn gần như còn đổ dầu thêm vô lữa. Martin đã cung cấp cho tay thần học William  Webber các địa chỉ và số điện thoại của các phái bộ của Hà Nội và MTGPMN ở Sài Gòn. Viên Đại sứ còn đề nghị Webber và đồng bọn hãy giúp đem lại dùm hòa bình bằng cách đòi hỏi bọn cộng sản phải thi hành hai việc. Một là ngưng trì hoãn việc trao đổi tù dân sự chỉ vì mục đích tuyên truyền mà thôi. Hai là “chấm dứt hành động pháo kích bừa bãi bằng sung cối, (pháo binh) và hỏa tiễn cũng như là chôn mìn mà đều chỉ là giết và gây thương tật cho trẻ em và thường dân vô tội mà thôi”.

John Boone sau đó đã có gọi lại cho biết các số điện thoại đều sai. Thật ra thì các số đều đúng nhưng chương trình thật sự của nhóm đã không phải là đi tìm hòa bình. Martin đã từng nhiều lần nhận xét là một số nhóm hòa bình đã “nồng nhiệt hoạt động cho một chiến thắng toàn diện của Hà Nội [cho] đến mức độ mà chúng sẽ sẳn sàng để bóp méo sự thật một cách sống sượng và cố tình đánh lừa người dân Mỹ ….”. Cái nhóm kỳ này thì cũng không có gì khác hơn đâu.

Đại sứ Martin và nhân viên toà Đại sứ quả đã lãng phí thời giờ của họ mà thôi.

Chiều ngày 18 tháng 2 năm 1974 thì nhóm này bèn mời báo chí Sài Gòn tới dự họp báo tại khách sạn Continental. Chúng đã tường trình những “phát hiện” của chúng trong một bản tuyên bố, “Chúng tôi cực kỳ bối rối khi khám phá ra là … Hoa Kỳ đang cung cấp vũ khí để tiếp hành chiến tranh và còn đang tài trợ cho chính sách đàn áp”.  Martin đã có giải thích là Nam Việt Nam chỉ đang phải bảo vệ người dân của mình trước hiểm họa gây ra từ súng cối, pháo binh và mìn bẩy của Bắc cộng trong khi vẫn tuân thủ đầy đủ mọi quy định của hòa ước là một đổi một về vũ khí cũng như là đạn dược. 5033

“Chúng tôi cực kỳ bối rối … [về] một chế độ độc tài quân phiệt tàn nhẫn mà dường như đã quyết định mọi lĩnh vực trong đời sống và không để yên bất kỳ công dân nào cả”.  Vị Đại sứ có cho nhóm này biết là người dân Nam Việt Nam kinh sợ chính sách ám sát và giết hại phụ nữ và trẻ em của Cộng sản bằng súng cối, hỏa tiễn, pháo và mìn bẫy. Người dân miền Nam Việt Nam có được cái tự do mà ngoài Bắc cũng không thể nào tưởng tượng ra được. Tóan này đã được tự do di chuyển khắp mọi nơi và đã phỏng vấn mọi người bất đồng chính kiến ​​mà không hề bị ngăn cấm.

Chúng ta có thể nhớ lại được là vào tháng 9 năm 1970, Daniel Sutherland có viết trên tờ Christian Science Monitor, “theo luật báo chí mới ban hành, miền Nam Việt Nam đã có một trong những hệ thống đưa tin tự do nhất ở Đông Nam Á và cái tờ nhật báo có số in lớn nhất ở đây thì lại chuyên chỉ trích nặng nề Tổng Thống Thiệu. … Chính phủ đã không thể đóng cửa báo Tin Sáng hay bất kỳ tờ nào khác trong số 30 tờ hiện đang được xuất bản ở Sài Gòn”. 5034

“Chúng tôi rất là ngỡ ngàng về cách hệ thống pháp lý đang được điều hành” với những vụ giam cầm lê thê mà không xét xử, về chính sách tra tấn và trại tập trung”. Vị Đại sứ đã có chất vấn thách đố nhóm này về  cái “nhận xét tóm tắt” của mụ Ying Kelly trong phong trào Women for Peace mà mụ y thị giám đốc đã là cái mụ theo chủ nghĩa Mác xít Edith Laub, từng phủ đầu viết sẳn lời cáo buộc Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về việc “bắt giữ, tra tấn và giam giữ lâu dài” tù chính trị chỉ vì lý do họ đã lở có quan điểm chính trị độc lập với Chính phủ.

Các nạn nhân trong thảm sát tại Huế của Hà Nội đều đã bị giết chỉ vì quan điểm chính trị của họ. Vị Đại sứ cho rằng sau khi đã tính toán rất cẩn thận thì trong tổng dân số 19 triệu người thì đã chỉ có tổng cộng là 35.000 tù nhân thuộc mọi tội phạm, chớ không hề là cái con số 200.000 mà Hà Nội đã từng sử dụng suốt mười năm qua và cũng là con số mà cái tay linh mục Chân Tín bây giờ mới nêu ra. Để chứng minh, vị Đại sứ đã đòi hỏi hãy đưa cho ông danh sách đúng thật của chỉ những tù chính trị mà thôi.

Hà Nội bèn cung cấp cái danh sách gồm những tên tuổi cố ý bỏ dấu sai của “tù  chính trị” mà chắc chắn sẽ không thể nào tìm ra được thấy trong bất kỳ nhà tù nào, và do đó, sau này sẽ có thể cáo buộc là Sài Gòn đã cố tình dấu họ. Ba người mới nhất được nêu tên thì thực sự quả đã bị kết tội, nhưng không phải là về tội chính trị mà là vì tội cố sát. Martin cũng nhắc nhở các phóng viên Mỹ là sự kiện bị giam giữ mà không được tại ngoại cũng đã rất là phổ biến ở Pháp và mọi quốc gia nào áp dụng luật pháp có gốc là bộ luật hình Nã-phá-luân.

“Chúng tôi kêu gọi Quốc hội hãy chấm dứt tài trợ cái chính quyền quân sự đàn áp này.”

Khi được hỏi liệu các phóng viên đang hiện diện tại cuộc họp báo có đồng ý với các phát giác của họ hay không, thậm chí bỏ qua luôn các lập luận của đại sứ Martin, thì chỉ có một sự im lặng đáp lại cho cái kiểu tuyên truyền về những “khám phá” của họ. Một quan sát viên đã có nhận xét, “Quả thật là đáng buồn”.  Chỉ có tờ New York Times sau đó mới có tường trình sự việc, nhưng chỉ như là một loại tin không quan trọng thôi.

Đại sứ Martin đã cho biết “Hà Nội đã rất thành công trong việc tạo ra được một bộ máy tuyên truyền” rất ư là hiệu quả mà đã giúp phổ biến khắp nơi lập trường của họ và “họ quả thật là tuyệt hảo về cái kỹ thuật mà chưa hề từng bao giờ đã có được trong lịch sử của loài người”. 5035

Vào ngày 6 tháng 2 năm 1974 thì dân biểu Philip Crane, (Cộng hoà ~ IIIinois) cùng 19 đồng viện khác của Quốc hội, đã gửi một bức thư cho Elmer B. Staats, Comptroller General (Tổng Kiểm Tra Liên Bang) để yêu cầu phải mở một cuộc điều tra về việc liệu IPC, IRC, Medical Aid for Indochina và Indochina Mobile Education Project đã từng có nhận tiền từ ngoại quốc hay đã có được ghi danh như là các tổ chức vận động hành lang hay như là các đại diện cho ngoại quốc. 5036

Bộ Máy Tuyên Truyền Của Hà-nội Đã Hoạt Động Khắp Mọi Nơi – Buffalo, Chicago, Cambridge. San Francisco, Houston, Baltimore.

Trương lên những lá cờ Việt Cộng cao tới cả sáu ‘foot’, vào ngày 25 tháng giêng  năm 1974, bọn VVAW, Young Workers Liberation League, Spartacist League, Attica Brigade cùng Youth Against War and Fascism đã cùng bảo trợ một cuộc biểu tình tại tòa nhà liên bang ở Buffalo, New York. 5037 Ngày 26 tháng giêng  năm 1974 thì VVAW và Revolutionary Union đã có tổ chức một cuộc diễn hành ở Chicago. Cựu tù binh John Young đã lên tiếng ủng hộ việc cần phải ân xá cho các kẻ đào ngũ, 5038 và dĩ nhiên, đám cộng tác viên với địch như y.

Có lẽ vì các “lời mắng mỏ” của Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, Tom Hayden và Jane Fonda bèn bồng bé Trỗi trong tay lên đường suốt cả tháng 2 tại Washington để diển thuyết  tại các địa phương và để vận động hành lang Quốc hội, đặc biệt là về các tù chính trị của Nam Việt. Ngược hẳn với Alexander Solzhenitsyn, Hayden đã cứ khẳng định Nga chỉ đã có 10.000 tù chính trị mà thôi so với con số cả 200.000 của Nam Việt. Fonda thì trích dẫn lời của Debris là “đã tận mắt thấy tra tấn và đánh đập, phụ nữ đang mang thai thì bị nhét con lươn còn sống vào âm hộ, trẻ sơ sinh cùng phụ nữ đều bị lạm dụng tình dục, mọi người thì bị rút móng tay, bị bỏ đói khát”. 5039

Vào tháng 3, Dân Biểu Ron Dellums (Dân chủ – California), với sự chấp thuận của Dân biểu Charles C. Diggs (Dân chủ  – Michugan), Chủ tịch Ủy ban Hạ viện Quận Columbia, đã cho phép Hayden và Fonda sử dụng phòng 1310 của tòa nhà Longworth House Office Building. Dân biểu Edward F. Hebert (Dân chủ – Los Angeles), Chủ tịch Ủy ban Quân Lực chắc chắn sẽ đã từ chối loại yêu cầu này. Đi sử dụng một tiện nghi do người dân Mỹ đóng thuế đài thọ mà Hayden và Fonda lại giảng dạy cho 60 nhân viên Hạ viện về “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” trong sáu cuộc họp kéo dài hơn ba tuần lể. Fonda đã tường trình về chuyến đi Bắc Việt của y thị trong tháng 7, đã trình chiếu một bộ phim dài 25 phút của Cộng sản sản xuất về đề tài thiệt hại chiến tranh cùng nạn nhân của nó, đã báo cáo từng gặp bảy tù binh ủng hộ McGovern hơn là Nixon và cũng lại đề cao vị trí quá ư là tốt đẹp của phụ nữ ở miền Bắc cộng. 5040

Vào ngày 14 tháng 2 năm 1974, phân bộ Cambridge, Anh quốc của VVAW / WSO đã họp để nghe một khách nữ đại diện cho International Caucus of Labor Committees (Đại hội Quốc tế các Ủy ban Lao động). Y thị tuyên bố là Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Trung cộng (Red Chinese), đảng Quốc xã và những người khác đã đang thực hiện một mạng lưới tình báo để thu lượm tin về  tất cả các chiến dịch quân sự cùng các vụ chuyển quân. VVAW bèn ủng hộ y thị bằng cách cam kết sẽ cung cấp tin tình báo. 5041

Vào ngày 6 tháng 3 năm 1974 tại San Francisco, Tổ chức chìm Weather Underground đã đặt bom nổ một văn phòng của Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi. “Lữ đoàn Phụ nữ đòi hỏi phụ nữ phải được quyền quyết định về cách nuôi con, về sức khỏe, về ngừa thai và mọi khía cạnh khác trong cuộc sống hàng ngày của người phụ nữ”.

Đến ngày 2 tháng 4 năm 1974 thì FBI ở Houston có báo cáo là phân bộ VVAW địa phương đã không còn có sinh hoạt. Mọi thành viên VVAW ở đó đều đã gia nhập tổ chức Indochina Peace Campaign của Hayden / Fonda, nhóm Prairie Fire (Lữa Đồng nội) của bọn bất hợp pháp Weather Underground cũng như là  Maoist October League (Liên Minh Mao Tháng Mười). 5042 Tại Baltimore, VVAW đã nắm tay với AFSC và đám Military and Draft Panel để kêu gọi các quân nhân hãy đứng lên chống lại giới chức quân sự và cần phải nghiên cứu các chủ nghĩa của Mao, Lê-nin, Marx và Engels. 5043

*****

5017  Carlos López Urrutia, Chile: A Brief Naval History,

http://www.historicaltextarchive.com/books.php?op=viewbook&bookid=16.

Trước cuộc đảo chánh, tác giả có gợi ý cho Lopez, một đồng nghiệp tại đại học Menlo College là có thề quân đội đã chỉ can thiềp để cứu nền Cộng Hòa Chí-lợi thôi.

5018  Đôi khi một chiến thắng về bầu cử của cộng sản thì chỉ là một ảo tưởng mà thôi. Cộng sản đã chỉ có được 8% tổng số phiếu bầu vào năm 1948 ở Tiệp Khắc. 

5019  Hình và phụ chú tại Viện Bảo tàng Tội ác Chiến tranh tại Sài-gòn, bộ hình của tác giả Viet II, 343-4. “Foreign Visitors to the South Vietnam Liberated Areas this Year”, Hà-nội Báo Tân Việt Hoa, 20 tháng chạp năm 1973, trang 127-128, văn khố TTU Archive được viện dẫn trong sách của Rothrock, Divided… , trang 181 ghi chú 53.

5020  “Foreign visitors to the South Vietnam Liberated Areas this Year”, Hà-nội Báo Tân Việt Hoa, 20 tháng chạp năm 1973, trang 127-128, văn khố TTU Archive được viện dẫn trong sách của Rothrock, Divided… trang 181 ghi chú 52

5021  Karen Nussbaum, phỏng vấn bởi Kathleen Banks Nutter, lưu trử ‘video’, 18  tháng chạp năm 2003, Dự án Voices of Feminism Oral History Project, bộ sưu tầm Sophia Smith Collection, 2004, trang 10-13, 17-18.

5022  “FRIENDSHIPMENT campaign builds: Americans Join Reconstructions Effort”, US/Indochina Report, Bộ I, Số I, Ủy ban Friends of Indochina Organizing Committee và Trung Tâm Indochina Resource Center, 5 tháng chạp năm 1975, trang 4.

5023  Báo cáo Quinn Report, Tòa Lãnh Sự Mỹ tại Cẩn Thơ [Ken Quinn], A-008, Bộ Ngoại Giao, hồ sơ P740017-0522-0573, The Khmer Krahom Program to Create a Communist Society in Southern Cambodia, hồ sơ Airgram, 20 tháng 2 năm 1974, trang 5-22.

5024  “Cambodian Bomb Kills 9”, Washington Star, 5 tháng 10 năm 1973; UPI, “Cambodian Rebels Attack ‘Disabled Veterans’ Hamlet”, New YorkTimes, 2 tháng 11 năm 1973.

5025  “Two VVAW/WSO Members Attend Conference on Cambodia”, Văn Phòng Trung Ương, Tin Thơ Newsletter #16, tháng chạp năm 1973, trang 3.

5026  VVAW, Văn phòng Trung Ương, Thư Tin # 14, Tháng 11 Năm1973, trang 12-13.

5027  Elizabeth Becker, “The Agony of Phnom Penh… On Edge As Insurgents Escalate Artillery Fire”,  Washington Post,  28 tháng giêng năm 1974, trang A-1.

5028  FBI, San Francisco, SF 100-71012, VVAW/WSO, “Santa Cruz Chapter Meetings”, phân đoạn không ghi ngày tháng, trang 20. 

5029  Gabriel Kolko, Vietnam; Anatomy of a Peace, London: Routledge, 1997, trang 16.

5030  Ernest W. Lefever, TV and National Defense: An Analysis of CBS News, 1972-1973, Boston, Va: Institute for American Strategy Press, 1974, trang 30-1, 110, 128, 143 được nêu trong sách của Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 159.

5031  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 427 ghi chú 8.

5032  Political Prisoners in South Vietnam and the Philippines, Các Phiên Điều trần, Tiểu ban Subcommittee on Asian and Pacific Affairs thuộc Ủy ban Committee on Foreign Affairs, 1 tháng 5 và 5 tháng 6 năm 1974, trang 108.

5033  Chương 4, Điều 7.

5034  Daniel Sutherland, “Free-swinging press keeps Saigon ducking”, Christian Science Monitor, 18  tháng 9 năm 1970;  Robert Turner tuyên bố với Bill Laurie và nhiều người khác, 31 tháng 5 năm 2009. 

5035  “Political Prisoners in South Vietnam and the Philippines”, Các Phiên Điều trần về tù chính trị trại Nam Việt và Phi-luật-tân, tiểu ban Subcommittee on Asian and Pacific Affairs thuộc Ủy ban Committee on Foreign Affairs, 1 tháng 5 và 5 tháng 6 năm 1974, trang 90-1, 93-4, 97-8, 101, 104, 106-8, 111.

5036  Crane nói với Staats, 6 tháng 2 năm 1974.

5037  FBI, Buffalo gởi cho Giám đốc, VVAW/WSO,  25 tháng giêng năm 1974.

5038  FBI, Chicago gởi cho Giám đốc, VVAW/WSO, IS (100-50722) Revolutionary Union IS (100-53269), TELETYPE, 05:35PM, NITEL, 22 tháng giêng năm 1974.

5039  Anne Groer, “Fonda, Hayden  on ‘New War”,  Sentinel (Montgomery County),  31  tháng giêng năm 1974. 

5040  Ted Sell, “Anti-American Tirade in Rent-Free Gov’t Room”,  The National Tattler,  21 tháng 4 năm 1974.

5041  FBI, một đoạn trong RUEBGFA1018, trang 5.

5042  FBI, Houston, VVAW/WSO, An ninh Quốc nội, 2 tháng 4 năm 1974.

5043  FBI, một đoạn trong “Rally against the Veterans Administration”, bảo trợ bởi VVAW/WSO, Maryland và Washington, D.C. . Các phân bộ tại Hopkins Plaza, Baltimore, 18 tháng 5 năm 1974.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #174”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #174 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: