Roger Canfield’s Americong #53

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

***************

 

Chương 53

Chính Sách VC: Tàn Ác Sau Tết Mậu Thân

 

Một chỉ thị của chính ủy tỉnh Gia Lai vào ngày 5 tháng 10 năm 1968 đã ra lệnh cho cán bộ Việt Cộng phải lo mở đường cho quân chính quy Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt, “dẹp sạch mọi thành phần không cần thiết … nơi các bộ đội sẽ dừng chân … và trong … các hành lang tiến bước của bộ đội. ”  2635

Trong vùng chúng kiểm soát, nhân một chiến dịch tuyên truyền trong “hòn đảo Việt Cộng”, tỉnh Bến Tre từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, VC đã ra lệnh cho cán bộ “làm sao khiến nhân dân càng căm hận sâu xa các tội ác man rợ của kẻ thù và khích động họ trả thù cho đồng bào và thân nhân của họ” và “phải anh dũng tiêu diệt kẻ thù … ” 2636

Vẫn có thêm một kế hoạch khác kêu gọi cán bộ “bồi đắp lòng hận thù cực kỳ  [của nhân dân] đối với kẻ địch, [và] mạnh mẽ cùng liên tục tố cáo những tội ác man rợ và tàn bạo gây ra bởi Mỹ và tay sai ….” 2637

Một số chiến dịch thúc đẩy thù hân đã nhắm vào “các thành phần phản cách mạng”:

Trong khi vận động nhân dân … chúng ta phải tuyên truyền sao cho họ có thể  thấy tính cách gian dối mị dân của địch, của các chương trình bình định và của các công chức, cán bộ bình định và cán bộ “khát vọng của người dân ~ people’s aspiration(?)” [VNCH] . . . tất cả đều chỉ  là những tên phản bội, tay sai của đế quốc Mỹ.

Chúng ru ngủ người dân với những lời êm dịu trong khi cố gắng đánh lừa và khai thác họ. Chủ đề [của] công tác tuyên truyền hàng ngày của chúng ta phải dựa trên những ví dụ vững vàng như bê-tông cốt sắt về các tội ác của địch”. 2638

Các tội ác của kẻ thù khi bị phát hiện phải đúng chính xác là “vô nhân đạo” và  “loại tội ác man rợ.” Chúng phải rỏ ràng là “… loại hành vi tàn phá bừa bãi nhà cửa và tài sản cũng như “hiếp dâm”,”cố sát” với “tra tấn” (các người)  vô tội. Những tên công chức này là “những tên Việt Nam phản bội” mà đã “kéo dài cuộc sống bổ béo  trên xương máu của chúng ta”. 2639 Loại ngôn ngữ mạnh mẽ này trong các chiến dịch khủng bố và gieo căm thù đã có thể rất là hiệu quả.

Các Chiến Dịch Đẩy Mạnh Căm Thù Của VC Đều Thất Bại

Mark Moyar đã mô tả làm thế nào mà các chiến dịch nhằm đẩy mạnh lòng căm thù của VC dều thật sự đã thất bại.

Khi “dân làng bắt đầu ít hợp tác … thì cái chính phủ ma [VC] thường đã phải [cưởng ép] dân làng đi bộ đội hay thi hành các nghĩa vụ khác mà lại còn trưng thu tiền bạc với hàng hoá mà không cần hỏi han gì cả.” Càng ít hợp tác thì lại càng phải cưởng ép nhiều hơn. “Những nỗ lực để đe dọa, bắt cóc, tra tấn hoặc giết dân làng và các công chức Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa … cứ gia tăng …” Chính sách này của VC đã thất bại. “Phương pháp ít phân biệt khi dùng võ lực đã khiến người dân càng chống lại VC nhiều hơn. Các vụ giết những người theo Chính phủ VNCH và những công chức của Chính phủ VNCH … đã gia tăng rất đáng kể.”

Bọn VC vẫn cứ tiếp tục.

“Ở nông thôn … Cộng sản thường đã cố gắng tràn chiếm và giết các lực lượng địa phương quân, các công chức làng xã cùng gia đình của họ. Chúng muốn cảnh cáo người dân về thái độ triệt để chống Cộng sản và cố loại bỏ các ấp mà đã cung cấp cho Chính phủ VNCH nào là nhân lực, thực phẩm và tin tình báo.”

Cùng  với  Moyar, Thiếu Tướng James Herbert, một cựu cố vấn về bình định, vẫn nhớ tính cách tàn nhẫn của bộ đội VC , “Tôi không thể đếm xuể cho hết con số các đồn nhỏ bé hình tam giác  của Nghĩa Quân từng bị xóa sổ bởi các đơn vị chính quy Cộng sản  … Bọn cộng sản đã giết chết tất cả các binh sĩ cùng gia đình họ. Việc này đã xảy ra trên khắp nước. ” 2640

Đến cuối năm 1969, một báo cáo của Trung Ương Cục Miền Nam đã cho biết, “Kẻ thù … dù sao cũng đã hoàn thành được các nhu cầu cấp bách nhất của chúng, đặc biệt là những gì thuộc chương trình bình định nông thôn của chúng.” 2641

Nhiều tên tay sai khác đã sớm tự nguyện xuất hiện để quỳ dưới chân của các tên đại diện của Hà Nội tại Havana, Paris và Stockholm.

Hội Nghị Stockholm, Ủy Ban Liên Lạc, 11 và 12 Tháng 10 Năm 1969

Irving Sarnoff và Ron Young, đại diện cho New Mobe, đã tham dự Ủy ban Liên lạc của hội nghị Stockholm từ ngày 1 đến 12 tháng 10 năm 1969. Tại đó, Women Strike for Peace  đã tham gia cái ủy ban do Liên Xô kiểm soát và cùng các tổ chức tài trợ tiền phong của Liên Xô trong việc hỗ trợ toàn bộ cuộc tấn công vào mùa thu nhưng đã đặc biệt chú ý đến ngày 15 tháng 11, “để chuẩn bị hợp tác hoàn toàn với các bạn Mỹ của chúng ta,” New Mobe và kêu gọi “rút quân đội Mỹ cùng đồng minh ra khỏi Nam Việt ngay lập tức, một cách toàn diện và vô điều kiện.”

Về sau thì Joshua Muravchik, một phát ngôn viên của Young People’s Socialist League (Liên đoàn Xã hội Thanh niên) đã phản đối New Mobe là “đã quyết tâm tìm kiếm một chiến thắng cho MTGPMN thay vì là hòa bình” và “chúng không hề muốn có hòa bình. Chúng là bọn diều hâu của phía bên kia. ”

Sidney Peck đã nói, “Nếu (việc rút quân) sẽ đưa đến kết quả là một chiến thắng của MTGPMN thì chúng tôi rất hài lòng với kết quả đó.” Còn giáo sư Douglas Dowd thì tuyên bố, “Nếu cần phải lựa bên nào để theo … thì tôi nghĩ rằng hầu hết chúng tôi đều cảm thấy là chúng tôi sẽ thuộc phía bên kia.” 2642

Hội Thảo Về Nạn Diệt Chủng Do Mỹ gây Ra và Chính Sách Tra tấn Của Cu-ba, Havana ~ 18 tới 21 Tháng 10 Năm 1968        

Từ ngày 18 đến 21 tháng 10 năm 1968, Quốc tế Cộng sản và Ủy ban Cu-ba Đoàn kết với Việt Nam đã tụ hợp người dân Cuba cùng Việt cộng và có lẽ một số kẻ khác để tham dự Hội thảo lần hai chống nạn diệt chủng của Yankee Mỹ ở Việt Nam tại Havana.

Giáo sư Miguel A. D’Estafano nói với tờ El Mundo là y đã hoàn thành một chương trình Cuba tại Việt Nam “để thu thập rộng rãi tin tức” về “nạn diệt chủng tại Việt Nam”. Ba tên Cu-ba là Thiếu tá Fernando Vecino Alegret, Luis Perez Jaen cùng Tiến sĩ Miguel Angel Bustamente-O’Leary đã trình chiếu các phim và cho nghe các băng tại buổi Hội thảo. Sau đó thì tới phiên báo cáo của năm Ủy ban. 2643

Số 19 hay 20 tù binh Mỹ tại trại tù Cự Lộc, “The Zoo”, các đối tượng trong những bộ phim và băng đó thì đều biết rỏ bọn Cu-ba từng phỏng vấn họ trong phim như là các tên đã tra tấn các tù binh mà họ đã đặt cho các biệt danh là “Fidel,” Chico ” và “Pancho “.

Tù binh Bị Bọn Cu-ba Đem Ra Tra Tấn Để Thí Nghiệm

Từ tháng 8 năm 1967 đến tháng 8 năm 1968, bọn Cu-ba đã tiến hành với sự chuẩn phê của Hà Nội một chương trình “nghiên cứu y khoa”, một loại thử nghiệm tâm lý về hiệu quả của các kỹ thuật tra tấn khác nhau trên 20 tù binh được chọn ra trong số 50 người ở trại tù Sở Thú.

Những tù binh mà đã biết hay đã đích thân là nạn nhân của sự tra tấn của Cu-ba đã là Ed Atterberry, Đại tá Jack W. Bomar, Bliss Ron, Ron Byrne, Trung tá Hải quân Al Carpenter, James Connell, Đại úy Earl G. Cobeil, Trung úy John Davies, Đại úy Norlan Daughtrey, John Dramesi, Bud Flesher, Larry Guarino,  Trung úy Edward L. Hubbard, Thiếu tá James Kasler, Mike Kerr, Trung úy Earl Lewis, Đại tá Donald “Digger” Odell, Đại úy Glendon Perkins, Charles Rice Wendy Rivers, Peter Schoeffel, Trung tá Hải quân Paul Schulz, Đại úy Ray Vohden và Đại úy Donald Waltman. 2644

Bọn Cu-ba đã tìm cách “bẻ gãy hoàn toàn tinh thần các tù binh đến mức để biểu gì thì phải làm nấy” 2645 rồi bắt họ nhận tội và tuyên bố truyền truyền chống lại cả Chính phủ Mỹ lẫn chiến tranh mà nhân đó có thể sẽ bị họ mô tả như là những tội ác chiến tranh và diệt chủng.

“Một chương trình Anh ngữ mà đã bị thất bại.”

Một số tù nhân đã bị đánh bằng những miếng dài cắt ra từ vỏ cao su bánh xe hơi, bằng dây thừng, bằng dây sắt, bằng nắm tay đến mức trở thành như một bao bột lở loét đẫm máu, nhất là Thiếu tá Kasler và Đại úy Cobeil. Mọi tù binh sau khi  bị đánh đập như vậy đều đã phải đưa ra những lời thú tội về bất cứ điều gì mà tên Fidel đòi hỏi, những xác nhận hay mọi hình thức khác của một kẻ đã bị khuất phục.

Một tù binh, Earl Cobeil, mà bộ não chắc đã bị tổn thương, đã không còn cảm giác đau đớn và tên Fidel đã nghỉ là Cobeil “làm bộ” khùng. Do đó, Fidel và đồng bọn đã liên tục cố gắng hạ ngã ông về tâm lý một cách vô ý thức và rốt cuộc đã giết chết ông – cùng một số phận với Ed Atterberry, kẻ đã mưu toan vượt ngục.

Các viên chức Ngũ Giác Đài là Robert Destatte, Chuck Towbridge và Bob Jones đã cố hạ giảm tầm quan trọng của cái Chương trình này của Cuba. Tới năm 1976, Tướng Fernando Vecino Alegret đã trở thành một thành viên của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản và đã là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Cu-ba. Robert Destatte từng mô tả chương trình Cuba là “một chương trình Anh ngữ mà đã bị thất bại.”  2646

Có lẻ đã có những người còn ngu hơn cả Robert Destatte.

CALC Gặp Việt Cộng Và Các Quân Nhân Đào Ngũ Mỹ

Ba-lê và Stockholm, 24 tới 30 Tháng 10 Năm 1968

Từ ngày 24 đến 30 tháng 10 năm 1968, các thành viên của Clergy and Laymen Concerned About Vietnam, CALC (Giáo sĩ và Cư sĩ Quan tâm Về Việt Nam) đã đi Ba-lê và Stockholm để gặp bọn Bắc Việt với MTGPQG và các quân nhân Mỹ đã đào ngũ.

Trong số đón đã có tay Rabbi tả phái Balfour Brickner 2647, sáng lập viên của CALC, rất tích cực trong Fellowship of Reconciliation  2648 và là kẻ bảo vệ cho bọn  điệp viên nguyên tử của Liên Xô mà đã từng bị kết án (National Committee to Free the Rosenbergs, and National Committee to Free Morton Sobell ~ Ủy ban Quốc gia đòi trả tự do cho Rosenbergs và Ủy ban Quốc gia đòi trả tự do cho Morton Sobell). 2649

Tại Ba-lê, toán CALC đã gặp thư ký báo chí Bắc Việt, Ủy ban Hòa bình Việt Nam, MTGPQG và bọn Mỹ đào ngũ.  Phát ngôn viên MTGPQG đã láo toét rằng không hề có cộng sản trong MTGPQG và chúng có thể chấp nhận một chính phủ liên hiệp, mà không có Thiệu và Kỳ. Lại có ăn tối với Hiệp hội các Người Chống Quân dịch và các Người Đào ngũ. Tại Stockholm, CALC đã tham dự lắng nghe các bài phát biểu của bọn đào ngũ và các thành viên của CALC và cũng đã ngủ chung với đám Thụy Điển và đám đào ngũ. Hai ngày kế tiếp theo là để thảo luận với các thành viên của Ủy ban Quân nhân Mỹ đào ngũ (American Deserters Committee ~ ADC) về cuộc sống ở Thụy Điển và làm sao trở về lại nhà. 2650

Ủy ban Quân nhân Mỹ đào ngũ đã là cái gì và nó đã có tác động gì cũng như các hoạt động của nó đã có ảnh hưởng gì tới các quân nhân  Mỹ?

Ủy ban Quân nhân Mỹ đào ngũ: Hệ Thống Yểm Trợ Toàn cầu

Các Móc Nối Từ Moscow

Trong tháng 11 năm 1967, bốn thủy thủ đã đào ngũ bỏ tàu USS Intrepid tại Nhật Bản. Beheiren (Betonamu ni Heiwa o Shimin Rengo — Citizen’s League for Peace in Vietnam)  đã gọi điện thoại cho một người bạn Mỹ xin được giúp đỡ: đó là Howard Zinn, kẻ đã phát biểu tại các hội nghị và các lần tụ hợp tại Beheiren vào tháng tháng 8 năm 1966. Zinn thuyết phục được Ernest P. Young, một giáo sư trẻ ở Dartmouth nói được tiếng Nhật để bay đến Nhật Bản vào ngày 8 tháng 11 năm 1967 hầu thông dịch giúp các thủy thủ đào ngũ dùm cho Beheiren. Những chuyện kể đã khác nhau về việc Beheiren hay tạp chí Liberation ~ Giải phóng đã trả tiền vé máy bay của giáo sư Young. 2651

Với sự giúp đỡ của một nhóm chủ hòa Beheiren Nhật Bản, bọn đào ngũ đã bay xuyên Bắc Kinh và Moscow đến Stockholm, Thụy Điển để chờ được ân xá.

Theo điệp viên KGB  Stanislav Levchenko, tổ chức Beheiren mà đã hỗ trợ và che giấu bọn đào ngũ Mỹ ở Nhật Bản, đã giúp KBG liên lạc với chúng trước khi bay đến Stockholm, sau khi chúng đã ở lại từ 3 tới 4 tuần ở Moscow hay các thành phố khác trong khối Đông Âu. Levchenko nói là một Thủy Quân Lục Chiến, có thể làm việc cho Phòng Tình báo Hải quân, sau đó đã công bố các tin tức về đường dây Beheiren-KGB và có điều trần trước Quốc hội. 2652  Một báo cáo tối mật của KGB do  Andropov gởi Ủy ban Trung ương của đảng CS Liên xô có mô tả hành trình đưa bốn thủy thủ của tàu Intrepid đi Moscow và việc giúp đở ủng hộ tiền bạc của KGB cùng các địa chỉ bạn để liên lạc với BEHEIREN. 2653

Ở Kyoto, Nhật Bản ngày 11 tối 14 tháng 8 năm 1968, Beheiren đã bảo trợ một hội nghị cho 250 tên phản chiến mà trong đó có 23 tên Mỹ đại diện cho SNCC, SDS, Women Strike for Peace, Đảng Công nhân Xã hội (Socialist Workers Party), Ủy ban Phục vụ Bạn bè Mỹ (American Friends Service Committee ) và Nhóm Hành động Quaker.

Đã có những thảo luận về cách làm sao giúp bọn đào ngũ và bọn trốn quân dịch cũng như làm thế nào để điều hợp các phong trào chủ hòa trên toàn thế giới. 2654 Ken Cloke có nói, “Tại Mỹ, các công nhân đang giúp đỡ Bắc Việt. Tôi … tham gia vào SDS để có thể làm được như vậy.”  2655 Trong tháng hai, KGB đã ra chỉ thị cho “Ủy ban Xô viết Đoàn kết với các quốc gia Á Phi … để đón nhận các quân nhân Mỹ đào ngũ đến từ Nhật Bản, để làm việc với họ soạn thảo một kế hoạch có lợi cho Liên Xô và để chuẩn bị cho việc họ ra đi tới các nước sẽ chấp nhận cho họ tị nạn chính trị.” 2656 Các công tác nhằm giúp đở bọn đào ngũ đều đã sẳn sàng có đâu vào đó rồi.

Người Thụy Điển Nhận Đón Bọn Đào Ngũ

Chính phủ Thụy Điển đã cho phép các quân nhân Mỹ đào ngũ ở lại vì lý do nhân đạo. Tại Thụy Điển, các mật vụ khối Xô Viết vẫn tài trợ cho các nhóm tả phái bên  trong nội bộ Đảng cầm quyền Dân chủ Xã hội và đã chỉ đạo hoặc có ảnh hưởng đến tới bốn mươi phần trăm vào đảng này trong giữa thập niên sáu mươi. 2657

Trong vòng ba tháng đã có ba mươi quân nhân Mỹ đào ngũ tới Stockholm, đa số  là từ các căn cứ ở Tây Đức gần đó và thông qua đường dây Beheiren-KGB.

Ngày 28 tháng 2 năm 1968, 22 tên đào ngũ đứng ra thành lập American Deserters Committee  ADC (Ủy ban các Quân Nhân Mỹ đào ngũ) nhằm khuyến khích quân nhân Mỹ đào ngũ hơn thêm nữa. ADC nhanh chóng trở thành cánh phân bộ Anh ngữ của KFML, một đảng Mao-ít mà đã lợi dụng khai thác triệt để về việc tàn bạo của Mỹ. 2658 ADC đã sẽ tham dự Hội nghị Stockholm về Việt Nam mà đã được tài trợ bởi Liên Xô  trong tháng 11 năm 1968. Bọn theo khuynh hướng Sì-ta-lin đã rất bối rối khi cánh theo Mao tách ra lập một nhóm riêng tên là The Underground Railway, TUR.  Nay thì tụi ADC quay qua vâng lời bọn Sì-ta-lin. 2659

Hệ Thống Bọn Đào Ngũ ~ Gia-nã-đại, Thụy Điển

Trong tháng 5 năm 1968, Bộ trưởng Bộ Di trú Gia-nã-đại Alan McEachan đã thông báo là hành vi đào ngũ khỏi quân đội Mỹ sẽ không cấm một kẻ đào ngũ được xem như là nhập cư hợp pháp với “quy chế nhập địa ~ landed status“ ở Gia-nã-đại.

Cho tới lúc đó thì bọn SDS, AFSC và các nhóm chống quân dịch khác tại Hoa Kỳ đã có được một hệ thống đường sắt để giúp bọn đào ngũ thoát khỏi Mỹ. Ở Thụy Điển, Đức và Nhật Bản đã một mạng lưới rộng lớn của các tổ chức nhằm giúp đỡ bọn đào ngũ và trốn quân dịch có được chổ ở, việc làm và nhận trợ cấp xã hội. 2660

KGB đã “hỗ trợ không chính thức” cho tổ chức Peace to Vietnam (Hòa Bình cho Việt Nam) và Beiheren để giúp chở bọn đào ngũ Mỹ đi tị nạn ở Đông Âu thông qua Uỷ ban Liên Xô Đoàn kết với các quốc gia Phi Á. 2661

Mục đích của các hoạt động này là nhằm tạo ra chiến dịch tuyên truyền chống chiến tranh chớ không phải là đem lại phúc lợi gì cho cá nhân các quân nhân.

Các Chiến Dịch Tuyên Truyền Bằng Cách Khai Thác Bọn Đào Ngũ

Vào cuối tháng 4 năm 1969, Cảnh sát tiểu bang New York đã sẽ bắt giữ một người quá giang [sữa lại], một người Mỹ trốn quân dịch về lại từ Canada, có mang theo những ấn bản của tờ Second Front  (Mặt trận thứ hai) cùng các chỉ thị về việc làm thế nào để liên lạc với American Deserters Committee ở Montreal và các nhóm liên hệ ở Ottawa và Vancouver. Bill Jones, Steve Krauss, James Purdy, Terry Whitmore và Robert Bruce MacLeod đã có viết bài cho Second Front  (Mặt trận thứ hai). 2662 Jack Calhoun thì là chủ bút của một tờ khác của bọn đào ngũ, AMEX-Canada, một ấn bản của người Mỹ lưu vong tại Canada ở  Toronto, Ontario. 2663

Khi viết trên tờ Workers World, Dee Knight, tên đồng chủ bút của tờ Amex quả có nhớ di sản Việt Nam: các quân nhân thì từ chối phục vụ, các người chống đối thì ra nghẹt tòa án cùng nhà tù và đã làm băng hoại tinh thần quân đội; các cố vấn và các trung tâm hỗ trợ với “những người phản chiến ở Gia-nã-đại, Thụy Điển, Pháp …cùng nhau huy động để đảm bảo chổ ở cùng yểm trợ cho các kẻ chống đối mà muốn xin đi tị nạn lưu vong.” 2664  Gerry Condon, một tên cộng tác với tờ Amex-Canada, đã từ chối đi phục vụ tại Việt Nam và trốn sang Thụy Điển và cuối cùng tới Gia-nã-đại để sau đó hoạt động trong các nhóm đòi hỏi ân xá cho bọn đào ngũ và trốn quân dịch. 2665

Ít hơn 300 tên sẽ đào ngũ ở Nam Việt trong tổng số 2,6 triệu quân nhân đã phục vụ ở đó và chỉ có 5.000 tên trên toàn thế giới. Số ít này, cộng với hàng ngàn bọn  trốn quân dịch đã lại có ảnh hưởng cao về chính trị như là tuy sai nhưng lại hiệu quả, về các dấu hiệu tinh thần thấp trong quân đội Hoa Kỳ.

Tác Động của Phong trào GI: Cuộc Chiến Của Những Con Số.

Ngoài tác động chính trị đối với chính sách của Mỹ, tác động của phong trào GI trên chiến trường đã không rỏ ràng.

Barry Willdorf, tác giả Bring the War Home (Đem Chiến Tranh Về Nhà) đã cung cấp một bản tóm tắt hữu ích về Phong trào GI. Đây là một bài viết có thiện cảm với một phong trào mà y đã từng tham gia. Willdorf đã từng hành xử với tư cách là luật sư trong một dự án GI được biết đến như là MDM (Movement for a Democratic Military ~ Phong trào cho một Quân Đội Dân chủ).

Nhiều Báo, Ít Quân Nhân GI Biểu Tình

Dựa trên một cuộc khảo sát của Bộ Ngoại giao vào năm 1972, Willdorf báo cáo có 245 báo phản chiến của quân nhân GI  được phân phối trong các căn cứ ở Mỹ, Đức và Viễn Đông, kể cả tất cả các trại lớn như Pendleton, Ft. Bragg, Ft. Lewis, Ft. Jackson, Ft. Campbell, Ft. Sill, Alameda Naval Air Station, Ft. Hood, Camp Lejeune, Travis Air Force Base, Ft. Dix, cũng như là tại Việt Nam. 2666

Theo riêng Willdorf thì các cuộc biểu tình do quân nhân GI  tổ chức đã rất là ít.

Năm 1968, một số binh sĩ GI tự cột bằng dây xích sắt tại một nhà thờ ở San Francisco và một số khác từ Ft. Hood từ chối không đi dẹp biểu tình bạo động tại Đại Hội Quốc gia Dân chủ ở Chicago. Năm 1969, 100 quân nhân GI đã tổ chức một cuộc biểu tình ở Ft. Jackson. Năm 1970, khoảng 80 binh sĩ GI đã biểu tình chống Tướng Westmoreland tại Ft. Bliss. Năm 1971, đã có một phong trào “bệnh toàn trại” ở Ft. Lewis và một trại nhỏ (không rõ tên) ở Arizona. Năm 1971, khoảng 540 binh sĩ GI và WAC đồng ký một kiến ​​nghị chống chiến tranh. 2667

Một trong những vụ lộn xộn nổi tiếng nhất đã là có khoảng 300 thủy thủ phản đối không theo Hàng Không Mẫu Hạm Coral Sea đi Việt Nam mà lúc đó đang đậu ở Alameda Naval Air Station, bên kia vịnh San Francisco. Nhiều người đã trốn tàu tại Alameda và tại Hawaii. Một số đã là sĩ quan. 2668

Các con số của Willdorf về sự tham gia của quân nhân có thể đã bị thổi phồng bằng cách đếm luôn cả thường dân. B.G. Burkett và Glenna Whitley từng báo động cho chúng ta là nhiều kẻ biểu tình phản chiến mà khi bị kiểm hồ sơ quân sự cá nhân đã cho thấy là chưa bao giờ phục vụ trong quân đội, đã không hề thuộc các đơn vị mà họ tuyên bố hay đã không bao giờ từng ở Việt Nam cả.

Tình Trạng Đào ngũ: Tràn Lan Hay Không Đáng Kể?

Willdorf nói là các thống kê của Ngũ Giác Đài đã cho thấy một tỷ lệ đào ngũ và Vắng Mặt Không Phép (Absent without Leave AWOL) chưa từng có, ví dụ như vào năm 1970, cứ một trong mười hai binh sĩ đã “đào ngũ”, tổng cộng là 89.088. Tương tự như vậy, tay đạo diễn David Zeiger của Sir! No Sir! đã nói là từng đã có hơn nửa triệu “vụ đào ngũ” giữa năm 1966 và 1971.

Các con số của Willdorf và Zeiger trong khoảng từ 100.000 đến 500.000 có vẻ chỉ phản ảnh chính ra là bọn lính trẻ tự cho phép vài ngày hay vài giờ ở ngoài trại mà không được chấp thuận trước, 2669 giống như nhiều bọn đồng tuổi lười biếng dân sự ở quê nhà mà thôi. Hầu hết các AWOLS đều có lý do cá nhân và tài chính cũng như sự không thích ứng được vào kỷ luật của cuộc sống quân ngũ. 2670

Khi sử dụng cả các số liệu về Vắng Mặt Không Phép (Absent without Leave AWOL) thì quả thật đã thổi phồng và bóp méo số lượng thật sự về “đào ngũ”.

Trong quân đội, Vắng Mặt Không Phép (Absent without Leave AWOL) là một vi phạm điều lệ cần bị xử phạt – một vấn đề nghiêm trọng nhưng không thể nào so sánh được với hành vi vĩnh viễn tránh né nghĩa vụ hay bỏ rơi đồng đội trên chiến trường – tức là đào ngũ. Đối với tiêu chuẩn công ăn việc làm dân sự thì việc tự nghỉ vài ngày mà không xin phép trước thì chỉ đơn giản bị xem như là một loại chi phí về kinh doanh gọi là vắng mặt bất hợp lệ được xếp theo tiêu chuẩn lạm dụng số ngày nghỉ bịnh đã được quy định .

AWOL không phải là một hiện tượng của việc phản chiến. Mực độ cao nhất về AWOL tại Việt Nam đã là vào năm 1975 và 1976 khi vai trò của Mỹ trong chiến tranh đã kết thúc. 2671 Do đó, xảo thuật gom tội vắng mặt vào với tội đào ngũ là bất chính hay vô lý về tiêu chuẩn để phân tích. Trong trường hợp của nhà thờ First Unitarian Church of Honolulu thì có lẽ họ đã cảm thấy mãn nguyện khi họ tuyên bố là cần phải cung cấp nơi trú ẩn cho các thủy thủ AWOL đang  tránh đi phục vụ ở Việt Nam. 2672  Honolulu là một hòn đảo ở ngàn dặm xa xôi với bất cứ nơi đất liền nào và không có lối thoát. 2673

Các số liệu thống kê chính thức về đào ngũ, đúng như quy định, thì lại cho thấy một chuyện khác hẳn. Trong số 2.644.000 quân nhân đã phục vụ tại Nam Việt (từ 1960 cho tới 28 tháng 3 năm 1973) đã chỉ có khoảng 5.000, ít hơn là 2% của tổng số được lệnh đi phục vụ tại Việt Nam, đã quyết định đào ngũ. Chỉ có một thiểu số 249, tức là chỉ có 5% của những kẻ đào ngũ ở Nam Việt là đang phục vụ trong vùng có chiến tranh. Nếu so với các con số thống kê khác, như ở châu Âu trong thế chiến II, hơn 20.000 quạn nhân đã bị kết tội đào ngũ – một tỷ lệ 55% cao hơn nếu so với tại Việt Nam. Trong trận Bulge, hai trung đoàn của Sư đoàn 106 của Quân đội Mỹ đã đầu hàng Đức. Không hề có một đơn vị quân đội Mỹ nào đã từng đầu hàng tại Việt Nam. 2674

Tương tự như vậy, B.G. Burkett và Glenna Whitley trong “Phía sau những chuyện hoang đường tại Việt Nam” có nói:

Trong số những binh sĩ đào ngũ trong thời kỳ Việt Nam, chỉ có 5% đã làm như vậy trong khi đang phục vụ trong các đơn vị tại Việt Nam. Chỉ có 24 tên đào ngũ đã nêu ra lý do là mong “tránh làm nhiệm vụ nguy hiểm.”

Trong tổng số AWOL, chỉ có 10% là liên quan đến thái độ phản chiến. 2675

Cuối cùng, với những người đào ngũ mà đã được Tổng thống Ford ân xá thì chỉ có 14% là đã nêu ra lý do phản chiến. 2676

Có rất nhiều lý do để không thích nghi với các sự khắc nghiệt về thể chất và kỷ luật khi thi hành nghĩa vụ quân sự. Chính trị thường không là một đề tài nóng bỏng trong số các người lính trẻ tuổi.

“Fragging”: Cố Sát Các Sĩ Quan         

Con số của Willdorf về hành vi “fragging”, việc binh sĩ giết chết sĩ quan, đã là 800 tới 1.000 mưu toan. Quân đội thì đã báo cáo có tới 563 vụ chỉ trong hai năm 1969 và 1970. Ngũ Giác Đài đã nêu ra 86 sĩ quan bị thiệt mạng và 700 thì bị thương tích. 2677

Bill Laurie lưu ý là hành vi “fragging” không có tính cách phổ biến, tính ra là có nhiều mục tiêu đã là những sĩ quan bị khinh ghét và rất thường là liên quan đến những tranh chấp về ma túy, đĩ điếm và nghe nhạc quá lớn. Nói vắn tắt thì việc cố sát  trong quân đội thực sự không dính líu gì đến chính sách phản chiến hay chống lại quân đội. 2678

Con số tử vong thực sự đã là 37 vào năm 1969 và xuống còn 12 trong năm 1971. 2679 Tuổi cụ thể về tỷ lệ án mạng trong nam giới dân sự có thể cao hơn nếu so với cùng lứa tuổi của nam giới trong quân đội.

Phá Hoại: Tình Nghi Thôi hay Chứng Minh Được?

Hành vi phá hoại bị nghi ngờ nhưng hiếm khi được chứng minh – ví dụ như một thủy thủ đã quăng một chiếc kềm mỏ-lết vô nộ phận hộp số của khu trục hạm Richard E. Anderson làm nó bị tê liệt trong vòng hai tháng, những đám cháy rất đáng nghi ngờ trên các hàng không mẫu hạm – cũng không làm sao giải thích được. Cho tới cuối năm 1971, Hải quân báo cáo các trường hợp như sau: phá hoại, 191; đốt phá, 135; và phá hủy, 162. 2680

Công Lý Trong Quân Đội

Việc trừng phạt bắt đầu rất là nghiêm khắc để rồi biến mất đi rất nhanh: Năm 1967 hai thủy quân lục chiến da đen tại Camp Pendleton đã bị tuyên xử sáu và mười năm tù chỉ vì đã thảo luận về cuộc chiến tranh. Năm 1968, hai binh nhì bị  bốn năm mổi người vì tội phát truyền đơn phản chiến. Năm 1969, một binh nhì  đã bị kết án hai năm tù vì đã từ chối tham gia vào việc huấn luyện chống bạo động. Năm 1970, một thủy quân lục chiến đào ngũ bỏ đi Thụy Điển chỉ bị xử có một năm tù thôi. Ngày 15 tháng 6 năm 1972, bốn thành viên Vietnam Veterans Against the War ~VVAW đã lái xe về hướng bắc từ Los Angeles đến Fort Ord để dự phiên Tòa án Mặt Trận xét xử Billy Dean Smith về các án mạng do “fragging”, cố sát hai sĩ quan tại Biên Hòa, Nam Việt Nam. Smith được tha bổng 2681 và sau đó, bèn đi gặp đảng viên đảng CS Mỹ là Angela Davis ở Liên Xô. 2682

Trợ Giúp Pháp Lý cho Các Quân Nhân GI Mỹ

Các quân nhân nào mà tuyên bố là mình đang gặp rắc rối vì đã phản đối cuộc chiến tranh liền nhận được rất nhiều trợ giúp về pháp lý. Ví dụ, Hội đồng Quân Luật New York ở số 5 Beekman St. đã cung cấp giúp đở về pháp lý cho bọn 38 tên ở Fort Dix là những tên đã nổi loạn phản đối các điều kiện xấu xa và cách bị đối xử trong trại tại Fort Dix vào tháng 6 năm 1968.

Các luật sư trong Hội đồng Quân Luật New York mà đã cung cấp các dịch vụ của họ đã là Lynn Adleman, Frank Askin, Carl Broge, Fred Cohn, William Crain, Henry DiSuvero, Stephen Fine, Steve Hyman, Mark Kadish, Sanford M. Katz, Michael và William Kunstler, GeraldLefcourt, John Lubbell, Victor Rabinowitz, David Rein và Eric Schmidt. Ngoài ra cũng có Leonard Boudin, Stanley Faulkner và Arthur Kinoy. 2683

Tới năm 1971 thì quân đội đã chọn giải pháp sa thải về hành chánh thay vì truy tố ra các tòa án Quân sự Mặt trận. Khóang 560.000 tới 790.000 quân nhân hiện dịch tại Việt Nam đã bị xuất ngũ với lý do kém hơn là “giải ngũ trong danh dự ~ honorable discharge”. Đến năm 1972, Hải quân bắt đầu một cuộc thanh trừng toàn bộ hàng ngũ của mình. Theo với thời gian, chỉ với các xu hướng đương thời thì ta cũng thấy là quân đội đã đơn giản không còn truy tố ai nữa. 2684

Thật vậy, 97% của các cựu chiến binh thời kỳ Việt Nam đã được giải ngũ trong danh dự. Chắc chắn, đa số đã phục vụ trong vinh dự, bất kể những nỗ lực cực kỳ của Hà Nội và của bọn điệp viên cùng bọn bị chúng lường gạt mà đã cố tình làm suy xụp tinh thần của các quân nhân Mỹ. Những cựu chiến binh thời chiến tranh Việt Nam đã là những toán anh em cật ruột cùng thi hành những nhiệm vụ cực khổ ở những nơi đầy hiểm nguy mà chỉ ráng để đừng chết, dù không có được sự hỗ trợ của các cấp chỉ huy tối cao và của Quốc hội.

Hà Nội tự tin vào Mặt trận thứ hai

Ủy ban nhân dân miền Nam Việt Nam Đoàn kết với nhân dân Mỹ (Việt Mỹ) đã viết vào ngày 20 tháng 10 năm 1968 gởi cho các

” bạn bè Mỹ” để bày tỏ ” sự đánh giá cao . . . nồng ấm (cho) các phát triển mạnh mẽ của phong trào phản chiến … từ cuộc đối đầu ngày 21 tháng 10 năm 1967 tại Lầu Năm Góc … cho tới để các cuộc biểu tình sôi sục và đẫm máu tại đại hội đảng Dân Chủ tại Chicago [Tháng Tám 1968] …”

Như đã được quyết định trước, Ủy ban Đoàn kết ủng hộ, “các hành vi chống chiến tranh … trong … số các quân nhân GI”. Ủy ban đã bày tỏ “lòng ngưỡng mộ” đối với các thanh niên Mỹ [mà] … đã đào ngũ, đã từ chối khi bị gọi nhập ngũ hay đã khước từ đến Việt Nam … ”

Và “Lần này, năm ngoái … đã đánh dấu một bước mới trong việc tăng cường mối quan hệ hữu nghị … [tại] … Bratislava … Paris … Stockholm, Sofia, Budapest … và v. v . . . “. 2685

Đồng Gặp Mao Chủ Tịch

Chiến thắng đắc cử của Nixon vào tháng 11 đối với Hubert Humphrey bất kể đến Món Quà Lạ Tháng 10 của Johnson, một sáng kiến ​​hòa bình, đã không hề gây lúng túng cho Hà Nội hay bạn bè của chúng. Vào ngày 27 tháng 11 năm 1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gặp Mao Trạch Đông mà đã bày tỏ nghi ngờ về các khuynh hướng của Mỹ trong việc tiến hành cuộc chiến. “Mỹ không thể kéo dài cuộc chiến. … Họ rất là tự mâu thuẫn.”

Mao lưu ý việc Walter Lippman mô tả Việt Nam như là một vũng lầy. “Mỹ đang bị mắc bẫy và cố gắng để thoát ra …. [Rồi] sẽ khó khăn hơn cho họ để cứ tiếp tục chiến đấu”. Hơn nữa, Mỹ đã không chiến đấu một cách có hiệu quả như đúng ra họ đã phải làm được vậy. “Trong suốt những năm dài chiến đấu, quân đội Mỹ đã không hề tấn công miền Bắc, hải cảng Hải Phòng đã không hề bị phong tỏa và các đường phố của Hà Nội đã không hề bị dội bom …. Những lời cảnh cáo của họ đều hoàn toàn vô nghĩa.”, Mao đã tuyên bố như vậy.

“Chúng tôi đã có thấy điều này”, Phạm Văn Đồng bèntrả lời.

Đồng đã nói với Mao, “Khi ngồi vào bàn đàm phán thì không có nghĩa là [chúng tôi] chấm dứt chiến đấu. Ngược lại, việc giao tranh cần phải khốc liệt hơn. . Chúng tôi … nay lên tiếng nói của một kẻ chiến thắng và của một kẻ mạnh mà đang biết  thế nào là chiến đấu đến cùng và cũng biết là kẻ thù cuối cùng thì cũng sẽ thất bại mà thôi.” 2686

Các nỗ lực của Hà Nội để tổ chức lực lượng chính trị của chúng ở Hoa Kỳ vẫn cứ tiếp tục một cách nhanh chóng.

 Hội nghị đoàn kết về Việt Nam tại Montreal

28 Tháng 11 đến 1 tháng 12 Năm 1968

Ở Budapest trong tháng 2 năm 1968, khoảng 67 đảng Cộng Sản thuộc Tây bán cầu đã gặp nhau để công bố thiện cảm và hỗ trợ cho lập trường dũng cảm của  Bắc Việt đứng lên chống lại “sự xâm lược Mỹ” 2687 và để chuẩn bị cho một hội nghị sau này về Việt Nam mà sẽ được đồng tổ chức bởi Đảng Cộng sản Mỹ và Gia-nã-đại mà phần lớn chi phí sẽ được tài trợ bởi Đảng Cộng sản Liên Xô. 2688

Hội nghị kế tiếp ở Montreal do Liên Xô bảo trợ đã cung cấp miễn phí chỗ ở và thực phẩm. Hội đồng Peace Action của Irving Sarnoff  thì yểm trợ vé khứ hồi  đi về Montreal với giá chỉ  $150. 2689 Đề tài chính đã tập trung vào chính sách đế quốc Mỹ ở châu Mỹ La-tinh và Việt Nam.

Tại Montreal, Gia-nã-đại, Hội nghị Đoàn kết về Việt Nam – mà cũng là Hội nghị Bán cầu để Kết thúc cuộc Chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, đã được tổ chức dưới hầm của nhà thờ United Church St James từ ngày 28 tháng 11 đến 1 tháng 12 năm 1968, với các khách được mời là đảng viên các Đảng Cộng sản Bắc và Nam Mỹ, bọn phản chiến và bảy tên Cộng sản Việt mà đứng đầu là Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa. 2690 Trong số nhà tài trợ chính thì đã có Douglas Dowd 2691 và Howard Zinn. 2692

Các đảng viên Đảng Cộng sản tham dự hội nghị Montreal nhận diện được thì  gồm có Linda Appelhaus, Giáo sư Gia-nã-đại Raymond Boyer, Carl và Anne Braden, Ben Dobbs, Robert Duggan, Mike Eisencher, Jim Fite, Carlton Goodlettt, James Jackson, Arnold Johnson, Sam Kushner, Mike Myerson,Harvey O’Connor, 2693 Irving Sarnoff, Eugene Tournour, Jarvis Tyner, Frank Wilkinson 2694 và Giáo sư Leon Wolfsy. 2695

Mặc dù đám bạn bè của Moscow phụ trách chính để điều khiển chương trình nhưng cũng có những bọn khác cũng tham gia, đó là bọn Trotskites, bọn theo Mao, bọn Báo Đen Black Panthers và những tên khác. Khoảng 1.700 tên đã tham dự; trong số hơn 500 tên Mỹ 2696 thì tới 90 tên đã đến chỉ từ Los Angeles mà thôi; 25 tên Báo Đen Black Panthers 2697  và các bọn Mỹ khác thì đến từ Havana.

Trong số các thành viên của tả phái  phản chiến Mỹ mà đã gặp bảy đại diện của Bắc Việt và MTGPQG thì đã có mười hai thành viên của National Mobe và hậu duệ của nó là New Mobe, 1969. 2698 Bọn chốp bu New Mobe từng tham dự đã là: Norma Becker thuộc Ủy ban Fifth Avenue Peace Parade, War Resisters League  (Liên hội Những Người Phản Chiến) 2699 và con đẻ của đảng CS Mỷ về sau này là Committee of Correspondence for Democracy and Socialism (Ủy ban Phóng viên cho Dân chủ và Xã hội Chủ nghĩa); 2700 Richard Fernandez, Robert Greenblatt, Giáo sư Donald Kalish thuộc “cánh tả của Đảng Cộng sản” ; 2701 Lincoln Lynch, Stewart Meacham, Sidney Peck và John Wilson. 2702

Ngoài ra cũng có Alfred Hassler của Fellowship for Reconciliation, 2703 (các) đại diện của Women’s International League for Peace and Freedom, Bobby Seale của Black Panthers, Front du Liberation de Quebec QLF, Robert Eugene Duggan của  SDS; 2704 Mục sư Stephen Fritchman của Nhà Thờ Los Angeles Unitarian và là một nhân chứng “không thân thiện” trước Ủy ban Hạ viện House Committee on Unamerican Activities HCUA, 2705 Linh mục Groppi, Benjamin Spock, Mario Savio của Free Speech Movement 2706 và Maryknoll với tay linh mục Mác-xít “thần học giải phóng” chuyên ủng hộ du kích là Blasé Bonpane. 2707

Hoover, Giám đốc FBI đã  tin rằng hội nghị Montreal là bằng chứng về ảnh hưởng của ngoại quốc trong phong trào cực đoan da đen, đặc biệt là bên trong Student Nonviolent Coordinating Committee (Ủy ban Điều Hợp các Sinh viên Bất bạo động) và đảng Black Panthers (Hắc Báo). 2708 Khi cư xử như một số người đã nói là giống như “những đơn vị bão táp da đen”, bọn Black Panthers đã rất là có ảnh hưởng.

Vài đại biểu đã muốn tố cáo hành vi chủ nghĩa đế quốc của Liên Xô trong cuộc xâm lược vào Tiệp Khắc trong tháng 8 năm 1968 nhưng đều đã bị hét mắng đuổi xuống.

Sau khi đã đến trễ, Bobby Seale liền kêu gọi đoàn kết với Việt Cộng bằng cách cùng chiến đấu chống lại chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc ở khắp mọi nơi. Seale đã nhiều lần gặp gở bọn Việt cộng. Tờ Prensa Latina vào ngày 15 tháng 2 năm 1969 có trích dẫn tay lãnh đạo Black Panther, “Chúng tôi rất vui mừng khi thấy các dân tộc bị áp bức đang theo gương dũng cảm của Che Guevara để tạo ra một, hai, ba, nhiều vụ Việt Nam  … hầu tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc”. 2709

Vào lễ bế mạc của hội nghị Montreal, Hoàng Minh Giám,  Bộ trưởng Bộ Văn hóa Bắc Việt, với sự tham gia của tên CS Mể Galdino Guzman Cadena đã đốt 25 thẻ quân dịch Mỹ.

“Cử tọa đã điên cuồng lên khi … (các) thẻ đã bị đốt cháy trong một đĩa ăn bằng  thiếc”, viên cảnh sát chìm David E. Gumaer đã báo cáo trong American Opinion số tháng 2 năm 1969. Đám đông tay thì vẫy cờ đỏ với biểu ngữ Việt Cộng đã cùng hát vang bài Quốc tế Cộng sản. Uỷ ban American Friends Service Committee của New York và War Resistors League bèn viết cho VC một chi phiếu $ 2.000. 2710

Lòng Hiếu Khách Gia-nã-đại

Montreal, Quebec, Canada đã luôn luôn là một địa điểm thân thiện. Union  Générale des Etudiants du Quebec (UGEQ) đã tổ chức các cuộc biểu tình vào ngày 18 tháng 11 năm 1967 với khoảng 5.000 sinh viên tham dự. 2711 Canadian Voice of Women for Peace đã đi Việt Nam, đã viện trợ cho Bắc Việt, đã giúp phổ biến những chuyện tàn bạo do bọn đào ngũ GI tại Canada kể lại 2712  và đã đưa đám phụ nữ Việt cộng đi tổ chức các cuộc tập hợp tập thể và để tiếp xúc với phụ nữ Mỹ, WSP và SDS / Venceremos, tại các địa điểm ngay tại biên giới. 2713

Nhiều tên tron bọn từng tham dự tại Montreal như Irving Sarnoff, Arnold Johnson, Norma Becker Richard Fernandez, Robert Greenblatt, Giáo sư Donald Kalish, Stewart Meacham, Sidney Peck, kể cả tay Gia-nã-đại Andrew St Laurent, rồi sẽ xuầt hiện sau này vào mùa hè tới tại Cleveland đúng ngày 4 và 5 tháng 7 năm 1969 để chuẩn bị cho kế hoạch tấn công hòa bình vào mùa thu 1969 và để cải tổ lại National Mobe trở thành New Mobe.

Trong khi đó thì Tom Hayden đã đang bị Quốc hội kêu ra để phải giải thích cho các chuyến du lịch ngoại quốc và cho số bạn bè cùng trao đổi thư từ của y.

*****

 2635  Tài liệu hồ sơ số 10-2095-68 (Mật) ngày 31 tháng 10 năm 1968 (phần nhấn mạnh được thêm vào). Bản chuyển ngữ của một “Chỉ thị về các Nhiệm vụ Chính trị trong Mùa Đông 1968,” ghi ngày 5 tháng 10 năm 1968 và được quy cho bộ phận chính trị tỉnh Gia Lai, Đơn vị B-3 Tiền Tuyến. Tịch thu bởi QĐVNCH, 24th STZ, RVNAF II CTZ, trong thời gian 18 đến 20 tháng 10 năm 1968. Những chỉ thị như vậy cũng được tìm thấy trong rất nhiều tài liệu tịch thu được, chẳng hạn như Hồ sơ số 01-1999-68 (Mật) và 05-1947-68 (Mật), đã được tóm lược trong bản tin MACJ2 Bulletin Số 12, trang 415, ghi ngày 15 tháng 5 năm 1968; tất cả đều được nêu ra trong tài liệu của Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” mà có thể đọc tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

2636  Tài liệu hồ sơ số 11-1020-68 (Mật), 15 tháng giêng năm 1969. Bản chuyển ngữ của một chỉ thị liên quan đến một chiến dịch tuyên truyền kéo dài trong sáu tháng (từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969), được ghi nhận là do một đơn vị thuộc tỉnh Bến Tre ban ra ngày 17 tháng 10 năm 1968. Bị tịch thu bởi Sư Đoàn 9 Bộ Binh Mỹ vào ngày 29 tháng 10 năm 1968 do Lê Thành Nam nêu ra trong “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

2637  Tài liệu hồ sơ số 10-2137-68 (Mật), 17 tháng 11 năm 1968. Bản chuyển ngữ của một chỉ thị ghi ngày 23 tháng 9 năm 1968, tựa đề “Policies, Subjects and Requirements of Propaganda Mission (từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969)” và được ghi nhận là do  Bộ Tham Mưu Chính Trị thuộc Khu 7 Quân sự. Bị tịch thu bởi Tiểu đoàn 1 RAR, Đệ nhất  ATF, vào ngày 8 tháng 10 năm 1968 nêu ra trong sách của Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” tại http://25thaviation.org/history/id926.htm

2638  Tài liệu hồ sơ số 04-2435-68 (Mật), ngày 31 tháng 5 năm 1968. Bản chuyển ngữ của một bức thơ quy định về các thủ tục an ninh cho một Phân bộ An ninh trong một tỉnh không truy ra được mà có tính cách phù hợp với các nghị quyết của Trung Ương Cục Miền Nam và các Quân Khu VC. Bị tịch thu bởi C/3/RAR, 1st ATF, vào ngày 30 tháng 3 năm 1968 nêu ra trong sách của Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” tại http://25thaviation.org/history/id926.htm

2639  Tài liệu hồ sơ số 12-0503-67 (Mật), ngày 23 tháng giêng năm 1968. Bản chuyển ngữ của một tờ truyền đơn gởi cho “nhân dân toàn tỉnh” bởi Ủy ban MTQGGP vùng Sài-gòn/Gia định vào cuối 1967. Bị tịch thu bởi Tiểu Đội 5 Biệt Động Quân VNCH, vùng Gia Định, vào ngày 8 và 9 tháng chạp năm 1967, được nêu ra trong sách của Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” tại http://25thaviation.org/history/id926.htm

2640   Moyar phỏng vấn Thiếu Tướng James Herbert và nêu ra trong sách “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18-20 tháng 4 năm  1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

2641  Trung Ương Cục Miền Nam, A Preliminary Report on the 1969 Autumn Campaign, Tài liệu số 82, trang 3 nêu ra trong sách của Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 612

2642  Thơ từ của ILS, 18 tháng 10 năm 1969; New Mobilizer , 28 tháng 10  năm 1969; Chuyên biệt, 6 tháng 3 năm 1970; tất cả đều được nêu ra trong tài liệu của  HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, trang 41-43.

2643   “Five Committees Report from Second Genocide Symposium,” Granma, (Spanish), 21 tháng 10 năm 1968, trang 3, Tóm lược số 46, trang 845, FBIS, 12 tháng 11 năm 1968.

2644   Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 394-407.

2645  Phúc trình CIA, Phó Giám đốc Điệp vụ gởi cho Giám đốc, Defense Intelligence Agency (Cơ quan Phản Gián), 28 tháng giêng (không đọc được). Đề tài:  Nhận dạng tên  “Fidel,” thẫm vấn viên của các tù binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam nêu ra trong sách của Michael Benge, Cuban War Crimes Against American POWs During the Vietnam War, nghiên cứu cho National Alliance of Families for Return of America’s Missing Servicemen tại  nationalalliance.org/cuba/benge2.

2646   Mike Benge có làm chứng và đã viết rất nhiều về Chương trình Cu-ba: Ủy ban Hạ viện House International Relations Committee, 4 tháng 11 năm 1999; “Kerry and Hanoi’s ‘Humane & Lenient Treatment’ of POWs,’ 2007 tại amigospais-guaracabuya.org; Juan O. Tamayo, “Former POWs detail torture by Cubans in Vietnam. Torturers’ aim was ‘total surrender’ Savage beatings bent captives to will of man dubbed ‘Fidel,” Miami Herald, 22 tháng 8 năm 1999; Audrey Hudson, “U.S. POWs Recall Cubans Torturing Them In Vietnam, báo cáo cho ủy ban điều tra về cái chết của viên phi công Không Lực Mỹ,” Washington Times, 5 tháng 11 năm 1999.

2647  Theo Max Friedman thì tên Rabbi Brickner đã ủng hộ bọn gián điệp nguyên tử Julius và Ethel Rosenberg cùng với nhân viên KGB Wilfred Burchett.

2648   Cáo phó của Brickner trên tờ New York Times, 1 tháng 9 năm 2005 và lời kể của  Friedman cho Canfield ngày 26 tháng 6 năm 2005.

2649   Max Friedman nói với tác giả, 18 tháng 9 năm 2008; Ron Radosh, “Case Closed: the Rosenbergs were Soviet spies,” Los Angeles Times, 17 tháng 9 năm 2008.

2650  Phúc trình FBI, “Clergy and Laymen Concerned About Vietnam, Information Concerning—Internal Security, 4 tháng 11 năm 1968, 123418-123420 trong tài liệu FBI, FOIA, C, CALC.

2651   FBI FOIA Howard Zinn, BS 100-35505.

2652   Stanislav Levchenko, On the Wrong Side, Pergamon-Brassey’s, 1988, trang 50-53.

2653   Tài liệu 315 KGB báo cáo cho Ủy ban Trung Ương về việc cộng tác với các nhóm chủ hòa Nhật trong thời chiến tranh Việt Nam vào năm 1968, LOẠI HỒ SƠ ĐẶC BIỆT/ Tối Mật, Các biên bản của Bộ Chính Trị số 73, Điểm 47, USSR, KBG, Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô, 24 tháng 2 năm 1968, Số 438. Của Ủy ban Trung Ương thuộc Đảng CS Liên xô đăng trong tài liệu của Diane P. Koenker và Ronald D. Bachman, (Nhà Xuất bản), Revelations From the Russian Archives, Library of Congress, Washington, 1997, trang 699.

2654   Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành riêng cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 44, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2655   FBI, FOIA, Weather Undergound… trang 261.

2656  Tài liệu 315 KGB báo cáo cho Ủy ban Trung Ương về việc cộng tác với các nhóm chủ hòa Nhật trong thời chiến tranh Việt Nam vào năm 1968, LOẠI HỒ SƠ ĐẶC BIỆT/ Tối Mật, Các biên bản của Bộ Chính Trị số 73, Điểm 47, USSR, KBG, Hội đồng Bộ Trưởng Liên Xô, 24 tháng 2 năm 1968, Số 438. Của Ủy ban Trung Ương thuộc Đảng CS Liên xô đăng trong tài liệu của Diane P. Koenker và Ronald D. Bachman, (Nhà Xuất bản), Revelations From the Russian Archives, Library of Congress, Washington, 1997, trang 699.

2657   Jan Sejna, We Will Bury You, London: Sidgwick & Jackson, 1982, trang 122.

2658   Thomas Ekman Jorgensen, “Scandinavia,” trong sách của Martin Klimke và Joachim Scharloth, 1968 in Europe, New York: Palgrave Macmillan, 2008, trang 246-7.

2659   “American Exiles in Sweden-a short political history,” N.D. [đầu 1973] của FBI, FOIA.

2660   FBI, Phúc trình từ Seattle, “Individuals and Organizations in Canada and Elsewhere Providing Haven for Draft Evaders and Military Deserters from the United States Information Concerning, Tháng 9 năm 1970. 

2661   “KGB Report to the Central Committee on Cooperation with Japanese Peace Groups,”  thư của KGB gởi Hội đồng Bộ Trưởng Liên xô, 24 tháng 2 năm 1968, số 438-A, trong các Phát hiện từ Hồ sơ Lưu Trử Xô-viết:  tài liệu, (Washington: Library of Congress, 1997, trang 699-700; Harold W. Rood, “The War for Iraq: A Study in World Politics, AVOT, Claremont Institute, 22 tháng 10 năm 2007 tại  www.claremont.org.

2662   FBI, SAC Albany gởi Giám đốc, “ADC: Second Front, Official Newspaper of the International Union of American Deserters and Draft Resistors—Ca, SSA, Deserter Matters”,  8 tháng 5 năm 1969. 

2663   John Rees, Information Digest, 8 tháng 2 năm 1985, trang 37.

2664   Dee Knight, “Resistance to a Draft,” Workers World, 16 tháng giêng năm 2003, trang 10 tại  http://www.workers.org.

2665  18 PNL Syracuse, New York 3/75.

2666  Barry Willdorf, Presentation, Protest & Activism Panel, 4TH Triennial Vietnam Symposium, Lubbock, Texas, 11 tới 13 tháng 43 năm 2002.

2667  Như trên.

 2668   “SOS From the Coral Sea,” About Face! The U.S. Servicemen’s Fund Newsletter, bộ 2, số 2. sirnosir.com/archives_and_resources/library/articles/aboutface_08.html; New York Times, 4 tháng giêng năm 1972.

 2669   Tác giả cũng nhớ mang máng là đã vi phạm tội AWOL vì đã trở về trại trể độ một giờ sau khi đã phải đón xe quá giang vào dịp cuối tuần từ Los Angeles tới Concord ở phía ngoài San Francisco.

 2670  Lewy, trang 156.

2671   Lewy, trang 159.

2672   Andrew Walden, “The Unitarian Church and Obama’s Religious Upbringing,” The American Thinker, 27 tháng chạp năm 2008; “24 G.I. War Foes Now in Sanctuary; Servicemen Find Refuge in Two Honolulu Churches, New York Times, 24 tháng 8 năm  1969, trang 9; Honolulu Star Bulletin, 8 tháng 2 năm 2003.

2673   Chỉ có một em bé 10  tuổi mới có thể tin là có một lối thoát. Năm 1951, tác giả đã dẫn đầu một đám trẻ em bỏ nhà đi bụi đời tới một chổ chiếu phim ngoài trời mãi cho tới khi một trận mưa mùa đã buộc cả bọn đành về lại nhà mà phải đi trong bùn giữa những đám mía cây với lá sắc bén rồi về tới nhà thì ướt như chuột lột và còn bị rày la nữa.

2674   Vietnam War Statistics http://www.mrfa.org/vnstats.htm

2675   B.G. Burkett và Glenna Whitley trong “Behind the Myths of Vietnam,” và trong  Stolen Valor: How the Vietnam Generation Was Robbed of its Heroes and History. Cũng có thể tham khảo tại  http://www.geocities.com/dcjarviks/Idler/vIIIn96.html

2676   Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976,  trang 561.

2677   Barry Willdorf, Thuyết trình, Protest & Activism Panel, 4TH Triennial Vietnam Symposium, Lubbock, Texas, 11 tới 13 tháng 4 năm 2002.

2678   Bill Laurie gởi điện thư cho tác giả và những người khác, 22 tháng 5 năm 2009.

2679   Guenter Lewy, America in Vietnam, trang 156 nêu trong tài liệu của James Banerian và ủy ban Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang 182.

2680   Nancy Zaroulis và Gerald Sullivan, Who Spoke Up, Garden City: Doubleday, 1984, trang 367.

2681   FBI, Los Angeles gởi cho Giám đốc, San Francisco, 7:39 pm 16 tháng 6 năm 1972. 

2682   FBI, Information Digest Special Report on VVAW, 25 tháng 8 năm 1972 nêu trong bài đăng trên mạng của Fedora  FreeRepublic.comhttp:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW

 2683   “Fort Dix Committee Radical to the Core,” Combat (National Review), Bộ 1, Số 29,  1 tháng 11 năm 1969.

2684   Barry Willdorf, Thuyết trình, Protest & Activism Panel, 4TH Triennial Vietnam Symposium, Lubbock, Texas, 11 tới 13 tháng 4 năm 2002.

2685   “Solidarity Committee Writes to U.S. People,” VNA, bằng Anh ngữ, 15:56 GMT 20 tháng 10 năm 1968, Văn khố lưu trử của TTU nêu ra trong sách của Rothrock, trang  135-136 ghi chú 9.

2686   Thảo luận giữa Mao-Trạch-Đông và Phạm Văn Đòng, 17 tháng 11 năm 1968, “Cold War International History Project (CWIHP), www.CWIHP.org  theo sự cho phép của Trung tâm Woodrow Wilson International Center for Scholars.

2687   J. Edgar Hoover được nêu ra trước Thượng viện, Extent of Subversion in Campus Disorders: Hearing before the Subcommittee to Investigate Security Act and Other Internal Security Laws, ủy ban Committee on Judiciary, Quốc hội Nhiệm kỳ 91, Khóa 1, 1969, trang 148.

2688  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành riêng cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 46, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2689   Thơ “Dear Peace Worker” của Ủy ban Tổ chức Los Angeles,  Organizing Committee, Hemispheric Conference to End the U.S. War in Vietnam, Peace Action Council, 15 tháng 10 năm 1968, Tang vật III, của Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 41.

2690  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành riêng cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 45, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2691   “The Seattle Liberation Front,” Information Digest, 2 tháng 5 năm 1970, trang 4   speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html. 

2692   FBI FOIA, Howard Zinn.

2693  Bị nhận dạng như là đảng viên đảng CS Mỹ, HCUA, 1962 bị nêu ra trong phúc trình ở California năm 1970, trang 111 do Max Friedman cung cấp cho Canfield ngày 5 tháng 6 năm 2008.

2694   Frank Wilkinson đã là đảng viên đảng CS Mỹ, 1942-1975. Robert Sherrill, First Amendment Felon, 2005.

2695   Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 32.

2696  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành riêng cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 46, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2697   Như trên.

2698   FBI Information Digest Special Report on VVAW, 25 tháng 8 năm 1972 nói trong Fedora và đăng trên mạng tại  FreeRepublic.comhttp:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW;  Xem thêm: Rothrock, trang 110 ghi chú 55 nêu ra trong Hạ viện, Subversive…New Mobilization…, 1970 VII-VIII.

2699   FBI, Information Digest, Special Report on VVAW, 25 tháng 8 năm 1972 tại WWW.wintersoldier.com

2700   Max Friedman nói với Canfield, 5 tháng 6 năm 2008.

2701   Kalish viện dẫn Max Friedman với Canfield ngày 5 tháng 6 năm 2008.

2702   HISC, Nghiên cứu của Văn phòng, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, XII-XIII.

2703   Hemispheric Conference to End the War in Vietnam, Montreal 1968, Văn kiện lưu trử của Fellowship of Reconciliation, USA, (FOR-USA), DG 013, Đoạn 2, Loạt G, Thư viện Swarthmore College Library. 

2704  Cái nhìn trung thực về Cu-ba, tại ronridenoue.com; sau đó sẽ là Chủ tịch của Ủy ban Harry Bridges Memorial Committee tại San Francisco. http://depts.washington.edu/pcls/chronology-jacoby.html

2705   Dorothy Healy và Maurice Isserman, California Red, trang 147; Trao đổi thư từ của tay cộng sản Mary Inman, Tài liệu giấy tờ của Inman, Thư viện Harvard; nhân vật đáng lưu ý cho J.B. Matthews của ủy ban Thượng viện Internal Security Committee, Bộ Sưu tập của Matthews, Thư viện Đại học Duke University.

2706   FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 276; California, Thượng viện, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 32-33.

2707   Washington Post, 29 tháng 11 năm 1968, trang A-26; Max Friedman nói với Canfield,  5 tháng 6 năm 2008.

2708   Hồ sơ Hoover, “Foreign Influence in the Black Extremist Movement,” 05:50 Hộp  hồ sơ 70, 28 tháng 2 năm 1969. http://www.lexisnexis.com/documents/academic/upa_cis/10756_FBIFileHooverOffConfFile.pdf.

2709  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt Dành riêng cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 22 và 46, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2710   “Hanoi Official Burns 25 U.S. Draft Cards,” Chicago Tribune, 2 tháng chạp năm  1968, trang 8; Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 33-35.

2711   http://www.socialisthistory.ca/Docs/1961-/Vietnam/YS-AntiwarRes-1969.htm#Quebec

2712   Kay Macpherson, Viewpoint, Canadian Broadcasting Corporation National Television Network, 11 tháng giêng năm 1971.

2713   http://home.ca.inter.net/~vow/history.htm và cũng tại  http://aabc.bc.ca/WWW.aabc.archbc/display.UBCSP-969

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #53”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #53 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: