Roger Canfield’s Americong #127

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

***************

Phần VII

Tháng giêng tới tháng 6 năm 1972

 

127. The Air War and POWs, January 1972. 

128. VVAW, Hanoi and East Bloc. 

129. World Assembly for Peace Versailles, France Feb. 11-13, 1972.

130. POW Mail. 

131. NVA’s Easter Offensive:  Outrage over U.S. Strikes March 30- April 26,  1972.

132. The Peace Movement: Intelligence, Espionage and Sabotage.

133. Political Influences: Tom and Jane’s IPC, McGovern, VVAW, and the Party Conventions.

134. The Hardcore Stays with Rock and Bombs.

135. PCPJ, VVAW in Hanoi, Milly-la-Foret.

136. Reporting on War in South Vietnam.

137. Watergate Burglary June 17, 1972.

138. Ron Kovic.

 *****

Chương 127

Cuộc Chiến Bằng Không Quân và Các Tù Binh:

Tháng Giêng 1972

 

Vào đầu tháng giêng năm 1972, Tổng thống Nixon đã phê duyệt để rút thêm 70.000 quân nhân. Nay thì rỏ ràng là Mỹ đã gần như không còn ở Việt Nam nữa. Nixon đã giảm bớt tới 400.000 binh lính nếu so với mức cao nhất đã có là 550.000.

Hăm Dọa Về Một Cuộc Chiến Bằng Không Quân Nhằm Vào Một Cuộc Xâm Lấn Có Thể Có Của Hà-nội

Nay thì trong khi bộ binh Mỹ đã đang rút mất dần thì cả Hà Nội và phong trào phản chiến của chúng mà vẫn cứ luôn luôn phục tùng nhai đi nhai lại quan điểm của chủ bèn cùng chuyển sang các đề tài tuyên truyền về những tác hại của một cuộc chiến tranh do không lực Mỹ đãm trách ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Việc tập trung vào cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ đã trùng hợp với việc Cộng Quân Bắc Việt bắt đầu thảo kế hoạch cho một trận tấn công quy mô vào mùa xuân. Tới tháng chạp, Hà Nội đã thông qua quyết định mở một cuộc tấn công quy mô xâm lấn Nam Việt Nam trong đầu năm 1972, một trong các mục tiêu mà đã từng khích động bọn phản chiến tại Hoa Kỳ. Chúng dự đoán khả năng đáp ứng của Mỹ sẽ là “leo thang” trước sự kiện này và sẽ liên quan “đặc biệt đến không quân”.  Các lực lượng bộ binh Nam Việt rất là đáng nể mà sẽ đối diện chống lại Bắc Việt, cũng đã được chú ý đến hơn nhiều.

Đầu tháng giêng, khi dự đoán sẽ có một cuộc tấn công của quân Bắc Việt, Tướng Abrams có tuyên bố là việc lật đổ chế độ của ông Thiệu và việc hoàn toàn rút quân của Hoa Kỳ sẽ không thể nào sẽ đạt được ngay tại chiến trường mà thôi. “Quý vị cần để ý đến yếu điểm quan trọng nhất trong toàn bộ vấn đề … đó chính là ý chí  của chính quyền Mỹ”. Nếu chúng tấn công và chiếm giữ được một thành phố quan trọng trong một tuần lể, “thì báo chí … sẽ nói là chương trình Việt Nam hóa đã thất bại. … [Điều] quan trọng nhất chính chỉ là sân khấu chính trường Mỹ mà thôi”. 4173

Phóng thích Tù binh để đổi lấy việc chấm dứt cuộc chiến bằng Không quân

Hà Nội và bọn tay sai vẫn cứ tiếp tục liên kết việc phóng thích tù binh vào với mọi đòi hỏi của Bắc Việt. Trong một trao đổi qua điện thoại với Nixon vào ngày 1 tháng giêng năm 1972,  Kissinger có nói, “Phía bên kia đã sử dụng … các tù nhân một cách thật dã man. Tôi đã vẫn luôn luôn nói với các người vợ … Tôi không tin là chồng của quý vị mà lại muốn Mỹ phải đầu hàng”. Nixon bèn trả lời:  “Họ vẫn luôn luôn là những người thiệt sự ái quốc”.  4174

Vào ngày 17 tháng giêng năm 1972, Richard Falk  đã dùng  giấy có in tên tổ chức COLIFAM để gởi thơ cho các người bạn thân mến của những người tù binh, “Việc tiếp tục lại các cuộc không kích với quy mô lớn vào Bắc Việt trong mùa Giáng sinh năm 1971 đúng ra đã phải là mối quan tâm quan yếu cho tất cả chúng ta mà đang tìm cách để kết thúc cuộc  chiến Việt Nam và bảo đảm cho việc phóng thích các tù binh Hoa Kỳ”.  Và “chiến trường nay bao gồm luôn cả  Campuchia với Lào”. Như một lời nhắc nhở là việc tù binh sẽ được phóng thích hay không là phải tùy thuộc vào việc rút quân hoàn toàn của Hoa Kỳ”. Chúng tôi khẩn cầu … phải có một ngày tháng nhất định chấm dứt mọi hành vi quân sự  trước 1 tháng 6 năm 1972 … [Đã] không có cách nào khác để bảo đảm cho việc phóng thích các tù binh. Chúng tôi hy vọng quý bạn sẽ cùng tham gia … để cùng củng cố sự ủng hộ của quần chúng cho quan điểm này”.  4175

Việc Tài Trợ của Tư Nhân cho Phong Trào Phản Chiến

Vào ngày 20 tháng giêng năm 1972, một bữa ăn tối với mục đích đề cao đã  được tổ chức cho Ruth Gage-Colby tại Biltmore ở New York. Một lá thư gởi đi để  tìm kiếm người tài trợ đã có hứa hẹn là tiền đóng góp để đăng các quảng cáo trong một tạp chí kỷ niêm sẽ được miển thuế và “sẽ giúp tài trợ” cho các hoạt động phản chiến. Bức  thư đã khoe về sự đóng góp của Gage-Colby cho hòa bình với tư cách là một phối hợp viên của National Peace Action Coalition (Liên minh Hành động Hòa bình quốc gia), cho biết luôn những chuyến đi của y để gặp bọn Việt cộng tại Budapest và Hà Nội và để nhằm thống nhất các hoạt động của “tất cả các nhóm hòa bình chính yếu”.

Trong số những khách hàng tả phái quen thuộc tại bữa ăn tối đó đã có các thành viên của Quốc hội: Thượng nghị sĩ Frank Church, Thượng nghị sĩ Vance Hartke, Thượng nghị sĩ Walter Mondale, Thượng nghị sĩ John Tunney và các thành viên của Hạ viện, Hạ nghị sĩ Bella Abzug, Dân biểu Herman Badillo, Seymour Halpern, Dân biểu Patsy Mink, Dân biểu Charles Rangel, Dân Biểu William Fitts Ryan, Benjamin Rosenthal và các cựu thành viên của Quốc hội: Robert Abrams, Frank P. Graham, Ernest Gruening, Allard Lowenstein, Wayne Morse và Jeanette Rankin.

Các tay quen thuộc củ thì cũng đã là Roger Baldwin, vợ chồng Leonard Boudin, Katherine Camp, Noam Chomsky, Age Feinglass, Jerry Gordon, Corliss Lamont, Robert Jay Lifton, Linh mục Paul Moore, Victor Reuther, Stanley Sheinbaum, Gloria Steinem, I.F. Stone, Amy Swerdlow và George Wald. Về bọn văn nghệ sĩ thì đã có Ossie Davis, Ruby Dee, Joseph Heller, Murray Kempton, Pete Seeger, và Dalton Trumbo. 4176

Gia đình các Tù binh vận động để hỗ trợ Hà Nội

Vào cuối tháng giêng, tay phóng viên của Pacific News Service và cũng là chủ bút của tờ Rampart’s Asian  4177 là Banning  Garrett đã trở về từ Bắc Việt với 541 lá thơ tù binh. Cora Weiss lại khuyên nhủ các gia đình một lần nữa đừng để ý gì tới Ngũ-giác-đài và không nên gởi thơ cho bất kỳ ai mà không có tên trong danh sách tù binh chính thức của Hà Nội. Đúng với vai trò phát ngôn viên cùng người đưa thư của Hà Nội , 4178  Cora Weiss đã không chịu nhận những thơ gởi cho những người bị mất tích trong khi hành quân hay cả những người đã từng được ghi nhận còn sống nhưng đang bị giam cầm.

Weiss có gởi kèm theo một cột báo của James “Scotty” Reston đề cao những chiến thắng của Bắc Việt tại Campuchia và Lào, và từ đó, đã kêu gọi Nixon phải tránh kéo dài một cuộc thua trận mà thôi. 4179 Trong bài báo này thì không hề có cái tin ngày 2 tháng 2 năm 1972 là Bắc Việt đã xử tử 20 dân làng khi họ không chịu làm theo chỉ thị của chúng. 4180

Robert Miller của ABC New York có hỏi Cora Weiss liệu việc y thị vừa mới chuyển giao được một số lượng lớn thơ tù binh đã có phải chăng là một mưu đồ của Việt cộng nhằm xoa dịu việc Nixon vừa tiết lộ sự hiện hữu của các cuộc hòa đàm bí mật. Weiss đã trả lời là các thơ đều đã được viết trong tháng 10, tháng 11 và tháng chạp trước công bố của Nixon. 4181 Sự kiện y thị đã chuyển thơ chậm trể và cách y thị trả lời đã chứng minh là bọn Việt cộng đã lưu giữ lại số thơ của tù binh và chỉ giao trả đúng vào những thời điểm và địa điểm do Hà Nội lựa chọn với sự đồng lõa tích cực của COLIFAM mà thôi.

Ngày 2 tháng 2 năm 1972, mụ Bình công bố giải thích để làm rõ về đề nghị 7 điểm của MTGPQG (con đẻ của Bắc Việt) và cho thấy là đối với chúng, các tù binh chỉ là những con tin, những tiền bài đặt cọc để mà thương lượng thôi. Vào ngày cuối cùng của việc Mỹ rút quân thì các tù binh rồi cũng sẽ được phóng thích mà. Thiệu thì “phải từ chức ngay lập tức, chính quyền Sài Gòn phải … ngưng thi hành chương trình bình định nông thôn, phải giải tán các trại tập trung”, phải thả tù chính trị và “bảo đảm … mọi quyền tự do dân chủ”.  4182 Không hiểu sao chúng đã không đòi chương trình bình định nông thôn cần phải bị ngưng lại bởi vì nó đã đang rất là hiệu quả.

Sau bảy giờ trao đổi với Xuân Thủy tại Ba-lê vào ngày 5 tháng 2 năm 1972, Richard J. Barnet và Peter Weiss của Viện Nghiên cứu Chính sách (Institute for Policy Studies IPS) đã ra một thông cáo báo chí kiêm bản ghi nhớ cho các gia đình tù binh. Bọn Việt cộng đã nói với Barnet và Weiss là trong các cuộc đàm phán bí mật của Nixon, Kissinger đã không bao giờ đưa ra vấn đề các tù binh, về  tình trạng của họ, về việc phóng thích họ hay tổng số của họ là bao nhiêu. Quá sức là láo khoét. Rồi nào là các cuộc đàm phán chỉ là một trò chơi “nhằm chuẩn bị dư luận cho một sự leo thang kinh khủng  … để không tạc Bắc Việt”.

Cùng một giọng điệu như mụ Bình, trong một vài ngày trước đó, Barnet và Weiss cũng đã tuyên bố là loại bỏ Thiệu, như với Diệm trước đây sẽ rất hữu ích. Một cuộc đảo chính và ám sát đã từng loại bỏ Diệm. Và Lê Đức Thọ đã nói với Kissinger, “Quý vị có thể thay thế (Thiệu) bằng nhiều cách khác nhau … Quý vị  có thể thay thế y … Có quá nhiều cách quá mà”.  4183

Barnet và Weiss đã gợi ý là khi phóng thích tù chính trị tại Sài Gòn, chấm dứt  kiểm duyệt và cho phép những cuộc hội họp về chính trị thì hy vọng có thể dẫn đến một bước khai thông về đàm phán. 4184  Trong khi đó thì chính là Hà Nội, Bắc Việt, chớ không phải là Sài Gòn, mới thật sự có tù chính trị, có kiểm duyệt và không cho biểu tình.

Hà-nội Chuẩn Bị Trận Tổng Tấn Công Năm 1972

Và cũng chính Hà Nội, chớ không phải là Washington, mà đã đang chuẩn bị cho một cuộc leo thang to lớn, cuộc tổng tấn công vào mùa Phục Sinh 1972 khi sử dụng các sư đoàn chính quy Bắc Việt được trang bị do Liên Xô như chúng đã từng thực hiện trong năm 1965 và năm 1968 và sau này nữa là năm 1975.

Trong thực tế, vào tháng 2 và tháng 3 năm 1972, bốn phái đoàn cao cấp Liên Xô đã đến thăm Hà Nội và gồm có: Tổng chỉ huy Trưởng của quân đội Liên Xô là  Nguyên soái Pavel Batitsky, có đi kèm là Chỉ huy trưởng của các Đơn vị hỏa tiễn  Phòng không là Trung tướng pháo binh F.M. Bolddarenko, cùng người đứng đầu lực lượng ‘radar’ phòng không là Trung tướng M.T. Beregavoi. Phía Việt cộng có tham dự đã là Trần Quý Hải và Trần Sâm. 4185 Rất rõ ràng, cả Hà Nội và Moscow đều xem cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ như là một mối đe dọa lớn đối với cuộc tổng tấn công vào mùa Phục Sinh như chúng đã từng dự trù. Quân đội Bắc Việt đã báo cáo có tới 340 tàu Liên Xô từng chuyên chở tiếp tế tới  một triệu tấn hàng hóa trong năm 1971 và UPI thì đã báo cáo là có sự gia tăng về nguồn cung cấp vũ khí phòng không trong năm 1972, 4186 có vẻ là vì dự đoán các cuộc không kích của Mỹ để đáp ứng với bất kỳ cuộc xâm lược nào mà sẽ xẩy ra.

Tờ New York Times sau này thì sẽ tường thuật, “… Mặc dù Nguyên soái Pavel Batitsky, Chỉ huy trưởng của Lực lượng Phòng không Xô Viết, đã đến thăm Hà Nội … và đã ký kết một thỏa thuận viện trợ quân sự to lớn, các lãnh đạo Bắc Việt cũng vẫn không thông báo cho ông ta biết về ngày tháng dự trù cho cuộc tổng tấn công vào Lễ Phục Sinh của họ mà sắp sẽ xẩy ra”.  4187

Đã không sao giải thích được cái tin vô nghĩa mà tờ Times tự nghỉ đáng để loan. Cho dù có chấp nhận là thời gian của chuyến thăm quân sự của cấp cao Liên Xô cũng chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên đáng mừng, chi li phân tích về ngày tháng chính xác kế hoặch của Hà Nội cũng chỉ là trò hề khi mà chính Liên Xô đã cung cấp tất cả các thiết bị cần thiết, đặc biệt là phòng không, thiết giáp và đại pháo, rỏ ràng không phải chỉ là một bữa tiệc trà với thiệp mời có yêu cầu trả lời tham dự hay không, nhưng mà là một cuộc tổng tấn công với toàn thể lực lượng chính quy vào năm 1972.

Haldeman: Các Thành Phần Chống Đối Đã Giúp Đở Và Xúi Giục Địch

Chính quyền Nixon bèn phản ứng lại, trước hết là đối với phong trào phản chiến. Barbara Walters có phỏng vấn Trưởng ban Nhân sự H.R. Haldeman trên chương trình Today Show của đài NBC, và Haldeman đã tuyên bố là các Thượng nghị sĩ Mỹ cũng như  phong trào phản chiến “đã không những cố tình giúp đỡ mà còn xúi giục kẻ thù của Hoa Kỳ”. Họ khuyến khích “thiết lập một chính phủ Cộng sản ở miền Nam Việt Nam”. Trong bài phát biểu trên đài phát thanh ngày 9 tháng 2, Nixon tuyên bố là tuy những kẻ chống đối ông có quyền đề nghị “lật đổ [cái] chính phủ Nam Việt Nam hay … thỏa mãn yêu cầu của địch”, nhưng họ cũng phải “chịu  trách nhiệm trong việc giúp kẻ thù không chịu đàm phán … cho đến sau cuộc bầu cử”. 4188

CBS: Hoa Kỳ Thả Bom Xuống Các Bệnh Viện

Trên chương trình CBS Evening News vào tối thứ tư 16 tháng 2 năm 1972, Roger Mudd đã bắt đầu với một bộ phim  kể chuyện của Banning Garrett về vụ thả bom trong tháng chạp xuống bệnh viện Thanh Hóa ở Bắc Việt Nam. Phim đã trình chiếu cảnh đổ nát cùng các nạn nhân và các bom loại chống cá nhân mà phim đã cáo buộc. Ngũ-giác-đài đã trả lời là Hoa Kỳ không bao giờ thả bom xuống các bệnh viện, nhưng cũng có đưa ra lời giải thích là nếu có thật thì có thể có một lời giải thích khác, đó chỉ là di tích của một chiến đấu cơ phản lực bị bắn rớt mà thôi. 4189

Phụ Đề: CIA Buôn Bạch Phiến?

Banning Garrett đã từng cho thấy là y có thể tin ngay cả những điều kỳ quái nhất  như việc CIA đã phải chịu trách nhiệm về việc buôn bán thuốc phiện ở châu Á  4190  trong khi chính Trung cộng và Bắc Việt, chớ không phải là CIA, đã đang bán sì ke cho  binh lính Mỹ ở Việt Nam. 4191 Bao nhiêu năm nghiên cứu tìm tòi của Joseph Westermeyer và William M. Leary đã không có ảnh hưởng gì trong các mẩu chuyện hoang tưởng quá sức về CIA, chẳng hạn như bộ phim Air America.

Westermeyer có viết,

Các hãng hàng không của Mỹ đã không bao giờ cố ý vận chuyển thuốc phiện ra vô Lào, cũng như các phi công của họ đã không hề bao giờ có lợi lộc gì trong khi làm việc. Tuy nhiên, mọi phi cơ ở Lào chắc chắn vào một lúc nào đó, cũng đã có chuyên chở á phiện mà cả các phi công và cấp chỉ huy của họ cũng không hề biết đến, giống như điều đã từng xẩy ra với hầu như tất cả xe xích lô, ghe tam bản trên sông Cửu Long và các chiếc ‘jeep’ truyền giáo chạy qua lại giữa Trung cộng và vịnh Thái Lan. 4192

Cũng vậy, Ron Chepesiuk đã truy ra được nguồn gốc việc buôn bán ma túy từ Leslie “Ike” Atkinson và William “Jack” Jackson mà đã núp bong tại quán rượu tên Jack’s American Star Bar ở Bangkok. Và sì-ke thì đã không hề bao giờ được  nhập lậu bằng cách dấu trong các quan tài lính Mỹ. 4193

Nhiều người đã không hề tin các điều CBS và Banning Garrett tuyên bố.

Pike Dự Đoán Sẽ Có ‘Night of the Long Knives ~ Đêm Của Những Con Dao Dài’

Vào ngày 17 tháng 2 năm 1972, một tiểu ban thuộc Ủy ban Tư pháp Thượng viện đã công bố một báo cáo theo đó Doug Pike có cảnh cáo là nếu Cộng sản kiểm soát được miền Nam Việt Nam thì có thể có nghĩa là,

Nếu bọn Cộng sản dành được chiến thắng … thì tương lai sẽ là gì?

Trước hết thì mọi người ngoại quốc đều sẽ bị đuổi đi khỏi …. nhất là mấy trăm phóng viên ngoại quốc . . .

Một bức màn ngăn cách không tin tức gì sẽ hạ xuống.

Sau đó sẽ bắt đầu một đêm dài đầy gươm đao.

Cộng sản sẽ tạo ra một sự im lặng. Thế giới thì sẽ gọi đó là hòa bình”. 4194

 

Nhưng báo cáo này của Pike tại Thượng viện đã hoàn toàn không được ai chú ý tới.

George Wald tại Hà-nội

Vào cuối tháng 2 năm 1972, tay đoạt giải Hoà Bình Nobel là George Wald đã đến Hà Nội sau 5 tuần ở tại Trung Quốc. Wald đã phỏng vấn tù binh David Wesley Hoffman và bốn tù binh khác rồi tuyên bố là Mỹ đã cố tình thả bom các mục tiêu dân sự cùng các bệnh viện, đã sử dụng bom lữa ‘napalm’ và bom mảnh một cách vô nhân đạo, còn các tù binh thì đều được trong tình trạng tốt, được ăn uống và chăm sóc đầy đủ . 4195  Wald đã tuyệt đối chỉ lặp lại như một con két từng điểm của Hà Nội. Sau đó thì Wald bày tỏ quan điểm, đúng y hệt theo với Hà Nội, về các vấn đề như thơ từ tù binh, việc rút quân Mỹ, việc các tù chính trị ở Sài Gòn và chính sáh không tạc rất ư là vô nhân đạo. 4196

Không Kích Các Vị Trí Hỏa Tiễn SAM

Từ tháng 11 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, Tổng thống Nixon đã ra lệnh 20 vụ không kích nhằm tấn công các vị trí trang bị hỏa tiễn SAM bởi, vì đó là những mối hiểm nguy đối với phi cơ Mỹ. Tướng John D. Lavelle đã công khai bị cáo buộc quyết định mà không được phép và bị cách chức về kỹ luật. Nixon đã có nói: “Quyết định cách chức và buộc về hưu của ông ta là đúng”, mặc dù trong chốn riêng tư thì Nixon lại cho biết: “Tôi chỉ  muốn ông ta không phải đóng vai con cờ thí, Chúa ơi” và “Đúng thật là tàn tệ. Và đó quả là một sự sĩ nhục cho ông ta, Henry à”. Kissinger bèn trả lời: “Tôi nghĩ là vụ này rồi sẽ đi vào quên lãng mà thôi”. Chỉ trong hai tháng sau thì các vị trí SAM đã sẽ lại nằm trong danh sách các mục tiêu được chuẩn phê để đánh triệt, 4197 nhưng danh tiếng của Tướng Lavelle thì đã lại đã bị hoàn toàn tiêu tan.

*****

 

4173   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 352.

4174  Richard M. Nixon, Henry A. Kissinger, Điện thoại Tòa Bạch Ốc, Trao đổi số 17-125, 1 tháng giêng năm 1972, 10:57 am -11:19 am, trích lục số 6.

4175  Richard Falk gởi cho Các Bạn Thân Mến, COLIFAM, 17 tháng giêng năm 1972.

4176  Dear friend of Peace letter (Quý Bạn Thân mến của Bức thơ hòa bình) , Ủy ban Khai trình Ruth Gage-Colby Testimonial Committee, ấn định vào ngày 20 tháng giêng năm 1972 tại Biltmore ở New York. Bản sao mà tác giả có là do Max Friedman gởi cho. 

4177  Banning Garrett, “The Strange Economics of the Vietnam War,” RAMPARTS, Bộ 10, Số 5. Số Tháng 11 năm 1971.

4178  Cora Weiss gởi cho Các Bạn Thân Mến, COLIFAM, 31 tháng giêng năm 1972.

4179  James Reston, “Nixon Report: Shrewd Politics, But no Peace,” New York Times,  26 tháng giêng năm 1972.

4180  AFP, “Monk Says North Executed Villagers ~ Các Vị Sư Cho Biết BắcViệt ã Xử Ti73 Dân Làng”, Washington Post, 2  tháng 2 năm  1972.

4181  FBI, New York gởi Giám đốc, COLIFAM IS- New Left, NITEL 1:23AM, 1 tháng 2 năm 1972; FBI, New York, LHM, COLIFAM, 10 tháng 2 năm 1972.

4182  Tìm thấy được trong đồ đạc của quân nhânMỹ từng bị bắt giam ở Bắc Việt về những gì liên quan đến thơ từ COLIFAM đã gởi cho gia đình của họ, 17 tháng 3 năm 1972.

4183  Lợi và Vũ, Các cuộc thảo luận nêu ra trong sách của Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 106

4184  Richard J. Barnet và Peter Weiss, “Memo to: Families of Prisoners of War, Chủ đề: Các biến chuyển gần đây chung quanh vụ Hòa đàm Ba-lê “Recent activity around the negotiations in Paris”, Công bố Báo chí ~ News Releases, 7 tháng 2 năm 1972.

4185  “Soviet Chief of Staff Kulikov Holds Talks in Hanoi”, FBIS Trends, 31 tháng chạp năm 1974, trang 11.

4186  VNA, 27 tháng 3 năm 1972; K.C. Thaler, UPI, London, 23 tháng 2 năm 1972, cà hai đều được nêu ra trong J.C.K., “Hanoi’s Growing Soviet Ties,” Radio Free Europe Research,  27 tháng 3 năm 1972 có trên liên mạng tại Open Society Archive, 67-4-164. Batitsky đã là một tay để tiếp xúc và sử dụng, tên được chỉ định để ám sát trưởng mật vụ Lavrenty Beria vào năm 1953 theo lời của Trung Tướng Vadim Volkovitsky vào tháng 6 năm 2010.

4187  Stephen J. Morris, “The War We Could Have Won,” NY Times, 1 tháng 5 năm 2005.   http://www.nytimes.com/2005/05/01/opinion/01morris.html?pagewanted=print&position=s

4188  Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 119

4189  CBS Evening News for Wednesday, 16 tháng 2 năm 1972, Abstract and Metadata, đại học Vanderbilt University, 1972-2007.

4190  Frank Browning và Banning Garrett, “The CIA and the New Opium War,” Ramparts, Số Tháng 5 năm 1971.

4191  Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991.

4192  Joseph Westermeyer, Poppies, Pipes and People: Opium and its Use in Laos, Berkeley: University of California Press, 1982,  trang 51 viện dẫn William McLeary, “Supporting the ‘Secret War’: CIA Air Operations in Laos, 1955-1974,” cia.gov/libray/center-for-the-study-of-intelligence/Kent-csi/docs/v43i3a07p.htm.

Vai trò của CIA đã bị cáo buộc trong tài liệu của Christopher Robbins, Air America: The Story of the CIA’s Secret Airlines, New York: G.P. Putnam’s Sons, 1979, trang 138.

4193  Ron Chepesiuk, Sergeant Smack: The Legendary Lives and Times of Ike Atkinson, Kingpin and His Band of Brothers, Rock Hill and Thunder Bay: Strategic Media, 2010 ~ điểm sách trên Liên mạng bởi Bertil Lintner, Asia Times Online.

4194  Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 42; cũng được nêu ra tại Quốc hội Mỹ, Ủy ban Tư Pháp, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington, U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2 năm 1972, trang 2-3.

4195  Clinton, The Loyal … trang 237-242.

4196  Tài liệu giấy tờ của George Wald, các hộp 4, 19, 27, 103 tại oasis.lib.Harvard.edu/oasis/deliver.

4197  Richard Sisk, “Nixon Transcripts: Air Force General John Lavelle wrongly took the fall for secret bombing of North Vietnam,” Daily News,  6 tháng 8 năm 2010; Bài xã thuyết Editorial, New York Times, 7 tháng 8 năm 2010.

 *****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #127”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #127 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: