Roger Canfield’s Americong #132

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

**************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 132

 Phong Trào Chủ Hòa:

Dấn Thân vào Hoạt Động Tình Báo,

Do Thám và Phá Hoại

 

Trong khi Liên Xô thì cung cấp thông tin tình báo vệ tinh cho Bắc Việt  4270

và Trung cộng với Cuba cung cấp bọn thẩm vấn viên dành cho tù binh Mỹ thì phong trào phản chiến, đệ ngũ lộ quân của Việt cộng cũng đang trong Mặt trận thứ hai giúp thu thập rất đáng kể về tin tình báo quân sự .

USSF, Fonda, VVAW và các tên khác đều nuôi dưỡng phong trào GI Coffeehouse ~ Quán Cà-phê Lính Mỷ hầu cung cấp cho phong trào phản chiến cùng Hà Nội một hệ thống tình báo vừa bí mật vừa công khai, núp lén ngay trong cảnh thanh thiên bạch nhựt”. Bọn cựu chiến binh phản chiến và thường dân trong phong trào Coffeehouse GI … đã tận dụng chiến thuật gọi điện thoại để liên lạc các căn cứ quân sự hầu cố tìm hiểu những chuẩn bị [quân sự] và báo động những gì sẽ xảy ra, nếu quả có thật”.  4271

Vào tháng 2, Al Hubbard đã khiến bọn đồng chí tại Versailles của mình kinh ngạc khi tiết lộ các chi tiết về quân đội Mỹ và các di chuyển của các chiến hạm Mỹ. Theo tờ Daily World, bọn VVAW đã công bố “một tài liệu 24 trang có đầy đủ tin tức về không quân, hải quân và các cuộc thao diễn quân sự … thu thập được từ các quân nhân hiện dịch trong cả nước và luôn ở Việt Nam”. Tên  lãnh tụ của  VVAW Detroit là Bill Marshall đã từng phàn nàn là FBI đã nghỉ là VVAW chỉ toàn là “bọn gián điệp, xâm nhập và phá hoại.”  4272

Tại một bữa tiệc nhân cuộc họp khu vực của VVAW Colorado, Tim Butz, 4273 một chuyên viên liên lạc trong khu vực  4274 và cũng là lãnh tụ quốc gia đã được nghe nói là VVAW đã đang “cố gắng thu thập tin tình báo  … [về] cuộc chiến tranh bằng không quân tại Việt Nam … để chuẩn bị chiến lược và hành động phản chiến tại Hoa kỳ…”. 4275 Tim Butz sau này sẽ phục vụ với tư cách chủ bút 4276 của tờ CounterSpy. Ấn phẩm này đã từng tiết lộ lý lịch của các nhân viên CIA khiến cho một số sau đó đã bị ám sát chết.  

Tại Nhật Bản vào cuối tháng 2, Al Hubbard của VVAW đã tuyên bố là trong thời gian trong quân ngũ, y đã từng tham gia vận chuyển vũ khí hạt nhân tới Nhật Bản, nơi mà những ký ức khủng khiếp ở Hiroshima và Nagasaki vẫn còn hiện hữu. Đám tài trợ cho Hubbard tại Nhật Bản là Gensuiko, đã tổ chức những lể tưởng niệm hàng năm cho các vụ bỏ bom ở Hiroshima và Nagasaki và ủng hộ cho việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, Hàn Quốc và Okinawa. 4277

Information Office of U.S. Forces (Văn phòng Thông tin của Quân đội Mỹ) ở Nhật Bản bèn phủ nhận những tuyên bố của Hubbard bằng cách phân phối một bản sao của tạp chí Air Force Magazine tháng 6 năm 1971. Al Hubbard, kẻ từng đã tuyên bố mình là một sĩ quan phi công chiến đấu có rất nhiều huy chương thì thực ra chỉ là một viên trung sĩ văn phòng về tiếp liệu không hề bao giờ đi phục vụ tại Việt Nam, hay có được thưởng một huy chương nào cả. 4278

Theo người mật báo viên của FBI thì vào đầu tháng 4, Bart Savage thuộc  VVAW Chicago, có phát biểu tại một cuộc họp VVAW ở Houston, Texas là phân bộ của y có “duy trì liên lạc chặt chẽ với Military Project (Dự án Quân sự) trong khu vực Chicago mà … đã có những liên hệ quân sự với các căn cứ trên toàn thế giới”. Savage khoe khoang là viên chỉ huy của căn cứ Naval Air Station Glenview đã bị mất tới ba cơ hội thăng chức vì VVAW đã tổ chức được một cuộc “náo động” từng phá vỡ được một buổi lễ tại căn cứ đó. 4279

Al Hubbard cho biết có một tổ chức ở New York tên gọi là The Day After, TDA (Ngày Hôm Sau), sẵn sàng ra tay trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công của Mỹ. 4280 VVAW sẽ phản ứng ngay tức thì. Bọn VVAW đã làm việc chặt chẽ với một nhóm chung gọi là Ad Hoc Military Build-up Committee. AHMBC mà đã chính là con đẻ của National Action/Research on the Military/Industrial Complex, NARMIC (Hành động Quốc gia / Nghiên cứu về các tổ hợp Quân sự / Kỹ nghệ).

Trong tháng 9 năm 1969, tại Philadelphia, tổ chức American Friends Service Committee, AFSC (Ủy ban Dịch vụ các Người bạn Mỹ), Institute for Policy Studies, IPS (Viện nghiên cứu chính sách) có dính líu với Liên Xô và Cuba, North American Congress On Latin America, NACLA (Hội Bắc Mỹ về châu Mỹ La tinh) thân Castro, đã đứng ra tổ chức NARMIC. 4281 Ít ra thì trể nhất là vào cuối tháng 11 năm 1973, các tấm chi phiếu cũng đã được viết cho American Friends Service Committee/NARMIC 4282  mà đã đóng vai mặt nổi công khai cho các tên thân cộng bảo trợ cho NARMIC.

AHMBC, một liên minh gồm các nhóm Chicago Area Military Project của  VVAW và GI Movement cũng của VVAW và Antiwar GI Press của Student Mobe, đã duy trì các mối liên hệ tích cực cũng như là lo thu thập tin tình báo trong các căn cứ quân sự khắp thế giới. Phối hợp viên khu vực VVAW là Mike Roche rồi sẽ thu xếp cho AHMBC ráng thu thập tin tức về hoạt động quân sự của Mỹ để phổ biến cho giới truyền tin phản chiến.

VVAW Thu Lượm Tin Tình Báo Về Các Cuộc Chuyển Quân

Cuộc họp của VVAW ở Houston, Texas vào những ngày 7 tới 11 tháng 4 đã tiết lộ sự kiện là các tin tình báo cụ thể đã được biết đến một cách rộng rãi ngay cả trước ngày 15 tháng 4. 4283 Vào ngày 8 hoặc 9 thì tin tức về quyết định đặt trong tình trạng ứng chiến mọi căn cứ trên toàn quốc đã được Đại Hội phải tạm ngưng chương trình đã định để công bố nó.

Nói chung thì hệ thống thu thập tin tình báo của VVAW đã báo cáo được là có 6 chiến hạm, 181 phi cơ, 11.000 quân nhân đã được điều động và trong vòng 48 tới 72 giờ tới thì sẽ có thêm 160 phi cơ, 5 tàu, và 5.500 quân nhân sẽ được đưa đến Nam Việt Nam. Và cũng đã rời bến nhưng vẫn chưa biết được nơi đến thì đã có 21 chiến hạm, 173 phi cơ, 8.500 quân nhân. Rồi cũng sẽ đi đến các địa điểm không rõ trong một vài ngày sắp tới sẽ có  5 chiến hạm​​, 115 phi cơ và 1.300 quân nhân. 4284

Thông tin của VVAW đã đều rất cụ thể: báo cáo là hàng không mẫu hạm USS Midway đã đi Việt Nam sớm, chiếc USS Kearney thì đang hoạt động ngoài khơi Việt Nam và chiếc USS Constellation thì được lệnh vẫn ở lại thay vì được rút về. Các căn cứ được đặt trong tình trạng báo động đã là Lowery AFB, Co.; Fort  Bragg, Trung Tâm Huấn Luyện Hạ sĩ quan; Loring AFB (nguyên tử), Maine, Hanscomb Field, Massachusetts; Sư đoàn 3 Thủy quân lục chiến, Okinawa; Fort Sill, OKinawa.

Bên bờ biển phía Tây thì tất cả các F-104 đều đã biến mất. Tại căn cứ Travis AFB, California thì  tất cả các vận tải cơ đều được đã được kéo ra ngoài sân bay và 1.000 quân nhân đã bị đặt trong tình trạng báo động. Căn cứ Westover AFB, một tổng hành dinh của Strategic Air Command (Bộ Chỉ Huy Chiến Lược Không Quân), đã chuẩn bị sẳn sàng 21 B-52 cùng phi hành đoàn và 310 nhân viên.

Tại Trại Pendleton, California thì Sư đoàn 7 Thủy quân Lục chiến đã được đặt trong tình trạng ứng chiến 100%. 4285

Tại căn cứ Bertram AFB, “tất cả các phi cơ lớn đều bay đi đâu mất và mọi Phantom [F-4] đã được sơn lại màu xanh lá cây rừng”.

Đã có rất nhiều nguồn cung cấp tin tình báo và đó là: John Roach, “Intelligence Center ~ Trung tâm Tình báo” ở Cambridge, Massachusetts; John Trovaso (Boston); Mike Wade (Tulsa); Chicago Military Project, 4286 và “mọi thành viên đang sinh hoạt trên toàn quốc”. FBI đã cho thêm vào danh sách này  hai nhóm GI Movement và GI Press. 4287

Ngày 12 tháng 4, một bản ghi nhớ của Phó Giám đốc FBI là E.S. Miller cho biết, “đã thật rõ ràng cho các mật báo viên [có tham dự các cuộc họp ở Houston]  là VVAW đã phát triển được hệ thống gián điệp cực kỳ rộng rãi bao gồm các căn cứ quân sự đang hoạt động …”. 4288 Bản ghi nhớ đã liệt kê các tin tình báo nêu trên.

Một bài báo có tựa đề “Military Buildup ~ Tăng cường Quân sự” trong số tháng 4 năm 1972 của SOS News có tường trình rất chi tiết về việc điều quân hay những lần báo động để huy động lực lượng cho Việt Nam như là 37 chiến hạm, 650 phi cơ và 33.000 quân nhân. Bọn “Ad Hoc [Military Buildup] gồm [có] các nhóm GI và VVAW” đã “thu thập tin tình báo này”. Bài báo của tờ SOS News cũng có tường trình về các cuộc biểu tình, các vụ tụ hợp cùng các lể cầu nguyện tại nhiều căn cứ quân sự. 4289

Ngày 27 tháng 4 năm 1972, một mật báo viên đã chuyển cho văn phòng Baltimore của FBI bản sao của một báo cáo tình báo quân sự dài sáu trang lấy được từ văn phòng VVAW ở Cambridge, Massachusetts 4290 mà đang do Mike Roach điều hành. Ngày 20 tháng 6 năm 1972 thì dân biểu Solomon đưa vào lưu trử ký lục số 59 bản báo cáo ngày 15 tháng 4 về “Overall Summary, Ad Hoc Military Build Up Committee”. 4291 Báo cáo dài mười hai trang này đã được thu thập suốt trong hai tuần và đã lấy tin từ 38 nguốn tin có biết lý lịch tại địa phương và đã bị công bố ngay cả trước khi các đơn vị được điều động đi nhằm ngăn chặn việc Mỹ bảo vệ Nam Việt Nam nhân trận tổng tấn công mùa Phục Sinh của Bắc Việt mà đã bắt đầu vào ngày 30 tháng 3 năm 1972.

Các tiết lộ  của VVAW và ủy ban Ad Hoc đã được thực hiện từ 3 tới 4 tuần ngay  trước cả khi Ngũ-giác-đài mới chính thức tường trình về các vụ tái phối trí lực lượng Mỹ. 4292  Trung tá James Rothrock (USAF – Đã về hưu) đã tố cáo đó là những tiết lộ bất hợp pháp, phản quốc cũng như là phản nghịch. 4293

38 tên tuổi mà đã cung cấp tin tình báo quân sự cho Ad Hoc Military Build Up Committee trong bản tưòng rình ngày 15 tháng 4 năm 1971 thì đã là: Steve Dilts, Gene Parker và Jim Walkly của Liberated Barrack, một quán GI Coffee House  ở Honolulu; Ruth của Pacific Counseling Services, Tokyo; Kent Hudson , Center for Servicemen’s Rights, San Diego; Mike Buckley , VVAW , Cambridge; “Dale ” Angeles City , Philippines; Katherine Robert và Nancy Hause, phụ trách tại căn cứ Travis AFB , Fairfield , CA; Alan Miller , Pacific Counseling Services, phụ trách tại căn cứ Hamilton AFB, Novato, CA; Robert Ratford, Shelter Half Coffee House phụ trách vụ  Tháng Ba ~ March AFB (một lỗi trong bản gốc, Shelter Half Coffee House nằm bên ngoài căn cứ Fort Lewis, Tacoma, Washington); Terry Christian của Los Angeles SOS, phụ trách Norton AFB, Redlands, CA; Tim McAfee phụ trách căn cứ Mather AFB, Sacramento; Stan Richardson của The Covered Wagon, Mt. Home AFB, Mt. Home, Idaho; Tom Spaulding , The Covered Wagon, Shaw AFB, Sumter, South  Carolina; Buddy Tiger , Johnson AFB , Goldboro, NC; Fred Breukblman, Dover AFB, Dover, Delaware; Lisa Schiller , McGuire AFB, Wrightstown, New Jersey; Chuck Harrison, Plattsburg AFB, Potsdam, NY; Fred Miller, Westover Action Project, Westover AFB, Chicapee, Massachusets; Tom, Frank Neisser, LISP, Hanscom Field, Bedford, Massachusetts; Jim Page , Loring AFB, Caribou, Maine; David Jones, Norfolk, VA; George Stein và Mike Roche, Ad Hoc Military Buildup Committee, Cambridge, Massachusetts; Tom, PCS, Oakland; Lenny Spiegle, PCS, California; Mike Oliver, San Francisco; Bill Marshall, VVAW, Detroit; Matt Renauldt , Không quân Hoa Kỳ. 4294

Tình báo của bọn phản chiến về những phối trí lực lượng của quân đội Mỹ quả thật khá tốt.

Vào đầu tháng 4, Nixon đã triệt để gia tăng các lực lượng: tới ngày 20 tháng 5 thì đã tăng gấp đôi số chiến đấu cơ, oanh tạc cơ cùng B-52 của Không quân, tăng gấp ba lần số các hàng không mẫu hạm và phi đội của Hải quân  từ 2 lên đến 6 chiếc; đưa tới 6 tuần dương hạm và 44 khu trục hạm tuần phòng ngoài khơi; và gấp bốn lần số phi vụ từ 4.000 trong tháng 3 lên đến 17.000 trong tháng 4.

Đây chính là cuộc chiến tranh bằng Không Lực mà Hà Nội đã từng lo sợ và đã không thành công gây áp lực để tránh nó với sự giúp đỡ tận tình của phong trào phản chiến. Pháo từ ngoài khơi đã giúp lực lượng đồng minh tại Quảng Trị và Huế. B-52, chiến đấu cơ và phi cơ có vũ trang đã giúp bảo vệ được Kontum và An Lộc. C-130 và trực thăng đã tiếp tế và tản thương cho Nam Việt Nam. Việc không tạc và thả thủy lôi phong tỏa ở miền Bắc đã làm tê liệt các đường tiếp tế của Liên Xô và Trung cộng. 4295

Phong Trào Phản Chiến Đáp Ứng Lại Chính Sách Bảo Vệ Nam Việt Của Mỹ

Zaroulis có viết: “Phong trào phản chiến đã được báo trước (hai ngày) về vụ không tạc Hà Nội-Hải Phòng” vào ngày 15 tháng  4 năm 1972. 4296

Trên thực tế thì đã có báo động trước đó gần cả tới một tuần lể.

Ngày 17 tháng 4 năm 1972, VVAW, Phong trào Giải Phóng Đồng Tính (Gay Liberation Movement) và các nhóm Trotskyite cùng nhau tề tựu ở Austin, Texas để tuyên bố là vụ không tạc Bắc Việt Nam đã là “vụ đánh bom man rợ lên đầu thường  dân”.  Một thành viên VVAW [bị kiểm duyệt] đã đọc sáu trang mô tả rất chi tiết về các hoạt động của quân đội Mỹ và các chuyến chiuên chở vật liệu từ Mỹ đến Nam Việt .

Văn phòng San Antonio FBI đã tường trình, “thông cáo đã liệt kê theo tên và tầm cở của hơn ba mươi chiến hạm và nhân viên phụ thuộc của Hải quân Mỹ cũng như là các đơn vị TQLC, Bộ Binh và Không quân mà có luôn cả lý lịch của đơn vị gốc và nơi đến ngay trong nhiều trường hợp”. 4297

Al Hubbard có cho biết là chính Soviet Peace Council của Liên Xô đã trang trải chi phí cho y đi châu Âu. Như vậy thì Liên Xô có vẻ đã dùng đáng đồng tiền  4298 trong điệp vụ tình báo về việc phối trí lực lượng của Mỹ nhằm chống trả lại cuộc tổng tấn công mùa Phục Sinh của Hà Nội.

Trung tâm Tình báo VVAW,  trước khi đóng cửa, đã chơi một cú chót khi công bố là Nixon từng thuê Rand Corporation làm một nghiên cứu là “công luận sẽ phản ứng ra sao” nếu hủy bỏ không bầu Tổng Thống trong năm 1972. 4299

Tuy nhiên bất kể phong trào chủ hòa đã nổi cơn điên cho tới đâu thì vẫn đã có không ít hơn là 59% người dân Mỹ tiếp tục ủng hộ việc không kích Hà Nội và Hải Phòng, 4300 đã chỉ thực hiện được chính là nhờ các vụ tái phối trí lực lượng quân sự mà thôi.

FBI và Quân Đội Không Thấy Được Tầm Quan Trọng của Công Tác Thu Thập Tin Tình Báo từ bọn VVAW

Sau khi thảo luận cùng các giới chức quân sự, FBI Sacramento đã tường trình là  những tình báo đó cũng có sai lầm, là các tin tức đó thì cũng đã được phổ biến trong công chúng rồi, và “việc tiết lộ đã được chuẩn bị cẩn thận để không vi phạm các điều lệ đã được quy định”. 4301 Tương tự như vậy, San Diego FBI đã báo cáo là các tin tình báo đó đã không có tính cách cụ thể, đã không được xác nhận hay chỉ đã được công bố sau khi sự việc đã xẩy ra mà cũng chỉ là loại tin không cần bảo mật mà thôi. 4302 Các thông tin này đã không đến từ những tài liệu chính thức đã được phân loại, nhưng mà là từ những mối liên lạc của AHMBC và VVAW trên toàn thế giới. Một Bản Thông Tin Ghi Chú (Informative Note) thuộc Đơn vị An Ninh Quốc nội đã báo cáo là có một số điện thoại của AHMBC đã bị cắt rồi, 4303 đang “điều tra cặn kẻ [để] khã dỉ phát hiện thêm yếu tố luật định cho phép truy tố các vi phạm về gián điệp …”. 4304

FBI đã chính là cơ quan phải thực thi  luật pháp mà.

Các báo cáo của các giới chức quả đã không để ý đến nhiều chi tiết. Thông thường chính những tin tình báo có giá trị nhất đều đã có được do những  nguồn tin công khai được phổ biến cho công chúng và chính bọn VVAW cùng các đám khác đã từng tích cực và công khai tuyên bố mục tiêu của chúng chỉ là để hỗ trợ địch trong thời chiến. Chúng đã là những đối tác tự nguyện sẵn sàng trong cuộc đấu tranh chính trị của Hà Nội gọi là địch vận, ngay bên trong quốc nội Hoa Kỳ và chính Hà Nội cũng đã yêu cầu chúng phải thu thập tin tình báo về quân sự.

Quả thật là FBI sẽ gặp nhiều khó khăn và bị lẫn lộn khi ráng phân biệt giữa chiến tranh với  tội phạm và đôi khi giữa hành vi tình báo và tội về hình sự, mãi cho tới và sau ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Trong khi đó, trong năm 1972, một đám đã sẽ tiến xa mãi hơn trên con đường  phản quốc.

Điệp Báo: Việt Cộng Tìm Tòi Tin Tình báo Về Các Vũ Khí Mới của Mỹ

Bắc Việt đã yêu cầu phong trào phản chiến tham gia vào các hoạt động gián điệp. Từ ngày 20 đến 27 tháng 7 năm 1972, Anti-War Union (Nghiệp đoàn Phản chiến), một con đẻ từ PCPJ của Rennie Davis 4305  và trực thuộc Weather Underground đã bảo trợ cho một “phong trào” mà trong đó có Colin Stuart Neiburger, Marsha Rhoda Steinberg, Carole Cullum để đi Ba-lê gặp bọn Bắc Việt:

“Bắc Việt … nói là họ sẽ quan tâm về bất kỳ thông tin nào … liên quan đến việc phát triển vũ khí mới của Mỹ …. Những thông tin này sẽ đặc biệt rất là hữu ích … trước khi các loại vũ khí này sẽ được sử dụng thực sự ngay trên các chiến trường”. 4306

Việt cộng cũng có phổ biến loại các bài tuyên truyền  phản chiến mới nhất của chúng 4307 cho đám điệp viên vừa mới thu nạp được. Vào tháng 10, thành viên VVAW Steven Hawkins đã trở về từ Copenhagen, Đan Mạch sau khi dự một cuộc họp mà y đã đứng ra làm chứng về “Corona Harvest”, loại thử nghiệm về các chất khí mới và các loại vũ khí nhắm vào cá nhân. Hawkins đã có mặt tại Việt Nam trong tháng 2 và đã biết được về kiểu chiến trận tự động bằng hóa bằng Không Quân và điện tử. Hawkins cho biết chính Liên Xô đã trả tiền vé máy bay cho y tới Copenhagen. 4308

Việt cộng rồi thì cũng sẽ là những kẻ đấi tiên đích than được nếm mùi loại vũ khí mới gọi là bom thông minh, trong tháng chạp năm 1972 ngay trên bầu trời Hà Nội.

FBI Truy Lùng bọn Weather Underground Bất Hợp Pháp

Trong khi đó, FBI đã cố gắng để tìm bắt các tên đang đào tẩu của tổ chức bất hợp pháp Weather Underground. Tuy nhân viên FBI  tên Ed Miller có tuyên bố nhưng Giám đốc FBI Clarence Kelly thì lại phủ nhận là FBI đã có biết về một số từ 14 tới 18 lần đột nhập bất hợp pháp trong mấy năm 1972-1973. 4309 Hồ sơ lưu giữ có cho thấy rằng Toán Squad 47, Phân bộ 4 của Văn phòng New York đã thực hiện những vụ này. 4310  Toán này theo dõi chủ yếu là bọn thành viên của Weather Underground bất hợp pháp.

Những đột nhập lén lút  này đã xẩy ra tại các địa chỉ liên lạc của Mark Rudd (15 tháng 2 năm 1972), 4311 Bernardine Dohrn Rae (Jennifer Dohrn và Judith Alice Clark) thì là vào các ngày 7 và 23 tháng 3, 4 tháng 4, 5 và 12 tháng 6 năm 1972, ngày 11 và 20 tháng chạp năm 1972 thì là tại cà hai nơi đó), Howard Machtinger (Leonard Machtinger ngày 16 tháng 4 năm 1973), 4312 “Van Lydegraf,” 4313 và Judith Flatley. 4314  Các mục tiêu khác bao gồm tổ chức VVAW (tháng 11 năm 1972), Đảng  Black Panther (tháng 11 năm 1970) 4315 và các mục tiêu khác mà tên tuổi đã bị kiểm duyệt. 4316

Cấp chỉ huy FBI đã nghỉ là các hoạt động của bọn Weathermen và Black Panthers đã khiến chúng trở thành những mục tiêu có tính cách quốc tế chớ không còn là những mục tiêu quốc nội nữa. Bằng một cuộc bỏ phiếu bốn chống không, cả Ủy ban Phân Tích Lệnh Hành Pháp số 11652 và luôn Bộ Tư pháp, vào ngày 4 tháng 4 năm 1976 đã cùng kết luận là việc điều tra bọn Weatherman là đúng với lợi ích về an ninh quốc gia và các nguồn tin cũng như phương pháp quốc nội, kể cả dùng điềm chỉ viên và các cuộc đột nhập lén lút, đều cần được bảo vệ trong khi điều tra vì chúng rất cần thiết.

Ủy ban Phân Tích đánh giá cuộc điều tra bọn Weathermen như là một vấn đề “an ninh quốc gia dựa trên … [cả] chủ trương lật đổ chính phủ cũng như công khai sử dụng bạo lực hầu đạt được mục đích này. Quyết định này quy định là các nguồn cung cấp tin và các phương pháp tình báo, kể cả những mật báo viên cùng những đột nhập lén lút sử dụng trong việc điều tra tổ chức Weatherman, đều được xem như là mật và có tính cách chính đáng vì lợi ích an ninh quốc gia”.  4317

Các cuộc điều tra kế tiếp rồi những vụ truy tố đã kết thúc với việc kết án các viên chức FBI là E.S. Miller và Mark Felt để rồi Tổng thống Ronald Reagan sẽ ra Lệnh hành Pháp tha thứ cho cả hai.

*****

4270  Epstein, Deception…, trang 97.

4271  Zaroulis, Who spoke…

4272  “Vietnam Veterans Against the War,” Information Digest, 25 tháng 8 năm 1972, trang 10 được nêu ra trong một bài trên Daily World, không nghi ngày tháng.

4273  VVAW, Organizing Committee for the Fifth Estate (OC-5), sau này là báo Counterspy magazine (Phil Agee).  Cũng như với một nhóm tên gọi là PEPIC, tiền thân của  OC-5. Max Friedmancho tác giả biết, 25 tháng 2 năm 2008.

4274  James A. Michener, Kent State: What Happened and Why, New York: Random House, 1971, trang 98.

4275  Phúc trình FBI, Denver,  “VVAW National Steering Committee Meeting, Denver, Colo, February 18-21, 1972, Internal Security-new Left”, 17 tháng 3 năm 1972, trang 8.

4276 Angus Mackenzie, các trích dẫn từ “CIA Censors Books Bush Perfects the Cover-up”, Secrets The CIA’s War at Home, Đại học University of California Press, 1997. http://www.thirdworldtraveler.com/CIA/CensorsBooks_SecretsCIA.html

4277  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”, 20 tháng 8 năm 1976, trang 147.

4278  “Hubbard Lied About His Military Career, Mainichi Daily News, 4 tháng 3 năm 1972; “US Forces Hit Back at Ex-Sergeant”, Japan Times, 4 tháng 3 năm 1972 tại FBI, FOIA, V, VVAW.

4279  Phúc trình FBI, Houston, “VVAW National Steering Committee Meeting, Houston, Texas, April 7-11, 1972”, 11 tháng 5 năm 1972, trang 28.

4280  Phúc trình FBI, Houston, “VVAW National Steering Committee Meeting, Houston, Texas, April 7-11, 1972”, 11 tháng 5 năm 1972, trang 34.

4281  FBI Information Digest Special Report on VVAW,  25 tháng 8 năm 1972 được nêu trong bài đăng của Fedora tại  FreeRepublic.comhttp:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW

4282  Một mục quảng cáo đương thời; Xem thêm, NARMIC,một dự án của AFSC, Văn khố Catholic Peace Fellowship Records, đại học University of Notre Dame Archives, hồ sơ CCPF 5/01.

4283  Phúc trình FBI, Houston, “VVAW National Steering Committee Meeting, Houston, Texas, April 7-11, 1972”, 11 tháng 5 năm 1972, hồ sơ số 100-448092-14501.

4284  Đương nhiệm Giám đốc FBI gởi cho SAC (List Albany St. Louis), VVAW-IS-Revolutionary Activities, TELETYPE KHẨN, 2  tháng 5 năm 1972, trang 3-4.

4285  Phúc trình FBI, Houston, “VVAW National Steering Committee Meeting, Houston, Texas, April 7-11, 1972”, 11 tháng 5 năm 1972, hồ sơ số 100-448092-14501, trang 15, 18-9,

4286  Đương nhiệm Giám đốc FBI gởi cho SAC, TELETYPE KHẨN, 2 tháng 5 năm 1972; Phúc trình FBI, Houston, “VVAW National Steering Committee Meeting, Houston, Texas, April 7-11, 1972”, 11 tháng 5 năm 1972, hồ sơ số 100-448092-14501, trang 15, 18-9.

4287  Đương nhiệm Giám đốc FBI gởi cho SAC (List Albany St. Louis, VVAW-IS-Revolutionary Activities,  TELETYPE KHẨN, 2 tháng 5 năm 1972 .

4288  Phuc trình FBI, [bị kiểm duyệt] gởi cho E.S. Miller, Đề tài: Vietnam Veterans Against the War, VVAW, 100-448092, 12 tháng 4 năm 1972.

4289  “Military Buildup,” SOS News, Tháng 4 năm 1972 tại Sir No Sir Library—Reading Room, sirnosir.com/archives. 

4290  Phúc trình FBI, Baltimore, 13 tháng chạp năm 1972. 

4291  Ký lục số 59, “Overall Summary, Ad Hoc Military Build Up Committee”, báo cáo ngày 15 tháng 4, Hạ viện, Investigation of Attempts to Subvert, Phần 3, số 7338-7345 được nêu ra trong sách của Rothrock Divided, trang 236-41 và toàn bộ bản văn ký lục là Phụ đính N, trang 438-450.

4292  Hạ viện, Investigation of Attempts to Subvert, Phần 3, trang 734-45, 7375, 7479, 7480, 7486, 7488.

4293  Rothrock, Divided…  trang 241.

4294  Ký lục số 59, “Overall Summary, Ad Hoc Military Build Up Committee”, bản báo cáo ngày 15 tháng 4, Hạ viện, Investigation of Attempts to Subvert, Phần 3, trang 7338-7345 được nêu ra trong sách của Rothrock Divided, trang  236-41và toàn bộ bản văn ký lục là Phụ đính N, trang 438-450.

4295  Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 702, 705.

4296  Zaroulis, trang 380.

4297  FBI, San Antonio gởi cho Giám đốc, TELETYPE, 10:30 pm KHẨN, 18 tháng 4 năm 1972, trang 1-2.

4298  Phúc trình FBI, New York, NY hồ sơ số 100-160644, Tháng 4 năm 1972.

4299  Giám đốc Đương nhiệm gởi cho SAC (List Albany St. Louis), VVAW-IS-Revolutionary Activities, TELETYPE KHẨN, 2  tháng 5 năm 1972, trang 4.

4300  Thăm dò Harris Poll nêu ra bởi Zaroulis, trang 389.

4301  FBI, Sacramento gởi cho Giám đốc, TELETYPE, 7:30 pm, Khẩn, 22 tháng 4 năm 1972, trang 1-2; Legat, Manila, Philippines cũng có trà lời vào ngày 15 tháng 5 năm 1972.

4302  FBI, San Diego gởi cho Giám đốc, 10:11 pm, NITEL, 24 tháng 4 năm 1972.

4303  FBI, [bị kiểm duyệt] gởi cho E.S. Miller, VVAW-IS-Revolutionary Activities, 28 tháng 4 năm 1972.

4304  FBI, Phân bộ An ninh Quốc nội ~ Domestic Intelligence Division, báo cáo loại Informative Note, 26 tháng 4 năm 1972.

4305  FBI, Washington gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, VVAW-IS, TELETYPE, 27 tháng 6 năm 1972.

4306  FBI, FOIA, Weather Underground, trang 28 hay 361 C

4307  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”, 20 tháng 8 năm 1976, trang 343, 361.

4308  FBI, New York, NY 100-160644, 26 tháng 10 năm 1972.

4309  Giám đốc gởi cho Chưởng Lý, Các Đề mục Thu thập lén lút (Surreptitious Entries), 9 tháng 5 năm 1976. Thơ lưu ý của Giám đốc gởi ông Jenkins, 12 tháng 7 năm 1976.

4310  Phúc trình gởi ông J. B. Adams, Đề tài: Civil Rights Division, Criminal Investigation, Surreptitious Entries, … PURPOSE… Văn phòng New York Office vào năm 1972 và 1973, 11 tháng 5 năm 1976.

4311  FBI, FOIA, SAC Philadelphia gởi cho Giám đốc (Lưu ý: Automatic Data Processing Unit, Đề tài: [Bị kiểm duyệt] SM-New Left, cc: Philadelphia, 2 tháng 3 năm  1972.

4312  FBI, FOIA, ADIC, New York  gởi cho Giám đốc NITEL, Surreptitious Entries, 5 tháng 4 năm 1976; Phúc trình của Luật sư cố vấn gởi cho Giám đốc, “Surreptitious Entry Investigation”,  9 tháng chạp năm 1976.

4313  FBI, FOIA, Portland gởi cho Giám đốc, 19 tháng 7 năm 1977.

4314  Nicholas M. Horock, “Linked to FBI Memo: Newark Field Office Said to Have Been Told to ‘Do Anything’ in Weatherman Search”, New York Times, 6 tháng 10 năm 1977.

4315  Các chìa khóa đã có được vào ngày 28 tháng 11 năm 1971. Đọc: Memorandum SA [bị kiểm duyệt] số #14 gởi cho SAC, New York, “Vietnam Veterans Against the War, Inc IS-New Left (NY 100-160644)”, Hộp Cá nhân Personal Folder, Phụ mục C, THÁNG 6, 13 tháng chạp năm 1971; Phúc trình [Bị kiểm duyệt] gởi cho J.G. Deegan, “Request by Department of Justice to Interview SA [Bị kiểm duyệt] Regarding His Knowledge of Surreptitious Entries”, 21 tháng chạp năm 1976; FBI, San Francisco gởi cho Giám đốc, “Request of Attorney General for Information Concerning Surreptitious Entries, Nitel 8:15 PM, 16 tháng 10 năm 1975.

4316  H.N. Bassett gởi cho Ông Callahan, Phúc trình Tối Mật, THÁNG 6, “Surreptitious Entries”, 11 tháng 5 năm 1976.

4317  Phúc trình [Bị kiểm duyệt] gởi cho Ông Ash, Memorandum, “Surreptitious Entries”, Đề mục Mật, 3 tháng 9 năm 1976. Các Đoạn Nhấn Mạnh Emphasis thuộc ngay trong bản phúc trình, FBI, FOIA. 

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #132”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #132 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: