Westmoreland và Súng M-16

~ Lewis Sorley ~

Chương 14 “M-16 Rifles” của sách

Westmoreland, The General Who Lost Vietnam

(Westmoreland, Viên Tướng Từng Để Thua Cuộc Chiến Việt Nam)

Lê Bá Hùng chuyển ngữ

~ Ngày Quân Lực 2017 ~

 

 M16A1 với hộp tiếp đạn 30 viên

 M16 trong đợt thao dợt quân sự tại Hawaii (2003).

Ảnh của quân đội Hoa Kỳ do TS Bradley Rhen chụp

https://vi.wikipedia.org/wiki/M16

 

Chương 14 này cũng có một số đoạn đã có trong bài diển thuyết của TS Lewis Sorley tại Saigon Arts, Culture & Education Institute Conference, Tysons Corner, Virginia vào ngày 24 Tháng 9 Năm 2011, tuy nhiên đã đào sâu hơn vào trách nhiệm của Tướng Westmoreland trong vấn nạn tối quan trọng này, mà cũng đã đem tới kết quả đau thương cuối cùng.

Bài diển thuyết của TS Lewis Sorley đã được chuyển ngữ và đăng tại

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/qdvnch-va-khau-m-16/

 

Lê Bá Hùng

*****

Không một chi tiết duy nhất nào mà lại có thể tỏ lộ rõ ràng hơn được thái độ bỏ bê quên lãng quân đội VNCH của Tướng Westmoreland hơn là vụ súng M-16, mà lúc đó, đang là một vũ khí mới, nhẹ và tự động mà đã đang được xem là rất lý tưởng cho chính môi trường Việt Nam.

 

Đại Tướng William Childs Westmoreland “Westy” (1914 – 2005)

Với chiến lược Search and Destroy ~ Tìm rồi Diệt

 Khi có được các vũ khí cùng các trang thiết bị khác mà đã được cải tiến tốt hơn nhiều, thì chính các lực lượng Hoa Kỳ mới đã được ưu tiên được trang bị, như đã từng với loại súng trường M-16, loại đại liên M-60, loại phóng lựu M-79 và các máy liên lạc vô tuyến tốt hơn. Trong phần lớn thời gian của cuộc chiến, người quân nhân Nam Việt Nam chỉ được trang bị bằng loại vũ khí của cái thời Thế Chiến Thứ II mà lính Mỹ từng đã sử dụng rồi, như là các loại súng trường M-1 và khẩu cạt-bin mà thôi.

Đại Liên M-60

  

Phóng lựu M-79

Trong khi đó, thì Bắc Cộng và Việt Cộng đã từng được trang bị trước rồi, cho mọi loại vũ khí hiện đại nhất mà các quan thày của chúng đã có được, kể cả khẩu súng xung kích lừng danh AK-47. Hậu quả là, xuyên suốt những năm mà việc điều hành cuộc chiến đã nằm dưới quyền chỉ huy của tướng Westmoreland, Nam Việt Nam đã luôn luôn bị yếu thế về phương tiện súng ống, cái việc dĩ nhiên rồi thì cũng phải đưa đến những kết quả có thể tiên liệu trước được mà thôi, về các kết quả sẽ phải có tại chiến trường cùng tinh thần chiến đấu, mà đó là chưa nói đến khía cạnh tiếng tăm. Westmoreland thì cũng từng có tuyên bố: “Chúng tôi vẫn đặt nặng vấn đề liên tục canh tân hóa QĐVNCH”, 1 nhưng thực tế thì lại không phải là như vậy.

Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ, mà cũng có một dạo từng là Phó Tổng Thống, sau này đã có nhớ lại một cách đắng cay về cái cảnh “người quân nhân Mỹ to con vai đeo khẩu súng trường Colt M-16 rất nhẹ ký và hoàn toàn tự động để đi hành quân, mang được với cả hàng trăm viên đạn, rất cân xứng với khẩu AK-47 của địch. Ngược lại, mãi cho đến sau Trận Tổng Công Kích Tết  Mậu Thân 1968, những người lính nhỏ con của chúng tôi thì vẫn cứ bị phải kéo lê những khẩu súng M-1 Mỹ chỉ với 8 viên đã quá ư là lỗi thời mà ngay cả U.S. National Guard (Lực Lượng Bảo An Hoa Kỳ) cũng đã không them dùng”. 2 Trung Tướng Ngô Quang Trường, người từng đã được đa số coi như là vị chỉ huy tại chiến trường giỏi nhất nhất của miền Nam Việt Nam, thì cũng đã đồng ý mà thôi. Nhân khi nhận xét về các đơn vị của QĐVNCH trong những năm đó, ông đã có ghi nhận, “Nói chung thì họ đã không hề được trang bị cho đúng đáng, hầu có thể chống trả được một cách có hiệu quả, chiếu theo các đòi hỏi về hành quân”. 3

Garand M-1

 Sự chênh lệch về khả năng vũ khí đã sẽ trở nên cực kỳ rõ ràng nhân Trận Tết Mậu Thân 1968. Đại tá Hoàng Ngọc Lung, 4 ►1 Trưởng Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, vị sĩ quan quân báo cao cấp nhất của Nam Việt Nam, thì cũng đã có nhớ lại, “QĐVNCH đã chỉ được trang bị với vũ khí hiện đại sau khi bộ đội địch đã từng được trang bị trước như vậy từ đã rất lâu rồi. Súng M-16 đã chỉ được cung cấp cho tất cả các đơn vị của QĐVNCH sau Trận Tổng Tấn công Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968 khi mà nhân đó, đã cho thấy là đa số bộ đội của địch thì đã sử dụng toàn súng AK-47 mà thôi”. Các hồi tưởng của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận của VNCH, 5 thì lại đã đặc biệt rất ư là chua chát: “Suốt thời gian xảy ra Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, những tiếng nổ vang dòn rộn rã của loại súng AK-47 khắp Sài Gòn và tại một số thành phố khác, dường như là để chế giễu mấy khẩu Garand và cạt-bin chỉ bắn được từng viên một mà thôi trong tay các quân nhân quốc gia đang đứng sửng sờ. Khẩu M-1 thì nặng hơn mười một cân Anh với đạn đã nạp và dài 43 ‘inch Anh’. Theo một tính toán nào đó, thì trung bình một người lính VNCH thì chỉ cao độ 5 ‘feet Anh’ và nặng 90 ‘pound Anh’ mà thôi”.

Đại tá Hoàng Ngọc Lung (1932 – )

 

Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên (1927 – 2015)

Sau này thì Westmoreland có tuyên bố là vào năm 1964, ông ta có yêu cầu vị Phụ tá là Trung Tướng John Throckmorton, cần nên đặc biệt xem xét “tính khả thi của yêu cầu cung cấp súng M-16 của tôi cho các lực lượng Việt Nam”, 6 và khi Throckmorton đưa ra đề nghị chống lại, vì lý do sẽ quá ư là tốn kém, ông ta đã chấp thuận đề nghị này, tuy nhiên “cũng khá ư là miễn cưỡng mà thôi”. Một năm sau đó, sau các trận đánh với quy mô lớn dạo ban đầu ở Ia Drang, Westmoreland đã nói, “Tôi nhận được ra là súng M-16 quả tối cần, không chỉ cho quân nhân Mỹ mà luôn cả cho binh lính Việt Nam. Tôi bèn đã đưa ra một yêu cầu vào tháng chạp năm 1965”. Nhưng rồi Westmoreland cũng đã phải thừa nhận, “khi tôi rời nhiệm sở vào mùa hè năm 1968, chỉ mới có một phần nhỏ các lực lượng Nam Việt mới đã được trang bị như vậy mà thôi”. Dĩ nhiên, yêu cầu đó thì cũng đã bị đưa xuống hàng ưu tiên hạng chót thôi về nhu cầu trang bị vũ khí mới, và cũng đã có những quan chức đầy quyền uy từng đã hoàn toàn chống lại việc cung cấp cho QĐVNCH các vũ khí hiện đại, nên do đó, kết quả thì cũng đã bị y như từng được dự đoán mà thôi. 7

Chuẩn Tướng John Lathrop Throckmorton (1913 – 1986)

Vào tháng 4 năm 1968, Tạp chí Time đưa tin là vị tân Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford đã tuyên bố sẽ “tăng mạnh cực kỳ việc Mỹ sản xuất M-16, hầu hoàn tất việc trang bị cho xong mọi  đơn vị của QLVNCH vào giữa mùa hè tới”. 8 Đó cũng là điều mà chính cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã không bao giờ đồng ý, và Westmoreland thì cũng chỉ thỉnh thoảng, tuy có đề nghị, nhưng cũng không có chút gì là sốt sắng cho lắm, một thái độ chứng minh cho chủ trương của đương sự là quân đội Hoa Kỳ rồi thì cũng có thể chỉ việc cần phải tới và quét sạch nhà cữa dùm cho người dân Việt mà thôi, nên cũng không cần phải trang bị cho họ để giúp chính họ đủ khả năng làm điều đó.

  

Clark McAdams Clifford (1906 – 1998)

Charles MacDonald đã từng đi phỏng vấn rất nhiều người để có được cái nhìn chính xác về hòan cảnh thực sự thời đó, hầu chuẩn bị viết bộ hồi ký của Westmoreland, mà ông là người sẽ viết dùm mà dấu tên. Một trong số những người mà ông đã có phỏng vấn là Tướng Harold K. Johnson, Tham mưu trưởng Lục Quân trong những năm 1964-1968. MacDonald đã giải thích mục đích của mình: “Sau vài lần trao đổi với Tướng Westmoreland, tôi đã được biết là ông ta đã có đề nghị trang bị súng M-16 cho QĐVNCH sớm nhất là từ trận [âm thanh không nghe rõ được: Ia Drang?] tận mãi vào mùa Thu năm 1965. Và tôi cũng đã từng có cơ hội được hỏi ông ấy: Vậy sao mà điều này thì nay chỉ mới vừa được hoàn tất mà thôi?’ Và câu trả lời duy nhất mà ông ấy có thể cho tôi biết là – có lẽ là vì những khó khăn về sản xuất ở bên Mỹ. Ông có thể giải thích thêm về chi tiết đó không?”. 9

Đại Tướng Harold Keith “Johnny” Johnson (1912 – 1983)

 Tướng Johnson thì đã có thể và cũng đã giải thích sự việc. Ông không nhớ chính xác ngày tháng khi lần đầu tiên mà Tướng Westmoreland đệ đạt thỉnh cầu về cho Trung Ương để xin trang bị các súng đó cho QĐVNCH, và ông đã cho biết, “Nhưng rồi thì quý vị cũng sẽ thấy được là – tôi nói ở đây là theo quan điểm cá nhân, và đó cũng có thể là một điều quá thành thật của tôi mà thôi – Tướng Westmoreland đưa một thỉnh cầu chỉ nhằm rồi sẽ giúp mình có thể ứng phó cho được với mọi tình huống về sau này mà thôi. Ông ta có luôn cả một hồ sơ tuyệt vời về tất cả những gì liên hệ đến Việt Nam”. 10

 

Đại Tướng Frank Schaffer Besson Jr. (1910 – 1985)

 Tướng Frank Besson dạo đó chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân Nhu Lục Quân, và ông có nhớ lại thỉnh cầu của Westmoreland về 100.000 khẩu súng trường M-16. “Tôi cũng đề nghị là nên chuyển giao chúng cho phía Việt, cho các quân nhân Nam Việt”, Besson đã nhớ lại như vậy, “bởi vì tôi cảm thấy chúng ta có trách nhiệm phải cung cấp cho các đồng minh những gì tốt nhất có thể được. Nhưng họ đã tuyên bố là, “Không. Chúng ta không thể đưa chúng cho phía Nam Việt Nam, bởi vì chắc chắn rồi các súng đó rồi sẽ bị bọn Việt Cộng và Bắc cộng nắm bắt được, để rồi sẽ lại bị dùng để đánh lại chúng ta mà thôi“. Cái lập trường theo kiểu Chúa-định – và đúng đó là điều mà họ đã từng tuyên bố”. 11  

Chuẩn Tướng James Lawton Collins Jr. (1917 – 2002)

 Phải chờ mãi đến tháng 3 năm 1967 thì phía Nam Việt mới lại được phân phối cho một lô súng M-16, với các chuyến hàng đầu tiên đến được trong tháng sau đó. Chuẩn tướng James Lawton Collins Jr. lại cho biết, “Nhưng cho đến năm 1968, thì cũng chỉ vừa đủ để trang bị các tiểu đoàn Dù và TQLC của Lực Lượng Tổng trừ Bị mà thôi“. 12

Đại Tướng Frederick C. Weyand (1916 – 2010)

Trong bản phúc trình về thời gian phục vụ tại Việt Nam ngay sau khi chấm dứt nhiệm kỳ vào tháng 8 năm 1968, Tướng Fred Weyand cũng đã có nhấn mạnh đến các hậu quả: “Việc trì trệ kéo dài trong công tác trang bị vũ khí và thiết bị hiện đại cho QĐVNCH, ít ra cũng cho được cân xứng được với những gì đã do Nga và Trung Cộng đã cung cấp cho địch, đã từng là một yếu tố chính yếu gây ra hòan cảnh bất lực của QĐVNCH”. 13

Westmoreland vẫn đã cứ luôn luôn cố tìm cách trốn tránh để phải chịu trách nhiệm về việc đã từng để quá lâu mà không chịu trang bị đúng đắn cho quân đội Nam Việt Nam, và dường như cũng đã thậm chí chưa bao giờ chịu nghĩ đến việc cung cấp cho họ loại súng trường M-16 cùng các loại vũ khí tân kỳ khác, trước khi đã trang bị xong rồi cho chính các lực lượng Hoa Kỳ của mình. Ông cũng từng đã được Tướng Earle Wheeler, vị Tham Mưu Trưởng Liên Quân, mà một cách thật là khó hiểu được, tán thành theo, một kẻ mà cũng từng đã có một lần, đánh một công điện cho Westmoreland là: “Chắc ông cũng sẽ nhanh chóng nhận thức được ra liền những khó khăn tế nhị về giao tế công khai mà sẽ phải xảy ra, nếu chúng ta đi trang bị loại súng M- 16 cho các đơn vị không phải của quân đội Hoa Kỳ, trong khi mà các đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ thì lại chỉ được cung cấp cho loại súng ít được ưa chuộng hơn”. Vì vậy: “Tôi cần phải yêu cầu ông tạm dời lại việc trang bị cho các đơn vị không thuộc quân đội Mỹ với loại súng trường M-16, cho đến khi chúng ta có thể giải quyết rõ ràng xong cho được cái tình hình súng ống này thôi“. 14

Đại Tướng Earle “Bus” Gilmore Wheeler (1908 – 1975)

◊◊◊

 Một cuộc trao đổi qua điện thoại giữa Westmoreland với Đại tá “HAP” Argo để soạn thảo bản Report on the War in Vietnam ~ Tường Trình về Cuộc Chiến tại Việt Nam thì cũng đã cho thấy khá rõ: “Về vấn đề trang bị cho QLVNCH, ngày 22 tháng giêng năm 1966, ông đã đề nghị các súng M-16 cho họ và đã bị từ chối vì Hoa Kỳ đã không thể tăng gia sản xuất theo đúng với nhu cầu thời chiến được. Ông có muốn dùng đúng lập luận này hay không?”. Westmoreland: “Không. Đừng giải thích vì sao đề nghị bị bác bỏ, chỉ cần nói là vì những lý do vượt ngoài thẫm quyền của tôi, nên súng đã không thể được cung cấp tức thời”. Mà vào lúc đó thì ông ta cũng biết rõ là “không thể được cung cấp tức thời” có nghĩa là cho thời gian của cả hai năm sau, nhưng mà ông ta lại không chịu công nhận như vậy trong bản tường trình của mình.

Walt Whitman Rostow (1916 – 2003) ►1

Một cuộc trao đổi qua điện thoại khác cũng đã bật mí các cố gắng thật là yếu ớt của Tướng Westmoreland hầu trang bị cho Nam Việt loại súng M-16.  Vào tháng 7 năm 1971, Westmoreland có trao đổi với Walt Rostow khi ông này hỏi trở ngại về việc cung cấp súng M-16 đó thật sự đã là cái gì. Bản lưu trữ về cuộc trao đổi này đã như sau: “Tướng Westmoreland trả lời cho biết nội vụ cũng đã là một câu chuyện dài. Nhưng ông cũng đã có gởi đi trong tháng chạp năm 1965 một yêu cầu khẩn để cho toàn thể lực lượng Hoa Kỳ lẫn QLVNCH đều phải được trang bị với súng M-16”. Ấy vậy, “đã phải chờ cho đến cả hai năm trời trước khi mọi việc mới chịu nhúc nhích, và cũng mãi đến tháng 6 năm 1968 thì cái khẩn cầu trong tháng chạp năm 1965 mới được thi hành. Tham Mưu Trưởng Lục Quân [chức vụ của Westmoreland vào lúc đó] có ghi nhận là ông ta đã có nêu lên vấn đề này với Tổng Thống Johnson ít ra thì cũng là một lần rồi, và Tổng Thống thì cũng đã rất ư là ngỡ ngàng khi phải nghe như vậy”. 15

Frank Willis Mayborn (1903 – 1987)  2

Trong một tài liệu dài ba trang với đề tựa là “Súng M-16” mà Westmoreland đã từng đọc để dùng viết bộ hồi ký cho mình, ông ta có kể lại chuyện Tòa Bạch Ốc đã rất lưu tâm về tính cách chính xác cúa loại súng M-16. “Tổng Thống Johnson đã gởi một người bạn quen thân rất tin cậy đang sinh sống tại Temple, Texas là ông Frank Mayborn, để kín đáo đi điều tra về độ chính xác cúa loại súng M-16, cũng như là binh sĩ có thích nó hay không. Tôi đã nhận được tin là Tướng Bruce Clark[e], vị Tướng Lục quân đã về hưu, có yêu cầu được tới thăm Việt Nam cùng với ông Mayborn. Về sau thì tôi mới được biết là ông Mayborn mới chính là nhân vật cốt yếu trong phái doàn và Tướng Clark[e] chỉ được dùng như là bề ngoài để che dấu lý lịch ông Mayborn mà lúc đó, cả tôi lẫn Tướng Clark[e] cũng đều đã không hề biết được là ai cả”. 16

Westmoreland đã tiếp: “Khi họ sắp ra về thì họ bèn hỏi tôi là họ có thể làm gì cho tôi hay không? Tôi đã nêu lên chi tiết là tôi từng yêu cầu cung cấp súng M-16 cho binh lính của tôi và của QLVNCH trong tháng chạp năm 1965. Nay sau hơn cả hai năm thì tôi đã có được cho quân nhân của tôi và chỉ cho vài đơn vị chọn lọc của QLVNCH mà thôi. Thật cực kỳ quan trọng là tôi phải được đáp ứng hoàn toàn về nhu cầu vũ khí này bởi vì Trận Tấn công Tết Mậu Thân cũng đã chứng minh thật rõ ràng rồi cho cái quyết định đầy khôn ngoan này mà thôi. Nhắc nhở này đã được mang về Hoa Kỳ và chắc là là đã được chuyển cho ông McNamara.” 17

Westmoreland đã cho biết: “Sau này, khi tôi về lại Mỹ vào tháng 5 [năm 1968], tôi đã có nhấn mạnh với Tổng Thống là súng M-16 đã không hề được cung cấp một cách nhanh chóng như từng đã được đòi hỏi. Tôi có nhắc lại với ông ta là tôi đã từng yêu cầu như vậy cả hai năm rưỡi trước rồi. Phản ứng của Tổng Thống đã khá ư là ngạc nhiên, ►3 có vẻ như là ông ta chưa hề bao giờ nghe được vụ này cả, rồi đỏ mặt lên và nói là sẽ giải quyết càng sớm càng tốt mà thôi. Sau đó thì mọi việc mới thật sự xẩy ra – các lệnh đã được ban ra cho ông McNamara để tăng gia việc sản xuất và rồi thì đúng thời gian, việc này đã được hoàn thành”. 18

Toàn bộ tường trình của Westmoreland đã có nhiều nghi vấn trầm trọng.

Trong một bức thơ sau đó gởi cho vị phụ tá hành chánh của Tổng Thống, Westmoreland đã lập lại là mình đã từng trực tiếp lên tiếng về vấn đề này với ngay Tổng Thống, và đã viết như sau, “Tổng Thống cùng tôi đã có phần nào thảo luận trong chi tiết về tầm quan trọng của việc tối tân hóa quân đội Việt Nam, và tôi đã nhấn mạnh là cần phải nhanh chóng phân phối súng M-16 cho phía Việt Nam. Tổng Thống đã rất bực bội về tiến trình chậm chạp này và đã tức thời ra lệnh đẩy nhanh sự việc”. 19

Rồi sau đó, Westmoreland cũng đã trở lại đề tài này trong bộ hồi ký của mình. “Tổng Thống Johnson sau đó đã gởi một người bạn thân ở Texas là Frank W. Mayborn để đích thân đi điều tra vụ súng M-16 cho mình. Bề ngoài thì Mayborn chỉ tháp tùng một vị tướng của thời Thế Chiến 2 đã hồi hưu là Bruce Clarke nhân một chuyến đi thanh tra tại Việt Nam, và chỉ sau khi họ đã ra đi rồi thì tôi mới phát giác ra được mục đích chính yếu chuyến viếng thăm của Mayborn”. 20

Đại Tướng Bruce Cooper Clarke (1901 – 1988) ►4

Trên thực tế, như Tướng Clarke sau này có viết cho Chuẩn Tướng Hal Cushman Pattison, vị giám đốc TrungTâm Quân Sử Hoa Kỳ (Army’s Chief of Military History), “Vào dịp Giáng Sinh năm 1967 thì Westmoreland đã gọi điện thoại cho tôi để hỏi tôi có thể nào qua Việt Nam để thăm binh sĩ của ông ta ngay tại chiến trường hay không. Chúng tôi đã thỏa thuận đó sẽ là vào ngày 1 tháng 2 năm 1968”. Rồi thì Clarke đã giải thích cho Pattison vì sao ông ta đã mời Mayborn tháp tùng, cũng như cho biết là họ đã cùng nhau thảo bản phúc trình của Clarke ngay trên chuyến phi cơ bay về nước, rồi bằng cách nào mà Tướng Wheeler đã chuyển một bản sao lên được cho Tổng Thống Johnson, rồi do đó mà L. B. Johnson đã gọi Clarke cùng Mayborn tới Tòa Bạch Ốc để thảo luận về tình trạng QLVNCH đang bị thiếu thốn trang bị và cách thức mà suốt trong ba tiếng đồng hồ, họ cũng đã có bàn bạc với hai nhân viên thuộc văn phòng Tổng Thống. Clarke đã cho biết: “Chỉ trong vòng có vài ngày thôi sau chuyến viếng thăm Tòa Bạch Ốc của chúng tôi, thì một phụ tá của Tổng Thống đã gọi tôi để thông báo là Tổng Thống vừa mới chuyển giao 100.000 khẩu M-16 chp QLVNCH rồi. 21

Kiểu tường thuật ngược ngạo của Westmoreland trong bộ hồi ký đã liền khiến cho Clarke phải gởi tới đương sự một bức thơ hầu điều chỉnh cho đúng đắn lại mọi sự việc. Bức thơ đã bắt đầu: “Chính tôi mới đã là người từng mời Frank Mayborn tháp tùng tôi. Tôi không nghỉ là [Tổng Thống] Johnson đã có biết về việc này, mà chỉ biết đến khi chúng tôi đã trở về và Tổng Thống Johnson gọi tôi tới để bàn về bản thuyết trình liên quan tình trạng QLVNCH quá ư là bị thiếu trang bị về vũ khí. Chính tôi đã mời Mayborn đi theo tôi. Họ thì cũng đã từng thân đến mức xưng hô mày tao trong nhiều năm rồi ở Texas, gần căn cứ Fort Hood. Chính nhân nhờ cuộc gặp gở này mà Johnson đã ra lệnh chuyển giao 100.000 khẩu súng cho QLVNCH”. 22

Huy hiệu United States Army Center of Military History

Sau chuyến đi thăm Việt Nam, Clarke đã thảo một bản tường trình mà trong đó, đã có cái nhận xét như sau: “Các đơn vị Việt Nam vẫn đang bị nằm trong vị thứ ưu tiên thấp kém và khắc khổ về tiêu chuẩn quân trang quân dụng, kể cả vũ khí. Việc này đã ảnh hưởng không tốt đến tinh thần, hiệu năng cùng khả năng của họ trong việc mang lại cho được cái điều kiện tiên khởi để tiến tới thành công – an ninh. Tình trạng này cần phải được điều chỉnh một cách khẩn cấp. Binh sĩ thì họ biết và cảm nhận được việc này, khi mà họ đang bị thật sự bỏ bê không được trang bị cho đúng đáng”. 23

Đúng ra thì Westmoreland đã phải có được đủ mọi lý do để biết rõ về các chi tiết của sự liên hệ của Clarke và vai trò chính yếu của ông ta trong việc phá bỏ được tình trạng đình trệ không cung cấp loại súng M-16 cho QLVNCH, bởi vì Clarke cũng đã có gởi thơ cho ông ta vào ngày 15 tháng 3 năm 1968: “Vào ngày thứ ba, chúng tôi đã được Tòa Bạch Ốc mời đến, và tại đó, Tổng Thống đã cảm ơn chúng tôi về cái bản phúc trình, rồi chuyển chúng tôi qua cho hai nhân viên văn phòng – Đại tá Cross và Bob Fleming – để tường thuật vào chi tiết hơn nữa”. 24

Đại sứ Ellsworth Bunker (1894 – 1984)

Theo một nguồn tin khác, đại sứ Ellsworth Bunker, cũng đã từng thông tin cho Westmoreland về vai trò của Clarke trong vụ súng M-16. Các ghi chú mã hóa về cuộc điện đàm giữa Bunker và Westmoreland trong ngày 16 tháng 2 năm 1968, gần sau khi Clarke đã trở về, thì cũng đã có ghi nhận như sau từ phía Bunker: “Đại sứ báo cáo về những nhận xét của Tướng Clarke, là quả thật đáng tiếc khi mà QLVNCH đã không hề được trang bị súng M-16 sớm hơn được”. Và rồi thì là các cố gắng của Westmoreland để giải thích vấn đề này: “Vị Tướng đã nhắc lại là mình đã từng thúc đẩy vấn đề này dạo 1965, và bị trở ngại đình trệ vì các phương thức làm việc kiểu thời bình của Hoa-thịnh-đốn vào dạo đó – thủ tục hành chánh đầy rối răm, rồi lại bị thêm vấn đề môn bài về vũ khí của hãng Colt. Colt đã không chấp nhận cho phép bất kỳ ai khác được quyền sản xuất lọai súng này, nhưng ngay công ty Colt thì họ lại không có thể cung cấp được cho nhanh chóng kịp thời; kết quả: súng rồi thì đã không tới tay được cho QLVNCH như đã quy định”. 25   

Về sau thì Clarke cũng có nhận được một bức thơ của Đề Đốc John S. McCain Jr. mà theo đó, đã cho ông biết: “Tôi hãnh diện về vai trò của ngài trong việc giúp cho QLVNCH có được vũ khí tân kỳ”. 26

Ngay sau khi trở thành Tham Mưu Trưởng Lục Quân thì Westmoreland đã ra lệnh cho vị Tham Mưu Phó đặc trách về Quân trang Quân cụ (Logistics) cung cấp cho mình hồ sơ về tất cả những thông điệp cùng thư tín liên quan đến vấn đề trang bị loại súng M-16 cho QLVNCH. Tài liệu này đã ghi nhận mấy điểm chính yếu sau đây:

Ngày 18 tháng 11 năm 1966: Ban Tham Mưu Liên Quân đã thông báo cho CINCPAC Commander in Chief, Pacific (Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương) là “các hoàn cảnh đã buộc cho việc phân phối súng XM16E1 phải bị tái cứu xét theo tiêu chuẩn đặt ưu tiên phải trang bị trước cho quân đội Mỹ, sau đó mới tới phiên các đơn vị khác mà đang tham chiến tại Việt Nam”.

Trong một bản tường trình gởi cho các vị Tham Mưu Trưởng Binh Chủng, Ban Tham Mưu Liên Quân cũng có thừa nhận là phải cần tái cứu xét các kế hoặch phân phối súng M-16. Việc này là vì đã có một biến chuyển quan trọng vào mùa thu năm 1966 mà theo đó, đã lên kế hoặch sẽ sử dụng thêm QLVNCH nhiều hơn trong chương trình bình định, trong khi tiếp tục chỉ sử dụng quân đội Mỹ cũng như là vài đơn vị thuộc các quốc gia khác trong một vai trò gần như chỉ để hành quân chiến đấu mà thôi.

*****

Trong cương vị là Tham Mưu Trưởng Lục Quân thì Westmoreland đã có trả lời bằng văn thư về câu hỏi của Towsend Hoopes, ►5 một công chức trong Bộ Quốc phòng mà lúc đó đang viết một quyển sách. Westmoreland đã cho ông ta biết là chiến lược của mình gồm có hai phần, tạo áp lực nặng trên địch và “củng cố xây dựng quân đội Việt Nam, cả về phẫm lẫn lượng, kể cả việc cung cấp quân trang quân cụ tân kỳ tới mức mà rồi thì họ sẽ có thể tư từ đãm trách thêm cái gánh nặng ngay tại chiến trường”. 27

Nếu quả thật mà nhiệm vụ sau đã đúng là một thành phần trong chiến lược của mình, thì quả thật là Westmoreland đã hoàn toàn thất bại không thực hiện được, hay thậm chí cũng không có thực sự cố gắng thực hiện, trong sưốt cả bao năm trường dài đằng đẳng của mình tại Việt Nam. Herbert Schlander vào năm 1965 thì cũng đã có ghi nhận là khi Westmoreland đòi hỏi thêm binh lính thì quả là ông ta đã “khuyến cáo Hoa Kỳ nên gần như là đãm trách toàn bộ cuộc chiến đi. Với cái đề nghị đó của Westmoreland, đã rõ ràng có rất ít hay thậm chí hoàn toàn không có đề cập gì đến QLVNCH, hay bất kỳ chương trình nào cả để sử dụng hay để giúp họ trở thành kiến hiệu hơn”. 28

Đại Tá Herbert Schlander (1928 – 2015) ►6

Thái độ miệt mài của Westmoreland chỉ luôn luôn ưu tiên chăm lo cho các quân nhân Mỹ và rồi sau đó, thì mới đến phiên của VNCH đã lan rộng luôn đến cả chính sách phân phối đạn dược. Westmoreland đã có viết trong bộ hồi ký của mình: “Dạo 1966, trong một hời gian dài thì tình trạng các số lượng dự trữ đạn dược đã bị xuống thấp đến mức tôi đã phải hạn chế pháo binh VNCH chỉ còn được quyền bắn đi có hai quả cho mổi ngày cho mổi khẩu pháo của họ mà thôi, nhưng không đơn vị Mỹ nào mà lại đã bị thiếu thốn về đạn dược cả”. 29

Trong khi đó, thì địch lại đã hăng say đầy hiệu quả để cải tiến toàn bộ kho đạn dược của chúng. Một sử liệu cộng sản về cuộc chiến đã cho biết: “Suốt năm 1966, nhiều loại vũ khí cùng quân trang quân cụ mới đã được gởi ra chiến trường, giúp tăng gia trang bị cho các lực lượng chính quy và địa phương”. Việc tăng cường này thì đã gồm có cả thêm vũ khí mà còn lại là loại tân tiến hơn, kể cả B-40 và B-41 chống tăng. “Các súng xung kích AK đã được cung cấp cho xuống tận các đơn vị địa phương luôn”.  Và cả các loại súng không giật tối tân và hữu hiệu hơn, súng mọt-chê (mortars) và phòng không cũng đã được bố trí xuống tận cho các tiểu đoàn địa phương tỉnh. 30

Tướng John Galvin đã có một quan điểm thật là rõ ràng về nội vụ: “Westmoreland từng cương quyết chủ trương là mọi sự giúp đở cho QLVNCH rồi thì sẽ gây bất lợi cho các lực lượng Hoa Kỳ. Ông ta nghỉ là nguồn tài trợ thì cũng chỉ do từ một ngân quỹ duy nhất mà thôi, nên ông ta cũng phải quyết chí dành cho được toàn thể số tài khoản đó mà thôi”. 31

Đại Tướng John Galvin (1929 – 2015) ►7

Quân đội Miền Nam Việt Nam đã từng bị chỉ trích bởi nhiều người suốt những năm qua, kể cả bởi những Mỹ kiều đã có phục vụ tại đó. Nhưng Tướng Fred Weyand thì cũng đã ràng buộc tình trạng thiếu kém của các lực lượng này vào chính sách yểm trợ quá ư là vô giá trị cho QLVNCH của Westmoreland. “Lý do mà vài tiểu đoàn QLVNCH, cũng như là nhiều đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân đã từng không hề bao giờ chịu đi hành quan cách xa những căn cứ vững chắc của họ dạo 1965 và 1966 thì cũng đã rõ ràng là vì họ đã bị thật sự đang bị bao vây bởi địch rất mạnh, mà lại lúc ẩn, lúc hiện, nên các đơn giản thì các đơn vị chỉ được trang bị nhẹ, mà lại thiếu quân số, thì không thể nào mà có thể chống cự lại được với chúng mà thôi”. 32

Đại Tướng Norman Schwarzkopf Jr. (1934 – 2012)

Tướng Norman Schwarzkopf mà sau này đã lừng danh trong Trận Vùng Vịnh Thứ Nhất (Gulf War 1), lúc đó đang là một thiếu tá lục quân Mỹ đang cố vấn cho các lực lượng Dù Nam Việt dạo thời gian các đơn vị bộ binh Mỹ đang cùng tham chiến. Ông ta đã viết mình hài lòng về việc hỏa lực đã được cung ứng thêm, nhưng “hình thức Mỹ hóa cuộc chiến đã khiến tôi rất ư là lo lắng. Bất thình lình chúng ta lại đã hành xử một cách sai lầm trong việc cộng tác với Nam Việt. Đất nước đó là của họ mà, cuộc chiến cũng là cuộc chiến của họ: cuối cùng thì rồi đây thì chính họ mới phải đãm nhiệm nó mà thôi. Tôi từng đã nghỉ là chúng ta đúng ra đã phải cung cấp cho họ các khả năng, lòng tự tin cùng các quân trang quân dụng mà họ cần, và rồi khuyến khích họ chiến đấu. Ấy vậy, tuy là lập trường chính thức của chúng ta vãn là chúng ta chỉ gởi binh sĩ đi để giúp Nam Việt chiến đấu, sự thật đã là cứ có càng nhiều chiến trận chỉ do Mỹ đãm trách thôi”. Và rồi, ông ta đã thêm, đối với phía Nam Việt thì “quân trang và quân liệu đã cứ càng ngày càng khan hiếm đi, bởi vì ưu tiên thì chỉ dành cho các đơn vị Mỹ mà thôi”. 33

Tình trạng bất xứng về tài nguyên này, đặc biệt là về tiêu chuẩn đạn dược, đã cứ bàng bạc suốt trong cả nhiệm kỳ của Westmoreland. Đại sứ Bunker cũng đã từng ghi nhận như vậy trong một công điện gởi cho Tổng Thống chỉ có vài tuần trước khi Westmoreland về nước. Trong một công điện đánh đi vào ngày 29 tháng 2 năm 1968, Bunker đá bày tỏ lập trường: “Địch cũng đã có khả năng trang bị cho các binh sĩ của chúng bằng những vũ khí càng ngày càng tối tân; nói chung thì bộ đội của chúng đã được trang bị tốt hơn là QLVNCH, một sự kiện mà cũng đã có một ảnh hưởng bất lợi cho tinh tần chiến đấu của QLVNCH”.

Những năm tháng hoang phí – cái thời gian mà quân đội Nam Việt Nam đáng lý đã phải dành ra để có thể phát triển về mặt lãnh đạo, về kinh nghiệm chiến đấu, và về khả năng sử dụng các loại vũ khí hiện đại hơn – đã có những hệ quả không cưỡng lại được, như là hình ảnh của thác nước tuôn trào, trong những năm mà quân đội Mỹ cứ đang rút dần đi. Ít ra, nay nếu mà chịu nghiệm lại, thì ta cũng thấy là nhiều cộng tác viên cao cấp của Westmoreland thì cũng đã hiểu trước được những hậu quả tiêu cực sẽ có của chính sách lơ là quân đội Nam Việt Nam trong những năm tháng đó, và họ cũng đã từng lên tiếng như vậy về việc này. Nhân cuộc nghiên cứu điều tra với các vị tướng từng có chỉ huy tại Việt Nam thì Douglas Kinnard đã đưa ra một lô chính sách hành động mà, nếu được có một cơ hội khác, họ sẽ muốn được dành cho nhiều ưu tiên hơn. Chín mươi mốt phần trăm số tướng chịu trả lời (tỷ lệ cao nhất trong số tám mục của danh sách soạn bởi Kinnard) thì đã cùng chọn “cải tiến QĐVNCH. 34

Chuẩn Tướng lúc đã về hưu Douglas Kinnard (1922 – 2013) ►8

Đại sứ Maxwell Taylor đã gảy gọn mô tả những năm tháng dưới thời của Westmoreland: “Chúng ta chưa hề bao giờ chịu quan tâm đến quân đội VNCH, Chúng ta đã không thèm đếm xỉa gì đến họ hết cả“. 35

Maxwell Taylor (1901 – 1987) ►9

Về sau này, khi chính quyền Nixon khởi đầu nhiệm kỳ vào tháng giêng năm 1969, thì Tòa Bạch Ốc đã quyết định một chính sách “Việt Nam hóa” hầu chấm dứt cuộc chiến. ►10 Điều này cũng có nghĩa là, trong một số biện pháp sẽ được áp dụng, thì sẽ có việc tăng cường hệ thống quân sự của VNCH, đặc biệt là về tiêu chuẩn cung cấp được cho họ những vú khí tương đương với các loại mà bọn địch đã từng sử dụng từ rất lâu rồi, cùng đơn phương từ từ rút quân ra khỏi các vùng có giao tranh. Điều đó đã quả là một sáng kiến mới.

Tướng Creighton Williams Abrams, Jr. (1914 – 1974) 

Với chiến lượcClear and Hold ~ Giải tỏa rồi Bám trụ

 Ngay khi Creighton Abrams chỉ mới tới Việt Nam có một tháng thôi (trong thời gian ông làm phụ tá cho Westmoreland), dạo đầu tháng 6 năm 1967, ông đã có đánh đi một công điện quan trọng về cho vị Tham Mưu Trưởng Lục Quân là Tướng Harold K. Johnson. Abrams đã nói: “Điều thật rõ ràng đối với tôi, thì chính là giới quân sự Hoa Kỳ ở đây và ở nhà, đã đều cùng chỉ đặt nặng và lưu tâm đến các chiến trận phát động chỉ bởi quân đội Mỹ và cũng chỉ để lo yểm trợ họ mà thôi”. Do đó: “Quân đội VNCH cùng ĐPQ và NQ đành phải để lại cho các cố vấn phụ trách”. Abrams bèn nói thêm, “Tôi cũng hoàn toàn ghi nhận là tôi cũng đã có phần trách nhiệm trong sai lầm này như bất cứ ai. Hậu quả đã là sự thiếu hụt về trang thiết bị thiết yếu và về tiếp liệu, ngay trong một chính sách đã rất ư là khắc khổ rồi, thì lại vẫn không được giải quyết một cách khẩn cấp và năng động như chúng ta đã từng giải quyết đối với các nhu cầu về phía quân đội Mỹ. Trong khi đó, thì trách nhiệm của chúng ta đối với QLVNCH thì đã thật là rõ ràng mà thôi. Và cuối cùng, ông kết luận: “Cần phải chuẩn bị ngay từ bây giờ mà thôi. Tôi đang xúc tiến việc đó”. 36

Sau này thì Westmoreland đã sẽ dành công là chương trình Việt Nam hóa đã là sáng kiến của mình, tuy là mình đã không thành công thuyết phục được Lyndon Johnson để thi hành nó. Ông đã cho một nhóm sử gia của Lực Lượng Thủy Quan Lục Chiến biết, “Tôi đã cố gắng thúc đẩy Tổng Thống chấp thuận chính sách này, nhưng chính phủ của Johnson đã không làm theo. Họ đã không muốn phải tốn tiền quân viện cho VNCH, cái số tài trợ mà họ đang cần nếu  mà họ quyết định sẽ từ từ dành quyền để tham chiến nhiều hơn mà thôi”. 37

Westmoreland đã tự đề cao mình từng rất sớm nhận ra được là Nam Việt rất ư là thiếu thốn về trang bị truyền tin, mà theo quan điểm của ông ta, đã là “một yếu tố chính khiến họ đã không được hiệu quả về đấnh đấm mà thôi”. Ông ta bèn đưa ra một giải pháp, là chuyển được “khá đủ tài chánh dể cung cấp cho mổi toán trưởng và tiểu đội trưởng với một chiếc còi bằng đồng, và cho mổi trung đội với một cái kèn”.  Ông ta thì cũng phải nhìn nhận thì cũng không đủ thiếu gì hầu giải quyết cho được nan đề truyền tin liên lạc, “nhưng nó cũng đã giúp dược phần nào. Ngoài vấn đề thực dụng, chiếc còi đã bèn trở thành một biểu tượng của quyền uy, và chiếc kiền thì cũng bèn có được một công dụng thứ hai là được dùng trong các buổi lể”. 38 ►10

Mãi rất lâu sau cuộc chiến, thì Westmoreland vẫn đã cứ dành công đã từng là cha đẻ của chính sách Việt Nam hóa. Đương sự đã từng tuyên bố với những người phỏng vấn mình: “Tôi đã đặc biệt rất ư là thất vọng với cái chính sách nghiên về chính trị dạo 1967. Và cũng vào khoảng thời gian đó, thì tôi đã phát họa ra cái chiến thuật rút quân để giao lại việc chiến đấu cho QLVNCH”. 40 Trong một cuộc phỏng vấn có thu âm dành cho bộ sử đọc (oral history) của Viện Quân sử Hoa kỳ (Military History Institute), Westmoreland lại đã có công nhận là “Việt Nam hóa đã không là của tôi”, và đã nhìn nhận là từ ngữ này đã từng được đưa vào lịch sử bởi vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird. Nhưng rồi ông ta cũng lại khẳng định “Chính tôi mới đã là người có sáng kiến về khái niệm đó”.

Melvin Robert “Bom” Laird (1922 – 2016) ►11

Muôn trùng tài liệu thì cũng đã cho thấy ngược lại như vậy mà thôi. Các thỉnh cầu xin gởi thêm qua Việt Nam những số lượng lớn binh lính về sau đó – 200.000 trong năm 1967 và 206.000 vào năm 1968 – thì cũng là những chi tiết quan trọng. Xuyên suốt thời gian dạo đó, Westmoreland lại đã chỉ ưu tiên lo cho binh sĩ Mỹ vê vũ khí tối tân và tang cường khả năng tác chiến của họ với việc không trợ tiếp cận, phi vụ B-52, pháo và trực thăng. Nếu có thêm số lớn quân nhân Mỹ đó, để rồi sẽ dành các tài nguyên và phương tiện được có, thì đương nhiên sẽ đẩy lùi, thay vì giúp cho, việc phát triển QLVNCH, trong mục tiêu giúp họ bảo vệ được đất nước trước nạn Cộng xâm.

Xét qua kiểu suy tư một chiều, chỉ đặt trọng tâm vào quân đội chính quy trong cuộc chiến, cùng cách thức ông ta đã tiến hành nó qua việc sử dụng các đơn vị Mỹ, thì đã rõ ràng là ông ta đã không hề bao giờ có được cái ý tưởng khôn ngoan hơn, là trước tiên thì đã phải trang bị tất cả những trang bị tối tân cho Nam Việt trước, rồi sau đó, nếu có còn lại những gì nữa, thì mới giao cho các đơn vị Mỹ mà thôi.

Vào tận cuối nhiệm kỳ tại Việt Nam của mình, nữa năm sau khi đã cứ cương quyết nhấn mạnh là chính mình mới đã là người có sáng kiến Việt Nam hóa cuộc chiến, thì một danh sách chuẩn phê theo thứ tự ưu tiên việc cung cấp quân trang quân bị cho Miền Nam cũng đã bác bỏ cái lời tuyên bố đó. Ưu tiên số 1 đã được dành cho các lực lượng Hoa Kỳ tại Đông Nam Á. Ưu tiên số 2 thì dành cho các lực lượng Hoa Kỳ đã được triển khai tại Đông Nam Á. Ưu tiên số 3 thuộc về công tác huấn luyện tại Hoa Kỳ. Ưu tiên số 4 thi thuộc các lực lượng Mỹ tại Nam Hàn. Ưu tiên số 5 được dành cho các lực lượng trừ bị Mỹ đang được trưng dụng. Phải chờ mãi đến thứ tự số 6 thì QLVNCH đang chờ dợi mới được đề cập đến, mà rồi thì cũng chỉ còn là nhỏ giọt với thời gian mả thôi: ”Trang bị theo tiến trình tối tân hóa từng đợt QLVNCH. Trang bị cải tiến và tối tân hóa cho Nhóm Tự Vệ Dân Sự Bán Quân Sự (Civilian Irregular Defense Group) không thuộc trong chương trình”. Cũng đã có thêm ba thứ tự kém ưu tiên hơn trong danh sách này, và cái vị trí chót thì cũng đượm đầy ý nghĩa. Ưu tiên số 9: ”Trang bị khuếch trương QLVNCH cho tài khóa 1969”. 40

Trong bộ hồi ký xuất bản vào năm 1976 của mình, Westmoreland vẫn đã duy trì lập luận là “chỉ nhớ sự khởi đầu của Chính phủ Nixon với nhũng viên chức mới mẻ tại Ngũ-giác-đài thì cái chiến lược của tôi nhằm tăng cường QLVNCH để có thể đối địch với bọn địch Việt cộng lại mới được triệt để thi hành”. 41

Đại Tướng Richard Giles Stilwell (1917 – 1991)

Từng chỉ huy Lực Lượng Mỹ tại Nam Hàn từ 1973 đến 1976 và Chỉ huy Quân Đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ từ tháng 9 đến tháng chạp năm 1974.

Đại Tướng Richard Stilwell thì cũng đã có một tầm nhìn dứt khoát về hiện tình lúc đó: “Tôi nghĩ là một trong những khác biệt quan trọng nhất giữa hai nhiệm kỳ của Westmoreland và của Abrams là, với vị tiền nhiệm, ưu thế vượt trội đã được dành cho việc tổ chức và duy trì cho các lực lượng Hoa Kỳ. Và chương trình huấn luyện, trang bị, nuôi dưởng, giúp đở QĐVNCH cũng đã bị đẩy vào hàng thứ yếu – mãi cho tới khi Abrams thay thế”. 42 Trong cuộc khảo sát của Douglas Kinnard về những nỗ lực trong việc Việt Nam Hóa “được bắt đầu từ năm 1969”, 73 phần trăm các tướng từng đã chỉ huy tại Việt Nam mà đã chịu trả lời, đã cho biết là chính cái chương trình đó “đúng ra thì đã phải được được đặt nặng nhiều năm trước đó rồi”. 43 Vị quân nhân cao cấp nhất của Việt Nam, Tướng Cao Văn Viên, sau cuộc chiến, thì cũng từng đã nói: “Quân Đội Hoa Kỳ và QĐVNCH đã lãng phí mất đi bảy năm trời kể từ năm 1961, khi mà chỉ duy trì một chính sách khá ư là miển cưỡng trong việc phát triển QĐVNCH”. 44

Jeffrey Clarke, sau này từng là Quân Sử Trưởng Lục Quân (Army’s Chief of Military History), đã từng bình luận trong một tài liệu quân sử: ”Bất chấp công luận ồn ào xôn xao, Westmoreland cũng đã không hề dự trù được một vai trò mới nào cho QLVNCH. Kế hoặch hành quân phối hợp hoàn tất vào cuối năm 1967 thì cũng không có khác gì lắm với các kế hoặch trước đó về mặt sử dụng QLVNCH. Việc phân chia vai trò giữa lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam hoàn toàn vẫn như củ”. 45

Trung Tá Jeffrey J. Clarke ►12

Lịch sử của Ban Tham Mưu Liên Quân (JCS ~ Joint Chiefs of Staff), một nguồn tin đủ thẫm quyền khác, thì cũng đã xác nhận sự thật: “Hoa Kỳ đã có nhằm sẽ tăng cường cho QLVNCH, chung trong số các mục tiêu được đưa ra, kể từ khi bắt đầu can dự vào Nam Việt Nam, nhưng trong giai đoạn từ năm 1965 đến đầu năm 1968, sự chú tâm chính yếu của Mỹ thì đã lại chỉ tập trung vào việc xúc tiến các chiến dịch mà thôi. Mãi cho đến sau cuộc tấn công Tết  Mậu Thân 1968, khi Tổng thống Johnson bác bỏ việc gia tăng thêm quân số Mỹ ở Nam Việt Nam, thì Hoa Kỳ mới chịu tiến hành một cách nghiêm túc để chuẩn bị cho VNCH rồi đây sẽ đãm nhận gánh nặng chiến đấu“. 46 Vào lúc đó thì cũng là lúc Westmoreland quy cố hương.

◊◊◊

_____________________________

1

Lời phê của Westmoreland bên lề trên bản cuốn sách ‘The War Managers’ mà Douglas Kinnard đã gởi cho ông ta, rồi sau đó thì cũng đã bị ông ta ghi chú phê bình tràn lan trước khi gởi trả lại cho Kinnard, trg 23.

2

Sách Buddha’s Child, của Nguyễn Cao Kỳ, trg 336.

3

Ngô Quang Trưởng, tài liệu RVNAF and US Operational Cooperation and Coordination, trg 166.

4

Hoàng Ngọc Lung, tài liệu Strategy and Tactics, trg 73.

5

Đồng Văn Khuyên, tài liệu RVNAF Logistics, trg 57.

6

Ghi chú của Westmoreland, Thùng 41, WPSCL.

7

Westmoreland, “General John Throckmorton”, tài liệu ghi lại lời của ông ta để chuẩn bị cho viết hồi ký, Thùng 41, WPSCL. Cựu Giám đốc Ban Quân Sử Lục Quân là Chuẩn Tướng James Lawton Collins Jr., “Sau năm 1965 việc bành trướng của lực lượng Mỹ đã từ từ đẩy các nhu cầu về quân nhu và quân liệu của quân đội VNCH vô hậu trường. Tới tháng chạp năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng cũng đã ra chỉ thị là vụ chuyển giao súng M-16 cho quân đội VNCH và Cộng Hòa Hàn Quốc mà từng đã được bố trí cho họ, thì nay sẽ phải bị chuyển qua cho các đơn vị Hoa Kỳ”. The Development and Training of the South Vietnamese Army, trg 101.

8

Time (19 Tháng 4 Năm 1968).

9

Tướng Harold Keith Johnson trong cuộc phỏng vấn CMH, 20 Tháng 11 Năm 1970.

10

Như trên.

11

Tướng Frank S. Besson Jr. trong Oral History, MHI.

Collins, Development and Training of the South Vietnamese Army, trg 101.

13

Weyand, Debriefing Report, Headquarters, II Field Force, Vietnam, 4 Tháng 10 Năm 1968, Thùng 15, WPCMH.

14

Điện thơ, Wheeler gởi cho Sharp và Westmoreland, JCS 6767-66, 4 Tháng 11 Năm 1966, Thùng 4, WPCMH.

15

Bút lục của Chánh văn phòng (Chief of Staff) Fonecon với Walt Rostow, 20 Tháng 7 Năm 1971, History File #40, WPCMH.

16

Bút lục của Westmoreland, M-16 Rifle, Thùng 41, WPCMH.

17

Như trên.

18

Như trên.

19

Thơ, Westmoreland gởi cho Tom Johnson (Phụ tá Điều hành ~ Executive Assistant của Tổng Thống Johnson), ngày 10 Tháng 4 Năm 1970, History File #37, WPCMH.

20

Westmoreland, A Soldier Reports, trg 202-203. Khi nói về Clarke như chỉ là “một tướng thời Thế Chiến 2 đã về hưu”, Westmoreland đã có vẻ cố tình trình bày ông ta như chỉ là một ông già không đáng kể, bởi vì chắc chắn là ông ta cũng đã từng phải biết là ngược lại, trong Thế chiến 2, Clarke đã được dặc cách thăng chức tại chiến trường lên chuẩn tướng, với Huy chương Distinguished Service Cross và ba Silver Stars, trong vị thế một chỉ huy trưởng thiết giáp lừng danh tại Âu châu, ông đã tiếp tục phục vụ thêm nhiều năm nữa, để lên tới chức đại tướng với bốn sao, và sau đó, đã chỉ huy cả một quân đoàn trong cuộc chiến Triều Tiên (khi mà lúc đó, tại đó thì Westmoreland chỉ mới là chuẩn tướng), rồi là Chỉ huy trưởng của Continental Army Command (trong khi lúc dó thì Westmoreland chỉ huy một sư đoàn trực thuộc và đã có từng thuyết trình cho Đại tướng Clarke về chiến dịch Operation Overdrive), rồi sau đó là Chỉ huy trưởng của Quân Lực Hoa Kỳ tại Âu châu.

21

Văn thơ, Đại tướng Bruce C. Clarke gởi cho Chuẩn Tướng Hal C. Pattison, 29 Tháng chạp Năm 1969, hồ sơ Clarke Papers, MHI.

22

Văn thơ, Đại tướng Clarke gởi cho Westmoreland, 19 Tháng 2 Năm 1976, Thùng 15, WPSCL. Mayborn đã là chủ biên và nhà xuất bản của tờ Daily Telegram tại Temple (Texas).

23

Tường trình của Đại tướng Bruce C. Clarke về Chuyến Thăm Việt Nam (Bản nháp)”, Thùng 16, WPSCL. Clarke đã qua Việt Nam từ ngày 7 tới 13 Tháng 2 Năm 1968.

24

Văn thơ, Đại tướng Clarke gởi cho Westmoreland, 15 Tháng 3 Năm 1968, Thùng 37, WPSCL

25

Fonecon, Westmoreland với Bunker, lúc 20:05 giờ, 16 Tháng 2 Năm 1968, Thùng 37, WPSCL.

26

Văn thơ, Đô Đốc John S. McCain Jr. gởi cho Đại tướng Clarke, 22 Tháng 2 Năm 1969, Thùng 7, WPSCL.

27

Trả lời viết về các câu hỏi viết của Townsend Hoopes, 28 Tháng 6 Năm 1969, Thùng 52, WPSCL.

28

Schandler trong McNamara và đồng nhóm, Argument Without End, trg 351.

29

Westmoreland, A Soldier Reports, trg 243.

30

Military History Institute of Vietnam, Official History, trg 193.

31

Telecon, Đại tướng John R. Galvin, 2 Tháng Giêng Năm 2005.

32

Weyand, Debriefing Report, Headquarters, II Field Force, Vietnam, 15 Tháng 7 Năm 1968.

33

Schwarzkoft, It Doesn’t Take a Hero, trg 126.

34

Kinnard, The War Managers, trg 176. Có thể chọn hơn một câu trả lời, và cùng một số tướng – 91% – cũng đã chọn “tuyển định các mục tiêu”.

35

Như đã được viện dẫn bởi Andrew F. Krepinevich, trong tác phẫm “Vietnam: Evaluating the Ground War, 1965-1968”, và trong sách của Showalter và Albert, xuất bản, An American Dilemma, trg 99. Krepinevich đã nêu ra một cuộc phỏng vấn với Taylor vào ngày 17 Tháng 6 Năm 1982.

36

Điện thơ, Abrams gởi cho Johnson, MAC 5307, 040950Z Tháng 6 Năm 1967, CMH.

37

Westmoreland Marine Corps Oral History, 4 Tháng 4 Năm 1983. 

38

Westmoreland, A Soldier Reports, trg 328.

39

Charlton và Moncrieff, Many Reasons Why, trg 145.

40

Army Chief of Staff’s Weekly Summary (21 Tháng 5 Năm 1968).

41

Westmoreland, A Soldier Reports, trg 309 (thêm phần nhấn mạnh).

42

Phỏng vấn Stilwell, 26 January 1989.

43

Kinnard, The War Managers, trg 144.

44

Viên và Khuyên, Reflections, trg 80.

45

Clarke, Advice and Support, trg 278.

46

JCS History 1969-1970, trg 177.

*****

 

 http://www.banvannghe.com/a3493/cuoc-song-cua-nguoi-linh-chien-dia-phuong-quan-va-nghia-quan-nguyen-van-quan

M-16 cùng Người Lính VNCH vào Những Ngày Cuối Cùng

 

Nghĩa Quân và khẩu M-16

http://www.tqlcvn.org/tqlc/bk-nhungchiensi-dpq-nq.htm

  

AK-47 và M16 được xem là chuẩn mực, đại diện cho hai trường phái quân sự lớn nhất thế giới

 

Nòng súng M16 dài hơn nên tầm bắn thiết kế xa hơn AK-47

http://soha.vn/quan-su/ak-47-va-m16-sung-nao-ban-chinh-xac-hon-20141209095535102.htm

M16 là tên của một loạt súng trường do hãng Colt cải tiến từ súng ArmaLite AR-15 dân sự. Đây là loại súng tác chiến bắn đạn 5,56×45mm của NATO.

http://www.baomoi.com/sung-truong-tan-cong-m16-cua-my-vu-khi-co-do-tin-cay-cao/c/17129397.epi

*****

Chú thích của người chuyển ngữ

Tất cả các hình trong tài liệu là do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn ĐẬM và KHÁC màu là do người chuyển ngữ dùng để nhấn mạnh.

►1

Walt Whitman Rostow (1916 – 2003) là một kinh tế gia kiêm lý thuyết gia về chính trị mà đã từng là Phụ tá Đặc biệt về các Vấn đề An ninh Quốc gia cho Tổng Thống Lyndon B. Johnson từ năm 1966 đến năm 1969.

►2

Frank Willis Mayborn (1903 – 1987) là một nhà xuất bản báo chí, mà cũng là một người từ tâm đã đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển quận Temple and Bell nằm ở phía bắc của thủ đô tiểu bang Texas là Austin.

►3

Một yêu cầu tối quan trọng như vậy mà Tướng Westmoreland đã KHÔNG giải quyết được trong vòng hơn cả 2 năm ½ thì cũng cho thấy khả năng của ông ta. Ngoài ra, những chi tiết cung cấp đầy mâu thuẩn về vụ này của ông ta thì cũng nói lên được cá tính thâm sâu của đương sự. Trong khi đó, tại phụ đính số 21 của tác giả, theo lời của Tướng Clarke, chỉ vài ngày thôi, sau khi ông ta báo cáo cái tình trạng PHI LÝ này cho Tổng Thống Johnson, thì ông này đã liền ra lệnh cung cấp 100.000 khẩu M-16 cho QLVNCH! Đánh VC với AK-47 mà QLVNCH chỉ có súng thời Thế chiến 2 là Garant!

►4

Bruce Cooper Clarke (1901 – 1988) là một Đại Tướng Lục Quân Hoa Kỳ từng phục vụ tại Thế Chiến 1, Thế Chiến 2 và Chiến Tranh Triều Tiên. Từ năm 1958 tới 1960, ông điều khiển Bộ Chỉ huy Quân đội Quốc nội ‘Continental Army Command’, rồi Quân đội Hoa Kỳ tại Châu Âu ‘U.S. Army Europe’ từ 1960 đến 1962 và Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương ‘U.S. Army, Pacific’ từ 1954 đến 1956.

https://en.wikipedia.org/wiki/Bruce_C._Clarke

►5

Townsend Walter Hoopes II là một sử gia Mỹ từng là Thứ Trưởng Bộ Không Quân từ năm 1967 đến năm 1969.

►6

Herbert Y. Schlander là một cựu quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt, tốt nghiệp từ West Point, từng phục vụ tại Việt Nam và sau đó, đã tốt nghiệp Tiến sĩ về Hành chánh Công (Public Administration) tại Đại Học Harvard vào năm 1974, và đã từng viết nhiều tác phẫm về cuộc chiến mà mình đã tham dự.

Ông đã tham dự cuộc chiến Triều Tiên và trong một thập niên, đã là phụ giảng về xã-hội học ở Đại Học Quân Sự West Point tại New York. Sau đó, thì ông ta đã phục vụ trong hai nhiệm kỳ tại Việt Nam như là một quân nhân trong Lực Lượng Đặc Biệt Mủ Xanh lừng danh.

Năm 1975, ông đã về hưu trong chức vụ Đại tá, sau một thời gian phục vụ như là phụ tá về an sinh cho quân nhân tại Tòa Bạch Ốc, cũng như là trong văn phòng Hội đồng Quản trị về Chính sách và các Kế hoặch Chiến lược tại Ban Tham Mưu Liên Quân.

Ông từng được ân thưởng bốn huy chương Legion of Merit, ba huy chương Bronze Star Medals, 14 Air Medals và hai Combat Infantryman’s Badge.

Sau khi về hưu, ông đã là một chuyên viên về quốc phòng tại Phòng Nghiên Cứu Quốc Hội, cũng như là giáo sư về Chính trị học tại Industrial College of the Armed Forces ở căn cứ McNair, Hoa-thịnh-đốn.

Ông từng là Trưởng Ban Chiến lược thuộc National Defense University từ năm 1990 đến năm 1996. Ông đã thường thuyết trình về đề tài Cuộc Chiến Việt Nam và đã viết, cũng như là đồng viết nhiều sách. Quyển sách xuất bản vào năm 2009 với tựa là America in Vietnam: The War That Couldn’t Be Won, mà trong đó, ông đã tường thuật lại về các lần phỏng vấn các người từng nắm các vai trò chỉ huy trong cuộc chiến đó, đã rất được đánh giá cao.

►7

Đại Tướng John Galvin (1929 – 2015) đã từng là vị Khoa Trưởng thứ Sáu của Fletcher School of Law and Diplomacy tại Đại học Tufts University và cũng là một thành viên trong Ủy Ban U.S. Commission on National Security/21st Century.

https://en.wikipedia.org/wiki/John_Galvin_(general)

►8

Chuẩn Tướng Douglas Kinnard từng được ân thưởng nhiều huy chương về các chiến công trong cuộc chiến Việt Nam và nhiệm sở cuối cùng tại đó đã là Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Dã Chiến II (II Field Force). Năm 1948, ông tốt nghiệp Cao Học về Chính Trị Học tại Đại Học Princeton rồi năm 19973, thì lấy bằng Tiến Sĩ cùng môn cũng tại đó.

Tới năm 1970 thì ông xin xuất ngũ.

Sau đó, ông đã làm phụ tá giáo sư (assistant professor) từ 1973-1976 về môn chính trị học tại Đại Học Vermont, Burlington, rồi lên phụ giảng (associate professor) từ 1976-1979 và giáo sư thực thụ (professor) từ 1978-1984.

Khác với nhiều sử gia khác, ông đã cung cấp một quan niệm khá dị biệt về cuộc chiến đó, đặc biệt nhất là trong tác phẫm “The War Managers” (1977 ~ New Hampshire xuất bản), mà theo đó, các tướng lãnh từng tham chiến tại Việt Nam thì đều chỉ trích cái chiến lược từng đã được áp dụng. Trong số nhiều băn khoăn của họ, thì họ cũng ghi nhận là các con số báo cáo về số tử vong của địch đều đã bị thổi phồng, chỉ để ráng chứng minh là chiến lược đang thành công, cũng như là các chiến thuật của Quân đội Mỹ với các chiến dịch hầu tìm-và-diệt địch thì đều hoàn toàn vô hiệu quả mà thôi.

Rồi ông cũng đã hoàn thành một công trình phỏng vấn bằng hình thức một danh sách câu hỏi được gởi tới hơn cả 170 tướng lãnh Mỹ mà từng đã tham dự cuộc chiến đó từ 1965 tới 1972, (ông đã tự loại ra khỏi danh sách này), mà theo đó, chỉ có 100 vị chịu tham dự và kết quả đã được University Press of New England đứng ra xuẩt bản.

►9

Đại Tướng Maxwell Davenport “Max” Taylor (1901 – 1087) là một vị tướng Lục quân, nổi tiếng dạo Thế Chiến 2 khi chỉ huy Sư đoàn 101 Dù (101st Airborne Division), có bí danh là “The Screaming Eagles”.

Sau Thế Chiến 2, ông là Chỉ huy trưởng tại West Point từ 1945 đến 1949, rồi được chỉ định chỉ huy toàn thể quân đồng minh ở Bá Linh từ 1949 đến 1951. Năm 1953, ông thuyên chuyển đi Nam Hàn để chỉ huy Đệ Bát Quân đoàn Hoa Kỳ trong giai đoạn cuối của cuộc chiến. Từ 1955 đến 1959, ông là Tham mưu trưởng Lục quân và đã có công trong tiến trình thích hợp hóa binh chủng này với loại chiến tranh nguyên tử, nhưng như Đại tá David Hackworth đã nhận xét, quyết định tái cấu trúc lại cấp sư đòan của ông đã khiến cho lục quân lại đã không thích ứng được với cuộc chiến sau đó tại Việt Nam vì đã loại bỏ vai trò của các trung đội cùng các sĩ quan cấp tá.

Ông đã đặc biệt chỉ trích chống lại chính sách quốc phòng “New Look” của chính phủ Dwight D. Eisenhower vì đã quá chú trọng vào vũ khí nguyên tử mà lơ là việc tổ chức quân đội theo quy ước (đặc biệt với tác phẫm The Uncertain Trumpet), và đã bất mãn xin về hưu sớm vì không được như ý.

Tổng Thống Kennedy đã mời Taylor trở lại quân ngũ để bổ nhiệm ông điều khiển một ủy ban điều tra về vụ đổ bộ Vịnh Con Heo từng bị thất bại vì không còn tin tưởng nơi Ban Tham mưu Liên quân, và nhân cuộc điều tra này, đã nẩy nở mối thâm tình giữa đôi bên, đặc biệt là với người bào đệ Robert. Sau đó, thì Kennedy đã đặc biệt đặt ra một chức vụ mới của một vị đại diện cho Quân đội bên cạnh Tổng Thống (military representative to the president) để giao cho ông ta, và do đó, cũng đã trở thành cố vấn chính về vấn đề quân sự, qua mặt luôn cả Ban Tham mưu Liên quân. Sau đó, để chính thức hóa vai trò của Taylor, Kennedy đã bổ nhiệm ông ta làm Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân mà ông đã nắm giữ tới năm 1964.

Taylor từng đã chống lại vụ đảo chánh năm 1963 mà đã lật đổ và giết chết Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Sau đó, ông đã được cử đi làm đại sứ của Hoa Kỳ tại Việt Nam và đã đóng một vai trò cốt yếu trong giai đoạn đầu của cuộc chiến: dù Kennedy chủ trương “nền độc lập của Nam Việt Nam là tùy thuộc chính nơi người dân và chính phủ của họ”, Taylor đã liền khuyến cáo nên phải gởi ngay 8.000 quân tác chiến Mỹ qua. Ông cũng đã thường công kích Tướng Nguyễn Khánh và đã nhúng tay trong việc lật đổ ông này, dù trước đó, chính ông ta đã ủng hộ Tướng Khánh để chỉnh lý Tướng Minh.

Năm 1965, Cabot Lodge Jr. đã thay ông khi ông trở về làm Cố vấn Đặc biệt của Tổng Thống cùng và Chủ tịch Viện Institute for Defense Analyses (1966–1969).

Tướng Taylor mất tại Hoa-thịnh-đốn, D.C. vào ngày 19 tháng 4 năm 1987.

https://en.wikipedia.org/wiki/Maxwell_D._Taylor

►10

Từ ngữ “Việt Nam hóa” đã do Bộ Trưởng Quốc Phòng dưới thời Nixon là Melvin Laird đặt ra trong buổi họp ngày 28 tháng giêng năm 1969 của Hội đồng An ninh Quốc gia mà nhân đó, Tướng Andrew Goodpaster, phụ tá của Tướng Creighton Abrams (Chỉ huy trưởng MACV) đã tường trình là QLVNCH đang phát triển khả quan và nay thì cũng đã đến lúc có thể “giải Mỹ ~ de-Americanized”. Laird đã đồng ý, nhưng không thích cách diễn tả này và đã đặt ra danh từ “Việt Nam hóa ~ Vietnamization”.

TUY NHIÊN, phía QLVNCH thì không đồng ý với kiểu nói này, và trong tài liệu khảo luận về đề tài “Tối Tân Hóa và Cải Tiến QLVNCH ~ Modernization and Improvement of the ARVN” trong sách The Vietnam War: An Asessment by South Vietnamese Generals do TS Lewis Sorley sưu tập (và người chuyển ngữ sẽ đăng trên trang Liên Mạng này ngày gần đây sau khi hoàn tất chuyển ngũ), hai vị Tướng Viên và Khuyên đã tỏ ra rất ư là đau đớn và xót xa về danh từ này!

https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamization

►11

Thật là thấm thía, nói lên cái khả năng cùng tư cách của người Tướng từng nắm trong tay cả vận mệnh nước ta, cũng như là ‘cái nhìn’ của đương sự về ‘người bạn đồng minh Nam Việt’!

Tại buổi họp Ban Tham Mưu Liên Quân ngày 2 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch là Tướng Maxwell Taylor đã từng có tuyên bố: “Tòa Bạch Ốc muốn là VNCH phải được sử dụng như để thí nghiệm mà thôi, mà không chỉ cho cuộc chiến kỳ này mà luôn cả cho mọi cuộc bạo lọan khác vế sau”.

“Notes of 021400 March 1964 JCS meeting, Harold K. Johnson Papers, MHI.”)

Còn trong cuộc thảo luận với viên phụ tá Bill Moyers trong ngày 24 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống L.B. Johnson cũng từng cho biết: ”Tôi muốn tụi nó phải chịu khó siêng năng chút xíu để chịu vô mấy khu rừng sâu đó mà quét sạch đi được vài tên Cộng. Còn thì tôi chỉ muốn để tôi yên, bởi vì tôi cũng đang có nhiều vấn đề lớn hơn để giải quyết tại quốc nội”.

“Gibbons, U.S. Government and the Vietnam War, Part III, p. 2-3”.

Cái định mệnh đau thương của Người Việt Quốc Gia đã là bị Trời định dính líu với loại người như Johnson, kẻ mãi chạy theo hào quang (?), chẳng hạn như chỉ quan tâm đến bề ngoài, chẳng hạn như Doris Kearns thuộc Thư viện LBJ có tiết lộ là cung cách của Johnson đã cuối cùng buộc ban điều hành phải báo cáo LÁO về số người từng tới thư viện LBJ cho đương sự để được yên.

Và để thỏa mãn Johnson, Westmoreland cũng đã cứ “chơi” với các con số thiệt mạng của VC trong những báo cáo – thay vì THỰC SỰ đánh dẹp CS!

►12

Melvin Robert “Bom” Laird (1922 – 2016) là một chính trị gia kiêm nhà văn và chính khách Mỹ từng là dân biểu của tiểu bang Wisconsin từ 1953 đến 1969, trước khi nắm chức Bộ Trưởng Quốc Phòng từ 1969 đến năm 1973 dưới chính phủ Tổng Thống Nixon. Ông đã là nhân vật chủ yếu trong tiến trình soạn thảo chính sách của chính quyền nhằm rút quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến Việt Nam, và chính ông cũng là cha đẻ của nhóm từ ngữ “Việt Nam hóa” để ám chỉ cho tiến trình chuyển giao thêm trách nhiệm giao chiến về cho QLVNCH.

https://en.wikipedia.org/wiki/Melvin_Laird

►13

TS Jeffrey J. Clarke đã tốt nghiệp Cao Học, rồi Tiến Sĩ Sử Học tại Đại học Duke. Ông từng phục vụ trong tư cách sử gia về chiến trường tại Việt Nam với Sư đoàn 1 Bộ binh (Big Red One) lừng danh, và đã là một sử gia chuyên về nghiên cứu tại U.S. Army’s Center of Military History (CMH) từ năm 1971, với rất nhiều tác phẫm về quân sử cùng những sử liệu thuộc thế kỷ 20. Mấy sách quan trọng của ông thì có thể kể ra là quyển Riviera to the Rhine, viết về lịch sử của U.S. Seventh Army and 6th Army Group trong Thế Chiến II, và The Final Years, tường thuật công trình của các cố vấn Mỹ tại Việt Nam từ 1965 đến 1973.

TS Clarke cũng giảng dạy tại các đại học Rutgers University và University of Maryland trên cả hai mươi lăm năm, mà vẫn đồng thời phục vụ trong Lực Lượng Trừ Bị, để rồi đã về hưu trong năm 1991 với cấp bực Trung Tá. Từ năm 2006, ông đã là Giám đốc Trung Tâm Quân Sử (Director of CMH) và Quân Sử Trưởng (Chief of Military History).

http://www.history.army.mil/banner_images/focus/dr_clarke_ret_comm/index.html

—–

Đọc thêm số tài liệu về khẩu M-16 nổi tiếng trên Liên Mạng:

Comparison of the AK-47 and M-16

https://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_the_AK-47_and_M16

****

Here’s why the US military is replacing the M16

http://www.businessinsider.com/heres-why-the-us-military-is-replacing-the-m16-2015-10

****

TÌM HIỂU SÚNG TRƯỜNG CÁ NHÂN CỦA QUÂN ĐỘI VNCH

https://dongsongcu.wordpress.com/2016/05/08/tim-hieu-sung-truong-ca-nhan-cua-quan-doi-vnch/

*****

Cuộc sống của người lính chiến Địa Phương Quân và Nghĩa Quân – Nguyễn Văn Quan

http://www.banvannghe.com/a3493/cuoc-song-cua-nguoi-linh-chien-dia-phuong-quan-va-nghia-quan-nguyen-van-quan

*****

AK-47 và M16 súng nào bắn chính xác hơn?

http://soha.vn/quan-su/ak-47-va-m16-sung-nao-ban-chinh-xac-hon-20141209095535102.htm

*****

 

 

Advertisements
%d bloggers like this: