Diễn Văn 30/4/2012 tại Thư Viện Vùng Williamsburg

Westmoreland: The General Who Lost Vietnam

Westmoreland: Vị Tướng Đã Thua Trận Việt Nam

Williamsburg Regional Library

Williamsburg, Virginia

30 April 2012

Thư Viện Vùng Williamsburg

Williambursg, Virginia

30 tháng 4 năm 2012

 Lewis Sorley

I am grateful for the privilege of this forum, and thank you all for coming. I want to acknowledge at the outset that we are gathered on 30 April, the anniversary of the fall of Saigon and end of the war in Vietnam, a very sad day for all those who had hoped that South Vietnam might be able to preserve its freedom and independence. It didn’t have to end that way, but that is another story for another day.

Tôi ghi nhận chân tình được phát ngôn trên diễn đàn này và cảm ơn tất cả quý vị đã đến. Tôi muốn ghi nhận ngay từ đầu là chúng ta tụ họp vào ngày 30 Tháng 4, ngày tưởng niệm Sài Gòn bị mất ngày kết thúc cuộc chiến tranh tại Việt Nam, một ngày buồn tủi cho tất cả những người đã từng hy vọng rằng Nam Việt sẽ có thểbảo vệ được tự do và độc lậpcủamình.Lịch sử đã đáng lẻ không có kết thúc theo cách đó, nhưng đó là một chuyện cho một ngày khác nào đó.

 There is one very positive outcome of the war, despite its tragic ending, and that is the million or more South Viet­namese who, then or later, made their way to Amer­ica. They are part of a new diaspora, people fleeing their homeland in search of opportunities to live in freedom elsewhere. Ginny and I have been fortunate to make many friends in the Vietnamese-American community. We are very proud of them for their decency, their work ethic, their thirst for education, and their patriotism regarding their new country.

bị kết thúcmột cách bi thảm,nhưng đãxẩy ra một kết quả rất tích cực từ cuộc chiến này,  và đó là điều đã có cả triệu hoặc nhiều hơn nữa những người  Nam Việtđến hay sau đó đã tìm cách đến được Hoa  Kỳ. Họ là một thành phần của một cộng đồng ly hương mới, những người đang chạy trốn khỏi quê hương của họ đểtìm kiếmnhững cơ hộihầu sống được trong tự domột nơi khácnào đó. Ginny và tôi đã may mắn có được nhiều bạn bè trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Chúng tôi rất tự hào về   họqua sự tử tế, qua đạo đứcnghề nghiệp , qua khát vọng được giáo dục, và qua lòng yêu nước của họ tại đất nước mới này của họ.

 Years ago, when I was researching the life and career of General Creighton Abrams, who spent five continuous years in Vietnam during the war, the last four as com­mander of all U.S. forces there, I was at Fort Leavenworth to interview the eldest of his sons, then on the faculty of the Army’s Command & General Staff College. I reminded him of what journalist Robert Shaplen had once said, that his father deserved a better war. “He didn’t see it that way,” young Creighton responded at once. “He thought the Vietnamese were worth it.” So do I.

Những năm trước đây, khi tôi đang tìm tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Tướng Creighton Abrams, người đã trải suốt năm năm chiến tranhliên tục tại Việt Nam , mà bốn năm cuối là với tư cách chỉ huy trưởng toàn thể các Lực Lượng Mỹ tại đó, lúc đang tại Fort Leavenworth tôi đã phỏng vấn người con trai trưởng của ông, mà lúc đó đang phục vụ trong phân khoa của Army’s Command & General Staff College. Tôi đã nhắc lại với ông  những gì nhà báo Robert Shaplen đã từng nói, rằng cha của ông xứng đáng một cuộc chiến tranh tốt hơn. “Cha tôi đã không nghỉ như vậy,“ con trai tướng Creighton đã dứt khoát trả lời .Cha tôi đã tin là người Việt Namrất xứng đáng với cuộc chiến này.  tôi thì cũng nghỉ vậy.

Now to the topic of the evening, the life and career of General Westmoreland. I warn you at the outset that this is not a happy story.

Bây giờ đến chủ đề của buổi tối nay, tức là về cuộc sống và sự nghiệp của Tướng Westmoreland. Tôi xin báo ngay trước với quý vị rằng đây không phải là một chuyện vui.

 But it is, I think, an important, even essential, one. My contention is that, unless and until we understand William Childs Westmoreland, we will never understand fully what happened to us in Vietnam, or why.

Nhưng tôi nghĩ là câu chuyện này quan trọngthậm chí còn là thiết yếu. Thảo luận của tôi là, trừ khi và cho đến khi chúng ta hiểu được William Childs Westmoreland thì chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được đầy đủ những gì đã xảy ra cho chúng ta tại Việt Nam, hoặc tại sao vậy.

 And Westmoreland’s is, overwhelmingly, a Vietnam story.

 Và chuyện về Westmoreland quả thật rỏ ràng rất xứng đáng để xem như là câu chuyện Việt Nam.

His involvement in the Vietnam War was the defining aspect of his life. He himself perceived that, and was driven for the rest of his days to characterize, explain, rationalize, and defend that role.

 Liên hệ của ông trong chiến tranh Việt Nam đã là yếu tố có tính cách quyết định về cuộc sống của ông. Ông đãtự nhận thấy vậy, và bị thúc đẩy trong suốt  phần còn lại của đời mình để cố gắng mô tả, giải thích, hợp lý hóa, và binh vực vai trò đó.

 His memoirs reflect the fixation. In a long career totaling thirty-six years as an officer, and a string of postings to increasingly important assignments, the four years he commanded American forces in Vietnam, and the after­math, constitute virtually the entirety of his account, all the rest a meager tenth.

Các hồi ký của ông đều phản ảnh sự nhập tâm này. Trong suốt một sự nghiệp lâu dài tổng cộng 36 năm với tư cách sĩ quan, và một chuỗi kế tiếp lên chức cứ càng càng ngày càng quan trọng hơn, thì thời kỳ bốn năm ông chỉ huy lực lượng Mỹ ở Việt Nam, và hậu quả sau đó đã hoàn toàn rỏ ràng là tiêu biểu cho định mệnh của ông, phần còn lại chỉ đáng giá chút xíu 1/10thôi.

◊◊◊

 Understanding Westmoreland is not easy. He turns out to be a surprisingly complex man. Fueled by ambition, driving himself relentlessly, of impressive military mien, energetic and effective at self-promotion, and skillful in cultivating influential sponsors, from his earliest days of service he led his contemporaries, was admired and advanced by his seniors, and progressed rapidly upward.

Cố tìm hiểu Westmoreland không phải là việc dễ dàng. Sau cùng thì ônglộ ra là một người đàn ông cực kỳ phức tạp. Thúc đẩy bởi tham vọng, luôn luôn không tự cho phép ngừng nghỉ, với một phong thái chinh phục được lòng người, đầy khã năng hiệu quả để tự đề cao, và khéo léo trong việc tổ chức nuôidưởng các nhà tài trợuy tín, ngay từ những ngày đầu của sự nghiêp, ông đã là kẻ lãnh đạocác đồng môn của ông, đãđược ngưỡng mộ và nâng đở lên chức bởi các niên trưởng của mình, và đãnhanh chóngthênh thang trên đường sự nghiệp.

 But few who served with him would claim they really knew this distant and difficult man. General Walter Kerwin, who was Westmoreland’s chief of staff for over a year in Vietnam, recalled that, although they worked very closely together, he and Westmoreland never had a personal relationship, never even a normal conversation as colleagues ordinarily would. “You couldn’t get to him—friendship and that kind of thing,” Kerwin remembered.

Nhưng có rất ít người từng phục vụ với ông đã có thể tuyên bố họ thực sự biết người đàn ông xa lạ khó khăn này. Tướng Walter Kerwin, vị tham mưu trưởng củaWestmoreland  trong hơn một năm ở Việt Nam, nhớ lại rằng, mặc dù họ làm việc rất chặt chẽ với nhau nhưng ông và Westmoreland không bao giờ có được một mối quan hệ riêng tư, thậm chí không bao giờ có được một cuộc trò chuyện bình thường như các đồng nghiệp bình thường đãsẽ phải có. “Bạn không thể nào có đượcvới ông ta –  như loại tình bạn hay loại liên hệ tương tự nào đó,” Kerwin đãnhớ lại.

Westmoreland had an extraordinary capacity for polarizing the views of those who encountered him. Few remained indifferent. His executive officer when Westmoreland was Army Chief of Staff described him as “the most gracious and gentlemanly person with whom I ever served.” And an executive officer Westmoreland had in Vietnam regarded him as the only man he ever met to whom the term “great” could be applied.

 Westmoreland đã có một khã năng phi thường để chuyển hướng và đúc kết lại quan điểm của những người từng tiếp xúc với ông. Rất ít kẻ không bị ảnh hưởng bởi ông. Sĩ quan Điều Hành của ông khi Westmoreland là Tham Mưu Trưởng Quân Đội đã tả ông là “người duyên dáng và lịch lãm nhất mà tôi từng được phục vụ.” Và mộtsĩ quan điều hànhphục vụ dưới quyền Westmoreland tại Việt Nam đãcoi ông ta người duy nhất trên thế gian ông từng gặp mà có thề nól là tuyệt vời  – great.

 

There were others, though, many others, who had a darker view. Among the most prominent was General Harold K. Johnson, a man of surpassing decency and good will. “I don’t happen to be a fan of General Westmoreland’s,” said Johnson. “I don’t think I ever was, and I certainly didn’t become one as a result of the Vietnam War or later during his tenure as Chief of Staff of the Army.” A general officer of another service, who served closely with Westmoreland in Vietnam, described him as “awed by his own magnificence.”

Có những người khác, rất nhiều người khác, những người đã có một cái nhìn kém thiện cảm hơn. Trong số đó, nổi bật nhất là Tướng Harold K. Johnson, một người đàn ông với tư cách liêm chính và thiện chí hơn mức bình thường. “Tôi không từng là một kẻ hâm mộ Tướng Westmoreland,” Johnson nói. “Tôi không nghĩ rằng tôi đãtừng như vậy, và chắc chắn tôiđã không trở thành kẻ đó do kết quả của chiến tranh Việt Nam hay sau này trong suốt nhiệm kỳ của ông như Tham Mưu Trưởng Quân đội.” Một viên tướng khác thuộc một binh chủng khác mà đã từng phục vụsát cánh với Westmoreland tại Việt Nam, đãmô tả ông là “ngay ông ta cũng tự kinh ngạc về hào quang của mình.”

 ◊◊◊

Westmoreland was born and raised in semi-rural South Carolina, near Spartanburg, where his father was manager of a textile mill. An Eagle Scout at age 15, president of his high school class, First Captain at West Point, Westmore­land was encouraged from his earliest days to think of himself as specially gifted and specially privileged.

Westmoreland sinh ra và lớn lên ở gần Spartanburg, một vùng bán nông thôn miền Nam Carolina, nơi thân phụ m giám đốc một nhà máy dệt. Ngay từ 15 tuổiđã là Eagle Scout , rồi là trưởng lớp trung học của mình, First Captain (Đại Úy Thủ Khoa) tại West Point, Westmoreland đã được khuyến khích từ những ngày đầu tiên của đời mình với lối suy mình  có những năng khiếu đặc biệtnhững đặc quyền riêng biệt.

“You do not know [how] happy and proud it makes us all to know that you are making good,” his father wrote to West-moreland during his plebe year at West Point. “Even the small boys and the negroes are interested and proud of it.”

 Con không thề nào biết được cả nhà hạnh phúc và tự hào[đến mức nào] khi mọi người biết được con đang thành công,”, cha ông đã viết cho West-moreland (“Phía Tây-thêm đất”)  trong năm đầu tại West Point. “Ngay cả đám con nít trai mọi đencũng quan tâm và tự hào về việc này.”

“When you need anything,” said his father on another occasion, “write me and I will send it to you. There is nothing too good for you.”

Trong một dịp khác, cha Ông đã nhắn với con Khi cần điều gì thì con hãy viết cho Ba biết và Ba sẽ gởi cho con. Đối với con thì không có điều gì là quá quý”.

A subsequent letter, still during Westmoreland’s plebe year, went even further. “The people here, white and black, think you are about the biggest man in the country,” reported his father. “Roosevelt has no rank at all compared to you. They really believe you will be President of the U.S. some day and talk this among themselves.”

Thân phụ ông, trong một bức thư tiếp theo vẫn trong năm đầu của Westmoreland tại West Point, đã còn diễn tả mạnh mẻ hơn nữa. “Mọi người ở đây, trắng và đen, đều nghỉ con là khuôn mặt quốc gia vĩ đại nhất,“. “Roosevelt  đã không hề có đẳng-câp so vớicon. Mọi người thực sự tin rằng con sẽ là Tổng thống Mỹ một ngày đây bàn luận với nhau về chuyện này. “

 ◊◊◊

 Westmoreland entered World War II as commander of an artillery battalion in the 9th Infantry Division, taking his unit into combat in North Africa. There they performed with distinction, earning a Presidential Unit Citation.

Westmoreland tham giaThế chiếnIIvới chức vụ chỉ huytrưởng một tiểu đoàn pháo binh thuộc Sư đoàn 9 BBinhđi tham chiến tại Bắc Phi. Ở đó, họ đã chứng tỏ khã năng lỗi-lạc và được tuyên thuởng Huy chương Đơn vịcủa Tổng thống  (Presidential Unit Citation).

 Subsequently, in Sicily, Westmoreland served temporarily under then-Brigadier General Maxwell Taylor, an associa­tion that would be extremely important to him throughout the rest of his career. For the rest of World War II Westmore­land was a staff officer.

Sau đó, tại Sicily, Westmoreland tạm thời phục vụ dưới quyền của Maxwell Taylor mà lúc đó đang Thiếu Tướng , một mối liên hệ mà sẽ là cực kỳ  quan trọng với ông trong suốt phần còn lại của sự nghiệp. Suốt thời gian còn lại củaThế Chiến II, Westmoreland đã phục vụ với tư cách là sĩ quan   tham mưu.

 Back in the United States, Westmoreland was able to get an assignment to the 82nd Airborne Division where, after attending jump school, he had a year in command of a parachute infantry regiment and then three years as division chief of staff.

Khi về lại Hoa Kỳ, Westmoreland đã được giao phó mộtchức vụ với Sư Đoàn 82, và tại đó, sau khi đi học nhảy, ông đã chỉ huy một trung đoàn bộ binh nhảy dù rồi kế tiếp là ba năm làmtham mưu trưởng sư đoàn.

◊◊◊

Late in the Korean War, Westmoreland took command of the 187th Airborne Regimental Combat Team, a unit that constituted the theater reserve and consequently was stationed in Japan and periodically deployed to Korea. Westmoreland commanded the outfit for fifteen months, of which nine months were spent in Japan (where, after a promotion to brigadier general, he was able to live with Kitsy and their young first child) and six months in Korea.

Vào cuối cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Westmoreland nắm quyền chỉ huy Trung ĐoànChiến Đấu 187 Nhảy Dù, một đơn vị được thành lập như lực lượng trừ bị sau đó đã đóng quân tại Nhật Bảnvà theo định kỳ cũng chuyển đóng quân tại Hàn Quốc. Westmoreland đã chỉ huy đơn vị này trong vòng mười lăm tháng, trong đó chín tháng thì là đóng tại Nhật Bản (nơi sau khi được nâng chức lên thiếu tướng, ông đã sống với Kitsy và đứa con đầu lòng của họ) cùng sáu tháng ở Hàn Quốc.

During one such Korean period when they were not in combat, Westmoreland—desirous of qualifying for the master parachutist’s badge—made thirteen jumps in one day.

 Trong một thời kỳ như vậy tại Hàn Quốc, khi không chiến đấu, Westmoreland, đã từng nhảy 13 lần trong một ngàymuốnlấy cho xong bằng master parachutist.

 New Brigadier General Westmoreland experienced his first Pentagon duty with an assignment in personnel. “I had not served there earlier, and I didn’t want to serve there,” he said in an oral history. Then Maxwell Taylor became Army Chief of Staff and rescued Westmoreland from the personnel policy morass, making him his Secretary of the General Staff. Two years later, having in the meantime been promoted to two-star rank, Westmoreland was rewarded by Taylor with command of the 101st Airborne Division.

Tân Thiếu Tướng Westmoreland đã có được kinh nghiệm đầu tiêntại Lầu Ngũ Giác trong một phần hành về nhân viên. “Trước đó tôi đã không phục vụtại đó, và tôi cũng không muốn phục vụ ở đó,” Ông đã phát biểu trong  một thuyết trình về sử. Sau đó, Maxwell Taylor đã trở thành Tham Mưu Trưởng Quân Đội cứu vớt Westmorelandra khỏi mớ bòng bong về chính sách nhân sự khi bổ nhiệm ông làm TKý Bộ Tổng Tham Mưucủa ông . Hai năm sau, mà trong thời kỳ này ông đã đượcgắn hai sao, Westmoreland đã được tưởng thưởng bởi Taylor với chức vụ chỉ huy trưởng của Sư đoàn Không vận 101.

Two years as division commander were followed by a three-year assignment as Superintendent of the United States Military Academy at West Point, then promotion to lieutenant general and six months in command of the XVIII Airborne Corps.

Kế tiếp hai năm làm sư đoàn trưởng là ba năm làm Chỉ Huy Trưởng Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, rồi sau đó ông được nâng cấp trung tướng nắm Quân Đoàn XVIIItrong sáu tháng.

◊◊◊

Westmoreland was sent to Vietnam in January 1964 as deputy to General Paul Harkins, then in June 1964 replaced him as Commander, U.S. Military Assistance Command, Vietnam, beginning what turned out to  be a four-year stint in that post.

Westmoreland đã được gửi đến Việt Nam trong tháng giêng năm 1964với tư cách là phụ tá cho tướng Paul Harkins, rồi vào tháng 6 năm 1964 đãthay thế ông này trong chức vụ Tư lệnh Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam, đểbắt đầu cho một thời gian bốn năm trong phần hành này.

In the spring of 1965 the United States began deploying ground forces to Vietnam. Under Westmoreland, who had decided to conduct a war of attrition, these forces concentrated almost entirely on large-unit search and destroy operations, primarily in the deep jungle.

Vào mùa xuân năm 1965 Hoa Kỳ bắt đầu triển khai các lực lượng bộ binh tại Việt Nam. Dưới quyền Westmoreland, người đã quyết định tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao, các lực lượng này thường thực hiện những chiến dịch lùng-và-diệt địch với sự tham dự của những đại đơn vị, chủ yếu là trong rừng già.

 Fixated on these large unit operations, called by many the “war of the big battalions,” Westmoreland largely ignored other key responsibilities, most importantly the upgrading of South Vietnam’s military forces and dealing with pacification. His way of war did nothing to affect the situation in South Vietnam’s hamlets and villages, where the enemy’s covert infrastructure was left free to continue using  coercion and terror to dominate the rural populace.

Quá bận tâm với các chiến dịch dung toàn đại đơn vị, mà nhiều người đã gọi là “chiến tranh của các tiểu đoàn bự“, Westmoreland phần lớn bỏ qua những trách nhiệmchính yếu khác, quan trọng nhất là phát triển thêm quân đội Nam Việt Nam và đối phó với công việc bìnhđịnh. Cách điều khiển chiến tranh của ông đã không hề làm gìngõ hầu ảnh hưởng đến tình hình trong thôn bản, làng, nơi mà cơ sở hạ tầng bí mật của đối phương cứ tự do tiếp tục áp bức khủng bố để thống trị dân nông thôn.

Meanwhile Westmoreland deprived the South Vietnamese of modern weaponry, giving U.S. and other allied forces priority for issue of the new M-16 rifle and other advanced military wherewithal. The South Vietnamese thus went for years equipped with castoff World War II-vintage U.S. equipment while being outgunned by the communists, who were provided the AK-47 assault rifle and other advanced equipment by their backers.

Trong khi đó thì Westmoreland đãkhông cung cấp cho miền Nam Việt Nam các loại vũ khí hiện đại, lại luôn luôn dành ưu tiên cho các lực lượng Mỹ và đồng minh khác về vấn đề các súng trường M-16 mới hay là các quân nhu quân liệu tối tân khác. Do đó trong rất nhiều năm Việt Nam chỉ được trang bị với các thiết bị đã bị phế thải của Mỹsau Thế Chiến IItrong khi bị yếu thế trước bọn cộng sản mà đã được quan thày yểm trợ cho súng trường tấn công AK-47 cùng các thiết bị tiên tiến.

 ◊◊◊

 It is important to know that it was left to Westmoreland to devise his own approach to conduct of the war. The con­ventional view of the war, even now, is that it was micro­managed from Washington. There are many stories of how, at Lyndon Johnson’s White House “Tuesday Lunches,” he and other top (mostly civilian) officials even selected indi­vidual bombing targets and made other such detailed de­terminations about aspects of the war. Those accounts are accurate. But the decisions involved had to do with ac­tions taken outside South Vietnam. Within South Viet­nam, the U.S. commander had very wide latitude in decid­ing how to fight the war. This was true for Westmoreland, and equally true for his eventual successor.

Điều quan trọng cần phải biếtWestmoreland được toàn quyền tự nghiên cứu và soạn thảo cách giải quyết cuộc chiến. Quan điểm từ lâu nay về cuộc chiến tranh, ngay cả bây giờ cũng vậy, là nó đã bị quản lý từng chi tiết bởi Washington. Đã có nhiều câu chuyệnkể lại như thế nào, tại các Buổi ăn trưa mổi thứ Ba” ở Tòa Bạch Ốc thời Lyndon Johnson , ông ta các viên chức (chủ yếu là dân sự) cao cấp khác đã thậm chí chọnlựa từng mục tiêu ném bom  cũng như là lấy biết bao là quyết định có tính cách chi tiếtliên quan đến chiến cuộc. Các tường trình này đều đúng.  Nhưng những quyết địnhnày chỉ liênhệ đến những hành vi xẩy bên ngoài Nam Việt Nam. Trong miền Nam Việt Nam, vị tư lệnh Mỹquyền hạn rất lớn trongcách tiến hành cuộc chiến. Điều này đãđúng đối với Westmoreland, và cũng đúng cho người kếtiếp của ông.

 

General Bruce Palmer Jr. confirmed this fact. “Washington never made any basic decisions on the strategic concept,” he said. “And that left Westmoreland in Vietnam to invent his own strategic concept, which he did.”

Tướng Bruce Palmer, Jr đã xác nhận sự kiện này. “Washington đãkhông bao giờ quyết định về n bản trong khái niệm chiến lược”, ông nói. “ Và yếu tố này cho phép Westmoreland đã có thể tự phát minh ra khái niệm chiến lược tại Việt Namcủa mình, và đó chính là điều mà ông đã làm.”

 This was not, Palmer concluded, a good thing. “There were many weaknesses in this strategy which in numerous in­terrelated ways played into the hands of the enemy.” For one, said General Palmer, “chasing around the countryside was futile.”

Đây không phải làđiều tốt, Palmer đãkết luận như vậy. “Đã córất nhiều điểm yếu kém trong chiến lược này trong nhiều cách hổ tương nhau đã đem lại lợi thế cho địch.” Ngay chỉ với một điều thì Tướng Palmerđã nói, “chạy theo đuổi địch khắp các vùng nông thôn quả tích sự.”

 General Phillip Davidson, Westmoreland’s chief intelli­gence officer, said that “Westmoreland’s interest always lay in the big-unit war. Pacification bored him.” And, said Davidson, the search and destroy operations favored by Westmoreland “accomplished little in providing the secure environment which pacification required.”

 Tướng Phillip Davidson, Trưởng Ban Tình Báo của Westmoreland, đãnói  “Quan tâm của Westmoreland luôn luôn vẫn là cuộc chiến tranhvới những đại đơn vị. Việc bình định làm ông ta chán ngấy.  Davidson tuyên bố là các chiến dịch lùng diệt địch mà Westmorelandưa thích “đãlàm được rất ít trong việc cung cấp môi trường an toàn mà chương trình bình định đòi hỏi.”

◊◊◊

The measure of merit in a war of attrition is body count. Westmoreland  underestimated the enemy’s staying power, calculating that if he could inflict enough casualties on the communists they would lose heart and cease their ag­gression against South Vietnam. Instead the enemy proved willing to absorb enormous losses and still keep fighting.  Thus the “progress” Westmoreland claimed in racking up huge body counts did nothing to win the war. The enemy simply kept sending more and more replacements to make up his losses. Westmoreland was on a  treadmill.

Đểđo khã năng thành công trong một cuộc chiến tranh tiêu hao là số lượng địch bị giết. Westmoreland đãđánh giá thấpkhã năng tồn tại của kẻ thù, đãtính toán rằng nếu ông có thể gây tử vong đủ cho bọn cộng sảnthì chúng sẽhết ý chí và ngưngxâm lấn Nam Việt Nam. Ngược lại, kẻ thù tỏ ra sẵn sàng chấpnhận các thiệt hại to lớn và cứ tiếp tục chiến đấu. Do đó, cái “tiến bộ”Westmoreland tuyên xưng trongviệc công bố số lượng kinh khủng về con số thiệt mạng của địch đã không có ảnh hưởng gì đến việc  giành chiến thắng. Kẻ thù chỉ đơn giản tiếp tục gửi nhiều hơn và càng nhiều hơn bộ đội để thay thế số thiệt hại của mình. Westmoreland đã như đang chạy trên máy chạy bộ trong nhà (treadmill) để giữ sức khỏe.

 Westmoreland also overestimated the American people’s patience and tolerance of friendly losses. On a visit to South Vietnam, Senator Hollings from Westmoreland’s home state of South Carolina was told by Westmoreland: “We’re killing these people,” the enemy, “at a ratio of 10 to 1.” Said Hollings, “Westy, the American people don’t care about the ten. They care about the one.”

Westmoreland cũng đánh giá sai sự kiên nhẫn của nhân dân Mỹ và khả năng chấp nhận số tổn thấtvề phe bạn. Trong một chuyến viếng thăm miền Nam Việt Nam, Thượng nghị sĩ Hollings của bang Nam Carolina đãđược Westmorelandtường trình : “Chúng tôi đang giết những tên này,tức đối phương, ” với một tỷ lệ 10 trên 1. “ Hollings đã đáp lại, “Westy, dân Mỹ không quan tâm đến con số mười. Họ chỉ quan tâm đếncon số một mà thôi.

◊◊◊

Westmoreland’s response to any problem was to request more troops. The result was buildup of a U.S. contingent of ground forces that eventually reached well over half a mil­lion men. But when the troop requests kept coming, with no evident progress in winning the war, Washington’s pa­tience ran out.

Trong mọi vấn đề, phản ứng của Westmoreland là xin thêm quân. Kết quả là việc tăng trưởng lực lượng bộ binh đến mức trên hơn nửa triệu. Nhưng với các yêu cầutăng quân cứ tiếp tục tới mà lại không có một tiến bộ rõ rệt nào cho thấy là đang dành chiến thắng trongcuộc chiến, Washington bắt đầu nản chí.

 In the spring of 1967 Westmoreland asked for 200,000 more troops, but got only a fraction of that amount.

 Mùa xuân 1967 thì Westmoreland đã xin thêm 200.000 quân nhưng chỉ nhận được một số nhỏ mà thôi.

 And then when, in the wake of the enemy’s 1968 Tet Of­fensive, Westmoreland asked for another 206,000 troops (a request he then spent years denying he had ever made), he got just token forces and was soon on his way home, re­placed in Vietnam by his deputy.

rôi sau cuộc Tổng Khởi Nghĩa Tết Mậu Thân 1968 của địch,  Westmoreland  đã xin thêm 206.000 quân (một thỉnh cầumà sau đó ông đã cứ tiếp tục trong nhiều năm phủ nhận), ông chỉ nhận được một con số tượng trưng ngay sau đó đã lên đường trở về cố hương khi bị thay thế bởi người phụ tá của mình tại Việt Nam.

 

◊◊◊

 It is clear that Westmoreland thought he could take the war over from the South Vietnamese, bring it to a success­ful conclusion, then hand their country back to them and go home in glory.

Thật rõ ràng Westmoreland đãnghĩ rằng ông có thể đãm trách cuộc chiến được dùm cho Nam Việt, và sẽ cuối cùng thành công, và rồi sau đó giao lại đất nước của họ cho họ và trở về nhà trong vinh quang.

Ambassador Ellsworth Bunker saw that this was the case, concluding that when the United States first got involved the political and psychological nature of the war was not understood. And, he said, “because we didn’t understand it our military thought we could get in and do the job and get out much more quickly than proved to be the case. Therefore,” he added, “I think that’s one reason we were slow in training the Vietnamese, instead of starting really to train them in an intensive way when we first went in there.”

Đại sứ Ellsworth Bunker  đã tin như vậy và kết luận rằng lúc đầu khi Hoa Kỳ tham dự thì bản chất chính trị và tâm lý của cuộc chiến tranh đã không hề được hiểu biết đến. Và, ông nói, “bởi vì chúng ta không hiểu nó nên quân đội của chúng ta đã nghĩchúng ta có thểtham dự rồi làm xong việc và rút ra mau lẹ hơn là nhưđã từng xẩy . Ông nói thêm,Vì vậy, tôi nghĩ  đó là một trong những lý do mà đã khiến chúng ta chậm trể trong việc đào tạongười Việt Nam, thay vì đã phải bắt đầu thực sự đào tạo họ một cách cặn kẻ ngay sau khi chúng tabắt đầu can dự vào đó.

General Fred Weyand, on the scene commanding a corps-level headquarters, saw the results at first hand. “The rea­son why some” South Vietnamese units “never operated at any distance from their fortified bases,” he observed, “was that they were quite literally surrounded by a strong, but well-hidden enemy and these lightly armed, under-strength units simply did not have the capability to deal with them.”

Tướng Fred Weyand, khi chỉ huy tại hiện trườngbộ chỉ huy cấp quân đoàn, đãđích thân chứng kiến các kết quả. Ông nhận xét là “Lý do vì sao một số đơn vị miền Nam Việt Nam đãkhông bao giờhành quân xa khỏi các căn cứ kiên cố của họ là vì đúng theo nghĩa đenthì họ đang bị bao quanh bởinhững đơn vị hùng mạnh nhưng đang núp kín và rằng những đơn vị được trang bị nhẹ, yếu kém của họ đơn giản là không thể nào đối phólại với địch được. “

 This disparity in resources, especially weapons, persisted throughout Westmoreland’s tenure in Vietnam. Ambassa­dor Bunker noted it in a reporting cable to the President only weeks before Westmoreland’s departure. “The enemy has been able to equip his troops with increasingly sophis­ticated weapons; they are in general better equipped than the ARVN forces, a fact which has an adverse bearing on ARVN morale.” He might also have noted the adverse ef­fects on ARVN performance and reputation. Westmoreland had by then been in command of U.S. forces in Vietnam for nearly four years.

Sự chênh lệch về tài nguyên, đặc biệt là vũ khí, tiếp tục tồn tại trong suốt nhiệm kỳ của Westmoreland tại Việt Nam. Đại sứ Bunker lưu ý trong một điện văn báo cáo gởi Tổng Thống chỉvài tuần trước khi Westmoreland rời chức. “Địch đã có thể trang bị cho quân đội của họ với vũ khí ngày càng tân tiến; nói chung thì chúng được trang bị khá hơn so với các lực lượng QLVNCH, một thực tế mà đã ảnh hưởng rất xấu đến tinh thần chiến sđấ`u của QLVNCH.” Đáng lý ông cũng đã phải báo cáo về hiệu quả xấu gây ra cho khã năng uy tín của QLVNCH. Lúc đó thì Westmoreland đã chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam trong gần bốn năm trời.

 Another American Ambassador of the time, General Maxwell Taylor, was even more blunt. “We never really paid attention to the ARVN army,” he said. “We didn’t give a damn about them.” Not until General Creighton Abrams came on the scene did this attitude change.

 Một Đại sứ Hoa Kỳ trong thời kỳ đó là Tướng Maxwell Taylor, thậm chí còn thẳng thừng hơn. “Chúng ta đã không bao giờ thực sự quan tâm đến quân đội VNCH,” ông nói. “Chúng ta khôngcoi họ ra gì.Mãi cho tới khi Tướng Creighton Abrams xuất hiện thì thái độ này mới thay đổi .

 ◊◊◊

1967 was a fateful time in Westmoreland’s Vietnam serv­ice. During that year he made three trips to the United States, where in public appearances he gave very optimis­tic assessments of how the war was going, part of what later came to be called the Johnson administration’s Pro­gress Offensive. “Very, very encouraged,” said Westmore­land in a plane-side press conference upon arriving in the U.S. in mid-November. “I’ve never been more encouraged during my entire almost four years in country.”

 Năm 1967 là một năm định mệnh trong sự nghiệp tại Việt Nam của Westmoreland. Trong năm đó, ông đã ba lần về nước để xuất hiện công khai và tuyên bố rấtlạc quan về cách đánh giá cuộc chiến đang xẩy ra sao, một phần mà sau đó đã được gọi làCuộc Tấn CôngDành Thắng Lợi (Pro­gress Offensive) của chính quyền Johnson. “Rất, rất là đáng phấn khởi“,  Westmoreland đã tuyên bố ngay sau khi rời phi cơ lúc về Mỹ vào giữa tháng 11. “Tôi đã chưa từng bao giờ phấn khởi hơn trong suốt toàn bộ thời gian bốn năm thi hành nhiệm vụ tại Việt Nam.”

 At the National Press Club he asserted that, “We have reached an important point where the end begins to come into view.” And, he added, “the enemy’s hopes are bank­rupt.” On another visit that year he spoke to a Joint Ses­sion of Congress, rendering another optimistic report and being so taken with the experience that he later described it as “the most memorable moment in [his] military ca­reer” and “[his] finest hour which gave [him] the greatest personal satisfaction.”

Tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia, ông đãkhẳng định, “Chúng ta đã đạt đến một điểm quan trọng là cuối cùng thì việc kết thúc đã ló dạng.”  , ông nói thêm, “các hy vọng của địch nay đều phá sản.” Cũng năm đó trong một lần trở về, ông đã thuyết trình trước một Khóa Họp Chung của Hạ Viện để báo cáo một cách lạc quan và đã bị sự kiện này đánh dấu mạnh trong tâm tư đến mức mà sau đó, ông đã mô tả lại nó như là khoảnh khắc đáng nhớ nhất trongquân nghiệp [của ông] ” và “giờphút tuyệt diệu nhất [của đời ông]mà đã khiến [ông]hài lòng nhất cho riêng cá nhân mình. “

1967 was also a time of vigorous debate about the enemy’s order of battle—meaning his strength and organization. Westmoreland denied senior civilian officials accurate data by imposing a ceiling on the number of enemy forces his intelligence officers could report or agree to and by personally removing from the order of battle entire cate­gories that had long been included, thus falsely portraying progress in reducing enemy strength.

 Năm 1967 là cũng là thời điểm của cuộc tranh luận mạnh mẽ về cách mà địch đang tiến hành cuộc chiến tranh  –  tức là sức mạnh và tổ chức của chúng.  Westmoreland đã không cung cấp cho các viên chức dân sự cao cấp những dữ liệu chính xác bằng cách ấn định số lượngtối đa về lực lượng địch mà các sĩ quan tình báo của ông được quyền báo cáo hay đồng ý và đãđích thân loại bỏ khỏi quân lệnh nhiều phân loại đã từng được ghi nhận, và do đó đãmô tả tiến trình thành công một cách sai lầm bằng cách báo cáo khã năng địch thấp xuống.

◊◊◊

Challenged by newsmen on his optimistic pronounce­ments, Westmoreland resorted to his familiar reliance on body count: “We are bleeding him a great deal more than  he is bleeding us.”

Khi bị báo chí thách thứcvì nghi ngờ các lời tuyên bố lạc quan của mình thì  Westmorelandđã lại dựa nơi quan điểm cố hữu về con số tử vong: “Chúng tôi đang làm thiệt hại địch nhiều hơn là họ đang gây ra với chúng tôi.”

 ◊◊◊

In May 1967 Westmoreland was sent a new deputy, an officer who was slated to take over the top command from him within a matter of weeks. As events played out, however, that did not happen, and it was thirteen months before it did.

Trong tháng 5 năm 1967, Westmoreland đã đón tiếp mộtvị phụmới, người được dự kiến sẽ tiếp nhận quyền chỉ huy tối cao từ ôngchỉ trong vòng một vài tuần. Tuy nhiên theo những gì đã xẩy ra, điều đó đã không xẩy ra, và chỉ biến thành thật mãi đến mười ba thángsau.

◊◊◊

Westmoreland sought to portray 1967 as a triumphant year, one during which he was winning the war. Others, many others, saw it much differently.

Westmoreland đã tìm cách miêu tả năm 1967 như là một năm thắng lợi, một năm mà ông ta đang thắng cuộc chiến. Những người khác, rất nhiều người khác,  thì lại có một cái nhìn khác đi rất nhiều.

          + By May of 1967 President Johnson was referring to the war as “a bloody impasse.”

          + Vào tháng 5 năm 1967, Tổng Thống Johnson đã gọi cuộc chiến đó như là “một ngõ cùng đẫm máu”.

          + In early November 1967 the President told the Wise Men, his group of outside advisors on war policy, that “we’ve been on dead center for the last year” in Vietnam.

          + Đầu tháng 11 năm 1967, Tổng Thống Johnson đã nói với nhóm  Wise Men (Các Vị Khôn Ngoan) gồm các cố vấn về cuộc chiến mà không thuộc Tòa bạch Ốc là “chúng ta đã đứng chết cứng nguyên cả năm ngoái” tại Việt Nam.

          + The “Wise Men” in turn concluded that Westmore­land’s search-and-destroy tactics must be abandoned.

          + Nhóm  Wise Men (Các Kẻ Khôn Ngoan) sau đó đã có kết luận là chiến thuật lùng-và-diệt của Westmoreland phải bị chấm dứt.

           + McNamara’s Systems Analysis Office in the Pentagon (headed by Alain Enthoven) concluded that “small patrols were much more effective and much less costly in casualties than big sweeps” and recommended “expanded use of small-unit operations, particularly patrols.”

          + Văn phòngSystems Analysis của McNamara trong Lầu Năm Góc (đứng đầu bởi Alain Enthoven) kết luận rằng “những nhóm tuần tra nhỏ  hiệu quả và ít tốn kém hơn rất nhiều về tiêu chuẩn thương vongkhi so sánh với các cuộc càn quét lớn” và khuyến cáo “phải tăng cường thi hành những cuộc hành quân nhỏ, nhất là sử dụngcác toán tuần tra.”

          + General Bruce Palmer Jr., serving as Deputy Commanding General of U.S. Army, Vietnam, told West­more­land’s incoming four-star deputy that he “really had basic disagreements with Westy on how it was organized and how we were doing it.” Later General Palmer elabo­rated: “It was just a mess,” he said. “We were losing and trying to put it together, and it just wasn’t working. There wasn’t anything that was working.”

         + Tướng Bruce Palmer Jr, đang Phó Tổng Tư Lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, đãnói vớivị tướng bốn sao sắp nhận nhiệm sở để phụ tá cho Westmorelandông “thực sự có những bất đồng căn bản với Westy về kiểu chiến tranh đang xẩy ra và phương cách chúng ta đang làm việc đó.”Sau đó, Tướng Bruce Palmer Jr giải thích thêm:Nó chỉ là một mớ rối bòng bong. Chúng ta đang thua trận đang cố gắngkhông bị tan rã sự việc chỉ là cuộc chiến khôngnhư chúng ta muốn. Không có bất cứ điều gì đã đúng như ý chúng ta. “

           + In late summer Ambassador Ellsworth Bunker submitted this assessment: “We still have a long way to go. Much of the country is still in VC hands, the enemy can still shell our bases and commit acts of terrorism in the securest areas, VC units still mount large scale attacks, most of the populace has still not actively committed itself to the Government, and a VC infrastructure still exists throughout the country.” That was what Westmoreland had to show for three years in command of U.S. forces.

         + Vào cuối , Đại sứ Ellsworth Bunker  đã đệ trìnhbản đánh giá này: “Chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để đi. Phần lớn đất nước vẫn còn trong tay Việt Cộng, địch vẫn có thểpháocác căn cứ của chúng tathi hành các hành vi khủng bố trong những khu vựccó an ninh nhất, các đơn vị VC vẫn còn các cuộc tấn công quy mô lớn, hầu hết dân chúng vẫn không tích cực cộng tác với Chính phủ, và một cơ sở hạ tầng VC vẫn còn tồn tại trong toàn nước.Đó là những gì mà đáng lý Westmoreland đã phải chothấy được trong suốt ba năm chỉ huy lực lượng Mỹ.

          + Even S. L. A. Marshall, a military columnist usually very supportive of the senior leadership, raised the key question: “Do the big sweeps such as the envelopment of the Iron Triangle or the attack on War Zone C really have a payoff justifying an elaborate massing of troops and moun­tains of supply?” His answer: “Many of the generals doubt it and the statistics of what is actually accomplished gives some substance to these doubts.”

          + Ngay cả SLA Marshall, một nhà bình luận quân sự thường rất ủng hộ giới lãnh đạo cấp cao, cũng nêu lên câu hỏicốt yếu: “Các cuộc càn quét lớn như chiến dịch bao vây Tam GiácSắt hoặc tấn công vào chiến khu C thực sự có đáng để biện minh chomột tiến trình quy mô để dốn quân và chất núi tiếp liệu?”. Câu trả lời của ông:” Nhiều vị tướng không tin vậy  và các con số thống kê về những gì đãthực sựlàm được cũng chothấy đáng nghi ngờ.

 

          + Surveyed after the war, Army generals who had commanded in Vietnam confirmed those doubts. Nearly a third stated that the search-and-destroy concept was “not sound.” As for the execution of search-and-destroy tactics, a majority of 51 percent thought it “left something to be desired,” an answer ranking below “adequate” in the survey instrument.

         + Khi được thăm dò sau chiến tranh,các vị tướng quân đội từng chỉ huy ở Việt Nam đã xác nhận những nghi ngờ này. Gần 1/3 tuyên bố là quan niệm lùng-và-diệt đã “không có lý. Một đa số 51% đãnghĩ rằng việc thi hành các chiến thuật lùng-và-diệt “đã không như ý, một cách xếp hạng câu trả lời kém hơn cả cách trả lời “đầy đủtrong việc kiểm điểm.

           + Commented Brigadier General Douglas Kinnard, author of the study, “Those replies show a noticeable lack of enthusiasm, to put it mildly, by Westmoreland’s gener­als for his tactics and by implication for his strategy in the war.”

         + Nhận xét của Thiếu Tướng Douglas Kinnard, tác giả của bản nghiên cứu, “Những câu trả lời này cho thấy mộtsự thiếuvắng nhiệt tìnhđáng chú ý, nếu ta nói một cách nhẹ nhàng thôi, về phía của các vị tướng từng phục vụ với Westmoreland, đối với các chiến lược cùng các hệ lụy củachiến thuật của ông trong cuộc chiến.”

         + In December 1967 Robert McNamara told a Tuesday Lunch at the White House that “the war cannot be won by killing North Vietnamese. It can only be won by protecting the South Vietnamese.”

         + Trong tháng chạp năm 1967, Robert McNamara đãnói nhân một Tuesday Lunch (Buổi  Ăn Trưa Mổi Thứ Ba) tại Tòa Bạch Ốc là “cuộc chiến không thể thắng được bằng cách giết người Bắc Việt. Nó chỉ có thể thực hiện được bằng cách bảo vệ xong miền Nam Việt Nam “.

         + By the end of 1967, remembered Nicholas Katzen­bach, “a grim sense of siege was descending on the White House.”

         + Đến cuối năm 1967, Nicholas Katzenbachđã nhớ lại, “một màn không khí đen tối đã đang dần dần bao phủ Tòa Bạch Ốc.”

         + Finally even General William DePuy, architect of the search and destroy approach to the war, admitted that it was “a losing concept of operation.” We ended up, he said after it was all over, “with no operational plan that had the slightest chance of ending the war favorably.”

         + Cuối cùng thì ngay cả Tướng William DePuy, kiến trúc sư của cách giao chiến lùng-và-diệt cũng thú nhận đó là “một khái niệmhành quân chỉ có để thua.” Sau chiến tranh ông ta đã nói “Cuối cùng thì chúng ta đã kết thúc mà không hề có một kế hoạch hành quân nào khã dỉ có được chút hy vọng chấm dứt được chiến tranhmột cách thuận lợi.”

 In the face of this united opposition to his way of war, and the widespread negative view of what it was achieving, Westmoreland maintained, then and later, that “the North Vietnamese in mid-1967 were in a position of weakness.”

Để trả lời lại khuynh hướng đồng chống đối về cách tham chiến quan điểm tiêu cực phổ biến về những gì đã thực hiện được, Westmoreland đã luôn luôn xác định, cả vào lúc đó và sau này rằng “Bắc Việt vào giữa-1967 đãđang ở một vị trí yếu kém.”

 Commenting on LBJ, military historian Russell Weigley observed that: “No capable war President would have allowed an officer of such limited capacities as General William C. Westmoreland to head Military Assistance Command, Vietnam, for so long.”

Khi bình luận về LBJ, nhà quânsử học Russell Weigley đã nhận xét là : “Không một Tổng thống có khả năng nào mà lại có thể cho phép một sĩ quan với khã năng hạn chế như Tướng William C. Westmoreland nắm Bộ Chỉ  Huy Viện Trợ Quân S tại Việt Nam lâuđến như vậy.”

 

◊◊◊

There were many instances, especially concerning matters in Vietnam, where Westmoreland had been willing to shade or misremember or deny or invent the record when his per­ceived interests were at risk. One episode involving his lack of confidence in the Marine leadership is both illus­trative and revealing. Shortly before the Tet Offensive be­gan in early 1968 Westmoreland decided to send his dep­uty north to the I Corps region to establish and run a tac­tical headquarters that he designated MACV Forward. From there the deputy was to control the operations of all U.S. forces in the area, including those of the Marine Corps.

Đã có nhiều lần, đặc biệt khi liên quan đếncác vấn đề tại Việt Nam Westmoreland đã sẵn sàng để che dấu hay cố tình nhớ  sai hay ngay cả tự nghiển ra phúc trình lưu giữ khi ông ta thấy là quyền lợi của mình có thể bị tổn hại. Một giai thoại liên quan đến việc ông thiếutin tưởng vào giới chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến là một ví dụ tượng trưng cho thấy sự thật. Ngay trước khicuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thânbắt đầu, vào đầu năm 1968 Westmoreland đãquyết định gửi phụ tá ra Bắcthuộc khu vực Quân Đoàn I để thiết lập và điều động một bộ chỉ huy chiến thuật ông đặt tên là MACV Forward. Từ đó, vị phụ tá sẽ kiểm soát các hoạt động của tất cả các lực lượng Mỹ trong khu vực, bao gồm cả những Thủy Quân Lục Chiến.

Westmoreland’s chief intelligence officer, General Phillip Davidson, had returned from a visit to Khe Sanh and briefed Westmoreland on the situation there. “The de­scription of the unprotected installations…and the general lack of preparation to withstand heavy concentrations of artillery and mortar fire agitated General Westmoreland,” said Davidson. “Finally he turned to [his deputy] and said something to the effect that he (Westmoreland) had lost confidence in [Marine General] Cushman’s ability to han­dle the increasingly threatening situation….” His response was to set up MACV Forward.

Sĩ quan Giám đốc Tình báo của WestmorelandTướng Phillip Davidson, sau khi trở về từ một chuyến viếng thăm Khe Sanh đã thuyết trình với Westmoreland về tình hình ở đó. “Báo cáo về các cơ sở không được bảo vệ một tình trạng chung thiếu chuẩn bị để chịu đựng và cầm cự trước cường  độ nặng nề về pháo súng cối địch đã khiếm Westmorelandbối rối “, Davidson kể lại. “Cuối cùng, ông đã quay qua [vị phụ tá] của ông và tuyên bố một điều gần như là ông (Westmoreland) đã mất niềm tin nơi [Tướng Thủy Quân Lục Chiến] Cushmantrong khả năngchỉ huy trước tình hình cứ càng ngày càng nguy hiểm …”.Phản ứng của ông đã thiết lập MACV Forward.

 Marine reaction was predictable. One division commander called this “the most unpardonable thing that Saigon did!” and said Marines viewed it “with shock and astonish­ment.” Westmoreland soon held a press conference in which he denied that any loss of confidence in Marine leadership had been his reason for placing the new head­quarters over them.

Phản ứngcủa Thủy Quân Lục Chiến thì ta dự đoán được. Một sư đoàn trưởng đã tuyên bố đó “điều Sài Gòn đã làm mà tuyệt đối không thể tha thứđược!” và cho biết Thủy Quân Lục Chiến đã bị sốc và sửng sốt.” Ngay sau đó Westmoreland đã tổ chức một cuộc họp báo trong đó ông phủ nhận không hề có việc mất lòng tin vào sự lãnh đạocủa Thủy Quân Lục Chiến trong quyết định đặthọ dưới quyền của bộ chỉ huy mới.

 Westmoreland also cabled Cushman to say “there has been extensive backgrounding here [in Saigon] with the various news bureau chiefs to point out that the establishment of MACV Forward carried no stigma whatsoever with respect to the Marines, that it was merely a normal military practice…, and that it was only temporary.”

Westmoreland cũng đánh điện cho Cushman đểnói “đã có rất nhiều tin  hành lang đây [tại Sài Gòn] do nhiều viêntrưởng phòng thông tin đã chỉ rỏ là việc thành lập của MACV Forward không hề có tính cách kỳ thị nào đối với Thủy Quân Lục Chiến, nó chỉ đơn thuần là một tập quán quân sự bình thường…, và rằng đó chỉ là tạm thời mà thôi.

Only the “temporary” was true. The other denials were false, as evidenced not only by Davidson’s eyewitness ac­count but also by a lengthy and anguished cable Westmo­reland sent contemporaneously to General Earle Wheeler, Chairman of the Joint Chiefs of Staff. “As you perhaps ap­preciate,” he began, “the military professionalism of the Marines falls far short of the standards that should be de­manded by our armed forces. Indeed, they are brave and proud, but their standards, tactics, and lack of command supervision throughout their ranks requires improvement in the national interest.”

Chỉ  có chi tiết tạm thời” là đúng. Các lời chốitừ khác đều sai, minh chứng không chỉ do những tường thuật sở thị của Davidsonmà còn luôn bởi một công điện dài và đầy đau khổWestmoreland đãgửilúc đó cho Tướng Earle Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân. “Như Ngài có lẽ đã thấy rỏ,” ông bắt đầu,đặc tính chuyên nghiệpvề quân sự của Thủy Quân LụcChiến rất kém xa các tiêu chuẩntừng được đòi hỏi nơi quân đội của chúng ta. Quả thật là họ dũng cảmxứng đáng, nhưng các tiêu chuẩn, các chiến thuật của họ, và sự kiện thiếukiểm soát của kẻ chỉ huy trong suốt  từ dưới lên trên của họ đòi hỏi cần phải được cải thiện lợi ích quốc gia.

 

There was more: “I would be less than frank,” added Westmoreland, “if I did not say that I feel somewhat inse­cure with the situation in Quang Tri province, in view of my knowledge of their shortcomings. Without question, many lives would be saved if their tactical professionalism were enhanced.”

 n thêm nhiều nữa: “Tôi sẽ không được thành thật“, Westmorelandđã nói thêm, “nếu tôi không nói rằng tôi cảm thấy hơi e ngại với tình hình tại tỉnh Quảng Trị, với các hiểu biết của tôi vềmọi thiếu sót. Điều dĩ nhiên là nhiều sinh mạng sẽ không bị hao phí nếu khã năng chiến thuật chuyên nghiệp của họ được tốt thêm. “

After the war, when the Marines were writing their history of the conflict, they sent a draft of the 1968 volume to Westmoreland for comment. He marked it up so exten­sively, and took issue with so many of the judgments ren­dered, that he was invited to discuss the whole matter in person. He accepted and, in a session with a number of Marine Corps historians, again insisted with regard to es­tablishment of MACV Forward that “that particular action had not a damned thing to do with my confidence in Gen­eral Cushman or the Marines, not a damned thing.” This was not only false but, given the existing paper trail, reckless in the extreme.

Sau cuộc chiến, khi Thủy Quân Lục Chiến  viết sử của họ về cuộc xung đột, họ đã gửi một bản thảo của bộ Năm 1968cho Westmoreland bình luận. Ông đãđánh dấuphê bình triệt để và phản đối với một số quá nhiều nhận xét để đưa đến việc ông đã được mời để đích thân thảo luận về toàn bộ vấn đề. Ông đãchấp nhận và trong một phiên họp với một số các nhà sử học Thủy Quân LụcChiến, một lần nữa khẳng định về quyết định thành lập MACV Forward “hành động đặc biệt này không hề dính líu một chút xíu gì tới sự tin tưởng của tôi nơi tướng Cushman hay Thủy Quân Lục Chiến, hoàn toàn không là một điều chết tiệt nào đó.” Việc này không chỉ sai, nếu so với toàn bộ chứng từ hiện có,mà còn là một điều cực kỳ ẩu tả.

 Westmoreland racked up a lengthy record of false, misleading, and inaccurate statements or omissions, ranging from enemy order of battle to his troop requests, from the situation in Vietnam to closure of Khe Sanh Base, and from battles in the Ia Drang to prediction of an early end of the war to light at the end of the tunnel. Some of these matters were petty, others of crucial importance, but they were alike in one respect—when Westmoreland saw his personal interests at stake, he did not hesitate to conceal or abandon the truth.

Khi nói về Westmoreland thì đó đã là toàn bộ bằng chứng kỷ lục dài về báo cáo sai sự thật, về gây hiểu lầm, và về tính cách không chính xác hoặc thiếu sót, từ cách địch hành quân cho đến các yêu cầu của các đơn vị của quân ông, từ tình hình ở Việt Nam tới việc bỏ căn cứ Khe Sanh, và từ những trận đánh tại Ia Drangcho tới việc tiên liệu sẽ có ánh sáng ở cuối đường hầm chấm dứt sớm cuộc chiến.. Một số những vấn đề này thì nhỏ nhặt,một số khác thì quả thật cực kỳ quan trọng, nhưng đều giống nhau vềmột phương diện – khi Westmoreland thấy có thể tổn hại cho quyền lợi cá nhân thì ông đã không ngần ngại để che giấu hay từ bỏ sự thật.

 ◊◊◊

When, at the end of January 1968, the enemy’s Tet Offensive began, Westmoreland’s long turn at bat was nearing an end. The Tet resurgence of enemy forces led many to conclude that, in his optimistic forecasts of the previous year, Westmoreland had either not known what he was talking about or had not leveled with the American people. It is hard to know which is the more devastating criticism. What was clear, however, was that with his unavailing approach to conduct of the war Westmoreland had squandered four years of support by much of the American people, the Congress, and even the media.

 Khi trận Công Kích Tết Mậu Thân của địch bắt đầuvào cuối tháng giêng năm 1968 thì hạn kỳ trách nhiệm chỉ huy lâu dài của Westmoreland đã đến hồi kết thúc. Việc hồi sinhvào dịp Tết của các lực lượng địch đã khiến nhiều người đi đến kết luận rằng, trong các dự báo lạc quan của năm trước, Westmoreland đã hoặc không biết những gì ông đang nói hay thật sự nói láo với dân Mỹ. Thật khó để biết điều chỉ tríchnào là tàn nhẫn hơn. Điều rõ ràng,dù sao thì với cái kiểu chỉ huy quân sự vô hiệu quả, ông cũng đã hoang phí đi bốn năm hỗ trợ của nhiều người dân Mỹ, của Quốc hội, và thậm chí cả của các phương tiện truyền thông.

◊◊◊

 For the next four years Westmoreland served as Army Chief of Staff. The Army of that day was struggling with many problems, some the result of the ongoing war in Vietnam, others more societal in origin. These included indiscipline, widespread drug abuse, racial disharmony, budgetary shortfalls, and the necessity to prepare for the end of the draft and transition to an all-volunteer force.

 Trong bốn năm kế tiếp, Westmoreland đãphục vụ trong cương vị Tham Mưu Trưởng Bộ Binh. Bộ Binh lúc đó đã phải điên đầu với nhiều vấn đề, một số kết quả của cuộc chiến tranh đang còn tiếp diễn tại Việt Nam, một số khác có nguồn gốc từ định chế xã hội . Chúng gồm cả tình trạng vô kỷ luật, việc phổ biến lan tràn lạm dụng ma túy, việc bất hòavề chủng tộc, các vấn đề thâm hụt ngân sách, và sự cần thiết để chuẩn bị chấm dứt định chế quân dịch để thay bằng một lực lượng tình nguyện.

Faced with these multiple crises, Westmoreland decided to focus his attention elsewhere. “I spoke in every state in the union,” he later recalled. “I considered myself the military spokesman of the Army, and that I should be exposed to the American public and put forth the Army’s point of view. I felt that an understanding of the military was the primary mission that fell on my shoulders while I was Chief of Staff.”

Đối đầu với các cuộc khủng hoảng quá nhiềuđó, Westmoreland lại quyết định tập trung sự chú ý của mình ở một nơi khác. “Tôi đã nói chuyện trong từng mổi tiểu bang trongnước“, sau này ông đãnhớ lại. “Tôi đã tự coi bản thân như là phát ngôn viên quân sự của Quân Đội, và rằng tôi phải tiếp xúc với công chúng Mỹ và đưa ra quan điểm của Quân Đội. Tôi cảm thấy rằng một sự hiểu biết về quân độiphải là nhiệm vụ chính được giao phó cho  tôi trong khi tôi làm Tham Mưu Trưởng. “

 “I had too much to occupy me [to get into details of Army reorganization],” Westmoreland said in a later oral history. “I, frankly, in evaluating the priorities of my time, gave rather high priority to going around the coun­try and giving them the facts of life with respect to the military….”

“Tôi đã quá bận rộn [để có thể chú ý vào việc tái tổ chức về chi tiết Quân  Đội]”, Westmoreland đãcho biết trong một lần thuyết trình về lịch sử sau đó. “Tôi đãthẳng thắn đánh giá những ưu tiên trong đời tôi, dành ưu tiên khá cao để đi khắp nước và tường trình chomọi người các sự thật của cuộc sống đối với Quân đội ….”

 ◊◊◊

In later years Westmoreland viewed himself as very much put upon. “My years away have been fraught with challenges, frustrations, and sadness,” he said to a hometown audience. “Nobody has taken more guff than I have,” he claimed, “and I am not apologizing for a damn thing—nothing, and I welcome being the point man!”

Trong những năm về sau, Westmoreland đã tự xem mình như từng bị lợi dụng  nhiều. “Những  nămxa xứ của tôiquả thật đầy thách đố, thất vọng và buồn bã “, ông đãnói với một cử tọa tại tỉnh nhà. “Không ai mà đã bị xuyên tạc nhiều hơn tôi”, ông đãtuyên bố, “và tôi không hề xin lỗi cho bất cứ  một điều gì – không bao giờ, và tôi chấp nhận đã là người được chỉ định!”

 That outlook, no second-guessing of himself and no regrets, persisted through the end of his life. As Army Chief of Staff and beyond, Westmoreland made strenuous efforts to shape the historical record in ways favorable to his version of reality.

Cách tự đánh giá kiểu chết cứng đó mà không hề hối tiếc gì đã kéo dài mãi cho tới cuối đờiông. Với tư cách là Tham Mưu Trưởng Quân Độinếu nói xa hơn nữa, Westmoreland đã vất vả nỗ lực để uốn nắn ghi chép lại lịch sửlàm sao thuận lợi với lối nhìn về thực tế của mình.

This included writing his memoirs. Charles MacDonald, a professional military historian, was the ghost writer for that project. He was dismayed that Westmoreland insisted on producing an account like Eisenhower’s Crusade in Europe and didn’t let the fact that he’d lost his war keep him from doing so.

Điều này bao gồm cả luôn việc viết hồi ký. Charles MacDonald, một nhà sử học quân sự chuyên nghiệp, đãlà nhà vănphụ giúp cho dự án đó. Ông đã ngở ngàng khi thấy là Westmoreland khẳng định muốn xuấtbản một tài liệu nhưbộ Crusade in Europe (Viễn Chinh tại Âu Châu) của Eisenhower  và không hề nghỉ tới là việc ông ta đã thua trận không thể nào cho phép ông làm vậy.

 Wrote Westmoreland self-pityingly: “As American commander in Vietnam, I underwent many frustrations, endured much interference, lived with countless irritations, swallowed many disappointments, bore considerable criticism.”

 Westmoreland đã thương thân trách phận : “Với tư cách là ChHuy Trưởng Mỹ tại Việt Nam, tôi đãtrải qua nhiềuthất vọng , đãchịu đựng nhiềusự can dự , đãsống với nhiều bực bội không thể nào kể xiết, đã phải nuốt  nghẹn biết bao nhiêu điều rất nản chí, đã phải hứng chịubiết bao lời chỉ trích.”

 ◊◊◊

Two major episodes, both extremely traumatic, marked the Westmoreland retirement years. First was a dramati­cally unsuccessful campaign for governor in his native state of South Carolina. Then there was a failed libel suit against the CBS Television Network for a documentary charging Westmoreland with manipulation of enemy strength figures while he commanded U.S. forces in Viet­nam.

Hai giai đoạn chính, cả hai đều cực kỳ đau thương, đãđánh dấu những năm nghỉ hưu của Westmoreland. Trước hết là cuộc vận động tranh cử thống đốc tiểu bang nhà là South Carolina đã thất bại một cách bi đát. Rồi thì là vụ thua kiện đối với CBS Television Network về tội phỉ báng liên quan tới một bộ phim tài liệutừng cáo buộc Westmoreland đã tự ý thay đổi các con số ước lượng thực lực địch quân trong thời kỳ nắm quyền chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam.

In each of these cases Westmoreland ignored the advice of highly qualified men who had his best interests at heart and who counselled against the courses of action Westmoreland took.

Trong cả hai trường hợp này, Westmoreland đều đã bỏ qua lời khuyên của những người có trình độ cao mà đã muốn thật tình bênh ông khi họ khuyên ông không nên làm như vậy.

In the political campaign Westmoreland came in second in the Republican primary to a state senator who then went on to be elected South Carolina’s first republican governor since Reconstruction. Westmoreland said he had found it very hard to shake hands with people, ask people for fa­vors, and talk about himself. Despite a campaign theme describing him as “the only candidate with the proven leadership and administrative ability to carry South Caro­lina to greatness,” Westmoreland ran a poorly managed campaign that was late getting started, never got out a coherent message, and wound up deeply in debt. Afterward Westmoreland called it his most degrading experience.

Trong cuộc vận động chính trị, Westmoreland đã về nhì ở lần bầu sơ bộ của đảng Cộng Hòa đứng dưới một thượng nghị sĩ tiểu bang mà là kẻ sau đó đã được bầu làm thống đốc cộng hòa đầu tiên của bang Nam Carolina kể từ sau thời Tái Thiết  (Reconstruction) . Westmoreland đãcho biết mình tự thấy rất khó chịu khi đi bắt tay từng người, rồi yêu cầu họ ủng hộ và phải nói chuyện về chính bản thân của mình. Dùvới một chủ đềvận động nhằm mô tả ông như là “ứng cử viên duy nhất với khã năng lãnh đạo đã được chứng minh và một khả năng hành chính khã dỉ đem được South Carolina tới thành công rực rở“, Westmoreland đãmột cuộc vận động ứng cử bị điều hành rất yếu kém mà lại bắt đầu chậm trễ, đãkhông hề đưa ra được một thông điệpmạch lạc và đã kết thúc bị nợ nần ngập đầu. Sau đó Westmoreland đã nhận đó kinh nghiệm nhục nhã nhất của mình.

◊◊◊

In 1982, CBS Television aired a documentary charging Westmoreland with having manipulated reports of enemy strength during the Vietnam War. Westmoreland had willingly participated in making the program, being interviewed on camera (and asking to be paid for it).

Năm 1982, Đài truyền hình CBS đã cống hiến một bộ phim tài liệucáo buộc là Westmoreland đãthao túngsữa đổi theo ý mình các báo cáovề khã năng địch trong thời chiến tranh Việt Nam. Westmoreland đã tự ý tham gia trong việc thực hiện chương trình, đãđược phỏng vấncó thu hình (và đã  yêu cầu được trả tiền thù lao cho việc này).

 The resulting broadcast was not favorable to him, with numerous former intelligence officers describing how enemy strength data had been manipulated, and how Westmoreland himself had decreed that certain whole categories of enemy forces be taken out of the order of battle, thus artificially driving down the total of enemy forces so as to achieve “progress” in his war of attrition.

Cuối cùng khi ra mắt thì chương trình lại đã không thuận lợi cho ông, với rất nhiều cựu sĩ quan tình báo đãmô tả làm thế nào dữ liệuvề khã năng địch đãbị uốn nắn, và làm thế nào Westmorelandtự mình đã ra lệnh  loại bỏ toàn thể một số loại liệt kê quân địchra khỏi lệnh hành quân, do đó đãgiả tạohạ thấp tổng số lực lượng đối phươngnhằm để đạt được “tiến bộ” trong cuộc chiến tranh tiêu hao của mình.

In due course, against the advice of high-powered attorneys who advised against it, Westmoreland brought a libel suit against CBS, seeking $120 million in damages.

Đúng như ý định,bất kể lời khuyên củacác luật sưnổi tiếng từng cố vấn ngược lại, Westmoreland đã khởi tố CBS về tội phỉ báng, đòi hỏi tới $120 triệu tiền bồi thường thiệt hại.

In the course of a lengthy trial, with Westmoreland represented by an attorney who had never before tried a case in court, things did not go well. Still the thing dragged on for some eighteen weeks. Then, just days before the case would have gone to the jury, Westmoreland withdrew his suit. In exchange he received a vanilla statement from CBS which he claimed exonerated him. “The effort to defame, dishonor and destroy me and those under my command had been exposed and defeated,” he asserted. “I therefore withdrew from the battlefield, all flags flying.”

Trong suốt vụ kiện kéo rất dài, với Westmoreland đại diện bởi một luật sư chưa từng bao giờnhiệm cách biện hộ trước tòa, mọi việc đã khôngxẩy ra như ý. Dù vậy nội vụ cũng kéo dàicho tới mười tám tuần lể. Rồi thì,chỉ vài ngày trước khi vụ án được bồi thẩm đoàn nghị án, Westmoreland đã rút đơn khởi tố của mình. Để bù lại, ông đã nhận được một tuyên bố ‘gở nhục’  từ CBS ông đãtuyên bốlà đã bạch hóa mọi việc cho ông. “N lực để phỉ-báng, làm mất danh-giá nhằm tiêu diệt tôi cùng với các thuộc cấp  đã bị vạch trần và đánh bại“, ông ta khẳng định như vậy. “Do đó, tôi rút lui khỏi chiến trường, với mọi cờvẫn phất phới bay.”

Editorial opinion was not so favorable. The New York Times succinctly stated the prevailing reaction. “At the end,” it concluded, “[General Westmoreland] stood in imminent danger of having a jury confirm the essential truth of the CBS report. For, in court, as on the original program, the general could not get past the testimony of high-ranking former subordinates who confirmed his having colored some intelligence information.” Said one of the jurors to the press on the way out the courthouse door, “The evidence in favor of CBS was overwhelming.”

Lập trường của các biên tập viên báo chí thì tỏ ra không thuận lợi như vậy. The New York Timesđãđúc kết ngắn gọn phản ứng đa số. Báo đã kết luận, Cuối cùng, [Tướng Westmoreland] rất gần kề với nguy cơ của một bồi thẫm đoàn đồng ý xác nhậnsự thật cốt-yếu củabộ phim tường trình của CBS. Bởi vì, ngay tại tòa án, cũng như trên chương trình đã nói, vị tướng đã không thểbác bỏ được các lời khai củacác sĩ quan cao cấpdưới quyền mà đã xác nhận ông đã thay đổi một số thông tin tình báo. Một vị bồi thẩm đã nói với báo chíkhi rời tòa án, “Các bằng chứng bênh vực cho CBSrất áp đảo.”

◊◊◊

“Westmoreland’s life since Vietnam has been miserable,” observed a former aide.

Một cựu phụ tá đã nhận xét, “Cuộc đời của Westmoreland từ sau Việt Nam quả thật là khốn-nạn”.

Westmoreland himself seemed to have contributed much to that outcome. “The Vietnam War is my number one pri­ority,” he told an interviewer some years after retirement. “I’ve tried to spread myself thin and visit all sections of the country.” 1990

Dường như chính Westmoreland đã tự mình tạo ra rất nhiều chohồi kết thúc sau đó. “Chiến tranh Việt Nam là ưu tiên hang đầu của tôi“, ông đãnói với một  phỏng vấn viên vài năm sau khi về hưu. “Tôi đã cố gắng bao dàn đi thăm mọi phần của đất nước.” 1990

But then, in an assertion completely undermining the meaning and purpose of all those years of incessant, even frantic, activity, Westmoreland told a college audience that “in the scope of history, Vietnam is not going to be a big deal. It won’t float to the top as a major endeavor.”  1993  Hampton-Sydney College

Nhưng rồi sau đó, khi khẳng định hoàn toàn ngược lại, để phá nát ý nghĩa và mục đích của tất cả những năm không ngừng nghỉ , thậm chí gần như là điên cuồng hoạt động đó, Westmoreland đã tuyên bố với một cử tọa sinh viên là về phương diện lịch sử, Việt Nam sẽ không là một đề tài quan trọng. Nó sẽ không nổi bật lên với tính cách một nỗ lực lớn “1993 Hampton-Sydney College.

Westmoreland’s ultimate failure would have earned him more compassion, it seems certain, had he not personally been so fundamentally to blame for the endless self-pro­motion that elevated him to positions and responsibilities beyond his capacity. “It’s the aggressive guy who gets his share—plus,” Westmoreland maintained. “That principle applies to most anything.” That’s the way he operated.

Thất bại tối hậu của Westmoreland đã phải đem lại cho ông ta thêm nhiều trắc-ẩn, rỏ ràng là vậy, nếu ông ta đã không đích thân bị chê trách trên căn bản là đã không ngừng nghỉ  tự đề cao đưa đẩy mình lên tới những chức vụ  và trách nhiệm vượt quá khã năng mình. Chính kẻ xung kich mới dành được phần thắng,“, Westmoreland từng khẳng định. “Nguyên tắc này áp dụng được cho bất cứ mọi trường hợp.” Đó đãlà cáchthức ôngta chỉ huy.

In later years Westmoreland, widely regarded as a general who lost his war, also lost his only run for political office, lost his libel suit, and lost his reputation. It was a sad ending for a man who for most of his life and career had led a charmed existence.

Vào những năm sau cùng, Westmoreland, viên tướng mà đa số coi như là kẻ đã thất trận chiến của mình, cũng thất bại trong lần tranh cử chính trị duy nhất, đã thất kiện về vụ kiện bị phỉ báng của mình, và đãbị mất danh tiếng của mình. Đó là một kết thúc đau buồn cho một người đàn ông mà gần suốt cả cuộc đời và sự nghiệp của mình đã từng có một cuộc sống rất huyền hoặc.

 ◊◊◊

General Westmoreland lived a long life. Afflicted by Alz­heimer’s disease for at least his last decade, he died in July 2005 and was buried at West Point at a gravesite he had selected when he was Superintendent there. As a final irony, given Westmoreland’s very strong and vocal opposi­tion to the admission of women to West Point—the cadet honor guard for the burial ceremony was commanded, and very ably, by a female cadet officer.

Tướng Westmoreland đã sống thọ. Bị bệnh Alzheimer ít ra cũng trong suốt  thập kỷ cuối đời, ông mất vào tháng 7 năm 2005 và được chôn cất tại West Point ở mộ phần mà ông đãtự lựa chọn khicòn Chỉ Huy Trưởng đó. Như một sự mỉa mai cuối cùng, bởi vì đã từng lên tiếng chống đối mạnh mẽ việc chấp nhận phái nữvào West Point hàng quân danh dự của sinh viên quân trường cho lễ chôn cất đãđược chỉ huy, và rất là thiện nghệ, bởi một nữ khóa sinh.

 *****

Một phản hồi to “Diễn Văn 30/4/2012 tại Thư Viện Vùng Williamsburg”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Diễn Văn 30/4/2012 tại Thư Viện Vùng Williamsburg […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: