Roger Canfield’s Americong #23

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 23

  Các Ảnh Hưởng Quốc Tế Trên Phong Trào Phản Chiến

 CIA Tìm Cách Kiểm Soát –  FBI Thì Tìm Cách Gây Ảnh Hưởng

Một bản phúc trình của Marvin Watson gởi Tổng thống Johnson vào ngày 16 tháng 5 năm 1967 đã trích dẫn một báo cáo của FBI: “Đảng Cộng sản và các tổ chức khác đang tiếp tục nỗ lực để buộc Hoa Kỳ phải thay đổi chính sách hiện nay đối với Việt Nam.”

Tới tháng 10 thì Tổng thống Johnson đã thúc dục mọi cơ quan phải cung cấp thông tin về những liên hệ  “giữa các thành phần cộng sản hay chính phủ nước ngoài và phong trào hòa bình Mỹ.” Theo Giám đốc CIA Richard Helms, “Tổng thống Johnson đã luôn luôn bám theo vấn đề này. … Chuyện này cứ đã xẩy ra hầu như hàng ngày và hàng tuần. ”

Giám đốc Helms đã yêu cầu  các nhân viên CIA lặng lẻ 1763 thu thập mọi thông tin đang có sẵn. Kết quả là đã có một số phúc trình  ngắn của CIA “bàn luận về  các liên hệ đối với nước ngoài của các tổ chức và các nhà hoạt động tham gia trong phong trào phản chiến Mỹ.”

Các kết luận  của CIA đã là các giao tiếp đều có tính cách “chuyên biệt – “ad hoc” nhưng đã  “không hề có bằng chứng của một sự chỉ huy hay phối hợp chính thức [của nước ngoài]  .” Thật vậy, trong suốt cuộc chiến thì CIA đã sẽ cứ viết báo cáo cho thấy là họ vẫn đang tìm kiếm, nhưng không bao giờ thấy được, các tên nham hiểm đang dựt dây điều khiển mọi việc.

Sự Biến Thái  Có Tính Cách Cộng Sản của CIA, OSS

Truyền thống của CIA thường không coi trọng cộng sản bởi vì từ nguyên thủy, khi OSS bắt đầu được thành lập thì đã phải hợp tác với cộng sản để chống lại Đức Quốc Xã. Hồ Chí Minh và Tướng Võ Nguyên Giáp, có lẽ cũng có thêm một số gái xinh đẹp và rượu whisky, đã hoàn toàn mê hoặc vị sĩ quan chỉ huy của OSS tại Việt Nam khiến y đã cung cấp cho lực lượng  Việt Minh do Cộng sản kiểm soát 5.000 khẩu súng trường. Điều này ngày nay đã được đánh dấu tưởng nhớ bằng một bức hình của Tướng Giáp và Thiếu tá Archimedes Patti trong tháng 9 năm 1945 tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Sài Gòn. 1764

Khi kế thừa OSS, truyền thớng của CIA đã lộ rỏ là ít có nhiệt tình tìm kiếm cộng sản. Thật vậy, “nguồn chính (về ) … các tay  hoạt động Mỹ … [mặc dù] khá hạn chế … đã là những tin tức nhạy cảm thu lượm bởi NSA [Cơ quan An ninh Quốc gia] mà cũng đã được tòa Bạch Ốc giao phó cùng một trách nhiệm.” 1765

Thật vậy, ngày nay thì các vụ chận thu tin của NSA vẫn là nguồn tin tức tốt nhất trong khi khã năng hiểu biết nội bộ của CIA về các mục tiêu nước ngoài vẫn còn thưa thớt, ví dụ như việc CIA đã một cách mơ hồ và chỉ phỏng đoán mà đã thay đổi các Ước Lưọng Tình báo Quốc gia NIE về vũ khí hạt nhân ở Iraq và Iran.

Việc CIA không biết gì hết đã không giúp được các tổng thống và khiến các vị này bị cho là nói láo. Truyền thống rất trí thức của CIA trong việc truy tìm tin tình báo và cả các tên gián điệp, tuy cùng đều đáng tởm và không đáng tin cậy, đã tùy thuộc vào các khã năng và các thành kiến ​​của các nhà phân tích dỏm của cơ quan mà đều hoàn toàn không biết gì ngay cả về các đường phố của Washington chớ chưa nói chi tới các đường phố của Hà Nội, Baghdad hay Tehran.

Trong thời gian chiến tranh lạnh, cơ quan National Security Agency  đã có một danh sách 1.200 người Mỹ cần phải  theo dõi, một con số khiêm nhường trong số 220 triệu người cần chú ý  tới trong các điệp vụ hợp pháp  về tình báo, phản tình báo và phản cách mạng của ngoại quốc thời Chiến tranh Lạnh . Và gần sau đó ngoài những vụ này thì đã có các vụ cho phép cụ thể do bộ luật  Omnibus Crime Control and Safe Streets Act of 1968. Cuối cùng thì cũng đã có các tiền lệ của các Tổng thống cho phép thu thập tình báo quốc nội ngay kể từ thời  Washington và Lincoln.

Không Có Các Con Rối Bù Nhìn

Các phân tích của CIA có đầy thiếu sót vì do xuất phát từ một mong muốn không thực tế để tìm hiểu xem Hayden, Dellinger và những tên khác đã có bị xỏ mủi kéo đi như những con rối hay không.

Thật sự thì ta cũng không cần tìm hiểu vì trái tim và tâm trí của cả hai đều đã thuộc về Bắc Việt. Do truyền thống đa nghi của văn hóa Việt Nam và của luôn chế độ Cộng sản Bắc Việt, trong lúc cuộc chiến lúc thì bộc phát, lúc thì lắng dịu, 1766  bọn phản chiến Mỹ rất nôn nóng và cũng không chờ để được khuyến khích. Thật vậy, chúng thường tự tay mà hành động​​. Bọn Việt cộng và đồng minh Liên Xô dường như nhiều  lần đã phải cố gắng để bắt kịp với bọn bè bạn Mỹ hăng say này. Ngay cả hai năm trước đó thì Quý, tay bạn Nam Việt qua thơ từ của Carl Oglesby đã trả lời cho câu hỏi về đề nghị có một cuộc đình công của sinh viên quốc tế.  Quý đã cho biết, “Nhưng xin hãy nhớ: chúng tôi luôn luôn sẵn sàng và chúng tôi luôn luôn hành động đúng lúc” 1767

Có rất nhiều cơ hội cho bọn Mỹ và Việt gặp nhau để thảo luận về các mục tiêu chung và các hành động trong tương lai. Cũng không cần phải dựt dây các con  rối chút nào cả.

Hội đồng Hòa bình Thế giới  Tài  trợ  cho  Hội nghị  Stockholm về Việt Nam – ngày 6  tới 9 tháng 7  năm 1967

Ngày 6 tới ngày 9 tháng 7 năm 1967, Hội đồng Hòa bìnhThế giới (World Peace Council ~  WPC) do Liên Xô kiểm soát đã bảo trợ Hội nghị Thế giới Stockholm về Việt Nam mà “tham dự viên toàn đầy là sĩ quan KGB”. 1768

Một báo cáo kỳ lạ của CIA đã tò mò cho là cái gọi Hội đồng Hòa bìnhThế giới của Liên Xô bị “lão hóa và mất uy tín”, nhưng bằng cách nào đó đã có thể “ gom nhốt lại được một số lớn các nhóm chủ hòa hợp pháp.”  CIA đã tin là cái gọi là Hội đồng Hòa bìnhThế giới do Liên Xô kiểm soát đã đang hỗ trợ cho một lập trường dung hòa và cho một giải quyết thỏa hiệp tại Việt Nam.

Tuy vậy, báo cáo CIA đã tuyên bố là Liên Xô “không cho phép bọn  Việt Nam mà đã cương quyết làm tê liệt hội nghị  [bằng]  lập trường  một có hai không.”  1769 Tất nhiên, Bắc Việt đã chỉ có thể tiến hành chiến tranh ở miền Nam nhờ số lượng vũ khí dư thừa và sự cho phép của Liên Xô cùng Trung cộng . Vũ khí và sự hỗ trợ của Liên Xô đã là mồi cho mổi và mọi hành động quân sự gây hấn  bên trong Nam Việt.

Chỉ có trong đầu óc giàu tưởng tượng của một phân tích gia CIA, một tay viết chỉ vào hàng C+ thì cở đệ tam quốc gia như Việt Nam mới quả thực đi theo con đường riêng của mình mà không cần các sự nuôi dưởng bảo vệ an toàn của Liên Xô và Trung Quốc.

Các thành kiến của  CIA – mà thật sự rất ư là cực kỳ sai lầm, đã gây tổn hại về tình báo theo nhiều cách khi giảm thiểu ảnh hưởng cộng sản ngoại quốc và do đó đã thật là nguy hiểm. Và bây giờ thì CIA dường như cố ý không nhìn thấy luôn cả sức mạnh về ý thức hệ của Jihadism Hồi giáo cùng với luôn với sự kiểm soát sắt đá của Đảng Cộng sản Trung Quốc trên Quân đội Giải phóng Nhân dân.

Trong thời kỳ Việt Nam, CIA đã cho thấy chính họ cũng có khả năng nhận thấy là  dân Mỹ đã có được “một cơ hội để tăng cường … các mối liên lạc với những nhóm phản chiến trên khắp thế giới”  và “để tiếp tục đối thoại với Bắc Việt”.  1770  Sau đó thìỦy Ban Liên Lạc Quốc Tếcủa  Hội nghị Stockholm đã tuyên bố là “lý do mà tại sao chúng tôi tổ chức Hội nghị đầu tiên trong tháng 7 năm 1967” đã là để “đoàn kết” về vấn đề Việt Nam “mà không xem xét gì đến …  các vấn đề khác.” 1771

Độ 452 người Mỹ đã tham dự hội nghị Stockholm về Việt Nam kể cả Tiến sĩ Benjamin Spock, Herbert Aptheker của CPUSA, James Bevel của Southern Christian Leadership Council ~ SCLC, Amy Swerdlow của Liên đoàn Quốc tế Phụ nữ Đối với Hòa bình và Tư pháp (Women’s International League For Peace and Justice ~  WILPJ) và Simon Casady thuộc Hội nghị Quốc gia về các Chính sách chính trị mới (National Conference of New Politics) . 1772   Ngoài ra còn có bọn SDS là  Arlene Eisen Bergman, Bernardine Dohrn 1773  và Jeff Shero  1774 mà sau đó đã tiếp tục đi tham dự một buổi lễ tại Moscow nhằm kỷ niệm lần thứ 50 cuộc Cách mạng Bolshevik. 1775  Các thành viên của Spring Mobilization  (Huy động Mùa xuân) cũng  đã gặp Ủy ban Hòa bình. 1776

Phối Hợp Các Chương Trình Nghị Sự

Vài tham dự viên tại Hội Nghi Stockholm đã tả lại việc đối thoại với Việt cộng.

James Bevel, cố vấn của King và giám đốc quốc gia của Spring Mobe, đã nhận thấy là các đại biểu Việt Nam hỗ trợ mạnh mẽ cho các hành động khá cụ thể của phong trào hòa bình Mỹ. 1777  Năm 1967, Hội nghị Stockholm đã thông qua một nghị quyết tuyên bố là , “Các tổ chức … đang hoạt động cho hòa bình tại Việt Nam nên đánh dấu ngày 21 tháng 10 … bằng các cuộc biểu tình ở nhiều quốc gia và thị trấn.” 1778

Hội nghị đã cố tìm kiếm sự thống nhất trên toàn thế giới để phối hợp cùng chung trong một ngày duy nhất. Thông qua Hội nghị Stockholm, Liên Xô đã công khai điều hợp các nỗ lực chống chiến tranh Việt Nam trên toàn thế giới với một “Ngày Hòa bình tại Việt Nam” được tổ chức khắp năm châu.  1779  Dĩ nhiên phong trào Mobe Student của Bettina Aptheker đã khai trương cho ngày 21 tháng 10 năm 1967 mà sau đó các phong trào Spring/National Mobe  của Dellinger đã hổ trợ và đã hội thảo với Việt cộng ở Stockholm. Bọn Việt cợng tại miền Nam đã dự trù tổ chức một  “Đêm cho Việt Nam ~ Vietnam Evening” nhằm hỗ trợ các cuộc biểu tình tại Mỹ vào ngày 21 tháng 10 năm 1967. 1780  Việc hỗ trợ của cộng sản quốc tế đã được chứng minh qua các cuộc biểu tình nhằm giúp cho Tuần Việt Nam từ ngày 15 đến 21 năm 1967 tại Moscow, Budapest, Tokyo, Stockholm, Paris và Munich.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 1967, Mục sư Rev James Bevel, giám đốc của Spring  Mobe và cố vấn của Martin Luther King đã tiếp xúc với Đỗ Xuân Oánh, Bí thư Ủy ban Hòa bình và “hồi hộp chờ đợi được trả lời về cuộc thảo luận của chúng ta tại Stockholm” và xin được có một cuộc họp tiếp theo. Đỗ Xuân Oánh đã trả lời là  “vấn đề đã từng được thảo luận, được báo cáo cho giới chức thẫm quyền và đang được xem xét.”  1781

Một lần nữa CIA, với một thành kiến in sâu chỉ chú ý vào việc cộng sản có thực sự hoàn toàn kiểm soát hay không, lại im lặng về sự kiểm soát của Liên Xô tại  Hội nghị Stockholm với bọn Mỹ đang tình nguyện làm việc cho chương trình nghị sự của Việt Nam và Liên Xô.

Liên Xô Chế Ngự Hội Đồng Hòa Bình Thế Giới

Hội đồng Hòa bình thế giới (World Peace Council), cũng như Ủy ban Hòa bình Việt Nam (Vietnam Peace Committee) mà đã mời Dellinger, Hayden và những tên khác đến Hà Nội, đã là tổ chức tiên phong của Liên Xô. Chín mươi phần trăm tài chánh của WPC đã được cung cấp bởi Ủy ban Hòa bình Peace Committee của Liên Xô và Giáo Hội Chính Thống Nga bị Liên Xô kiểm soát. Romesh Chandra, Chủ tịch WPC, sau này đã nói là WPC  đã “tích cực phản đối  tất cả các sáng kiến ​​của Liên Xô về những vấn đề quốc tế.” 1782 Thật vậy, WPC đã ủng hộ các “sáng kiến”  của Liên Xô như các cuộc xâm lược Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968) và Afghanistan (1979).

Stanislav Levchenko, một điệp viên KGB đào tẩu , sau này đã viết: “Tôi đã làm việc cho Ủy ban Hòa bình của Liên Xô trong Chiến tranh Việt Nam. Công việc của tôi … đã là chuẩn bị các cuộc biểu tình để phản đối và soạn thảo các mệnh lệnh gởi cho các mặt trận của Liên Xô ở các nước khác.”  1783 Tương tự như vậy, tay ngoại giao hàng đầu của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc ở New York, kẻ đào tẩu Arkady Shevchenko đã viết:

Để hỗ trợ cho Hội đồng Hòa bình Thế giới do Liên Xô kiểm soát , … tôi đã được giao phó cho việc giúp tổ chứccác bài diển văn … sắp xếp các cuộc họp, … phân phối tài liệu tuyên truyềncủa Hội đồng và thuyết phục … các đại diện phải tham dự các hội nghị do Hội đồng bảo trợ . Moscow muốn nâng cao uy tín của Hội đồng bằng cách tạo ra một hình ảnh sang chói  … về vai trò của Hội đồng trong phong trào thế giới vì hòa bình.  1784

Sergei O. Tretyakov, “Đồng chí J”, người từng tiến hành các hoạt động gián điệp của Liên Xô ở Mỹ trước khi đào tẩu, đã báo cáo là Ủy ban Hòa bình của Liên Xô sau đó trực tiếp tài trợ và thành lập các tổ chức hòa bình, chống hạt nhân, giải trừ quân bị và về môi trường ở châu Âu cùng với việc dàn cảnh toàn bộ trò chơi khăm “Hạt nhân Mùa đông ~ Nuclear Winter “. Bên trong Hoa Kỳ thì sứ mệnh của y đã là “gây chia rẽ và tạo bất ổn bên trong nước Mỹ và thúc đẩy ý muốn bài Mỹ ở nước ngoài.” 1785

Vào cuối tháng 7 năm 1969, Tom Charles Huston, người từng nổi tiếng là quá lo xa, đã viết cho Tổng thống Nixon là mặc dù tình báo quân sự Liên Xô, GRU, đã thu thập “tin tức về các nhóm quân nổi dậy và bất đồng chính kiến ​​trên toàn thế giới,” GRU và KGB đã “không có tham gia các tổ chức phản cách mạng của Mỹ” ở bên trong nước Mỹ. Hơn nữa,” Không có bằng chứng gì là Liên Xô đã đóng góp tiền bạc cho bất kỳ tổ chức tả phái hay Quyền người Da Đen ~ Black Power” nào cả.” 1786

Bọn Liên Xô đã có rất nhiều mặt trận mà qua đó tiền bạc có thể luân lưu không để lại dấu vết; CPUSA, Cuba, Hội đồng các Giáo hội, Hội nghị Stockholm, Bắc Việt và các loại mặt trận tiền phong quốc tế, các đảng Cộng sản khối Xô viết. Chắc chắn là bằng chứng về các hoạt động hải ngoại đã tỏ ra rõ ràng hơn nhiều là như Huston và chúng ta đã thấy trong các hội nghị quốc tế và các chuyến ‘tour’  du lịch.

Liên Xô và các quốc gia Khối Đông Âu, thông qua các “đại diện quảng cáo” ở Bulgaria, Đông Đức, Ba Lan, Hungary và Romania đã trực tiếp tài trợ cho các  nhà văn Pháp, Đức và đệ tam thế giới để xuất bản các ấn phẫm của họ như tờ L’Humanité của Đảng Cộng sản Pháp, (cũng như các tờ Economie et Politique,Les Cahiers du CommunismeFrance Nouvelle), tờ Konkret ở Tây Đức của Klaus Ranier Rohl , các bản tin nội bộ Syntheses ở Pháp của Pierre-Charles Pathé  1787 và tạp chí  AfricaAsia  của Simon Malley.  1788

Trong suốt mùa hè năm 1967, đã có một loạt hoạt động trên mặt trận quốc tế, mà đa số là với sự tham gia của bọn Mỹ “phục vụ cho hòa bình” và tiếp tay cho kẻ thù của quốc gia mình trong thời chiến.

Trong tháng 7 năm 1967, Bắc Việt đã tham khảo về hòa bình trong các cuộc thảo luận riêng giữa Phạm Văn Đồng và hai người Pháp, Herbert Marcovich và Raymond Aubrac. Đồng muốn việc ngừng ném bom vô điều kiện. Trong khi Đồng thảo luận về điều kiện tiến tới hòa bình thì  miền Bắc vẩn đang cho xâm nhập 20.000 bộ đội mổi tháng xuống miền Nam để tăng cường cho Việt Cộng mà  đang bị thương vong nặng nề.

Hình: Hàng ngàn bộ đội Bắc Việt băng xuyên Lào, 1967 JUSPAO, Nam Việt

Phạm Văn Đồng cũng nói với người Pháp là y hình dung ra được một chính phủ liên minh ở miền Nam Việt Nam. Đồng nói y nghĩ rằng Việt Cộng sẽ cho phép sự tham dự của chính phủ “bù nhìn” của miền Nam Việt . 1789

Trong khi đó, một tài liệu bí mật của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia vẫn nhắc nhở cán bộ Mặt Trận là “nhánh thứ hai” và “được Ủy ban Trung Ương Đảng [Bắc Việt] dẩn dắt sát xao, hay chính xác hơn, là đang do lãnh tụ đảng ngoài Bắc là Lê Duẩn dẫn dắt. Con rối Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia vừa lên tiếng xong thì Đại sứ quán Mỹ đã cho phổ biến tài liệu này 1790  như là bằng chứng của việc kiểm soát bọn quân giải phóng từ phía bắc .

Ấy vậy mà bọn phản chiến Mỹ và bọn báo chí vẫn cứ tiếp tục đưa tin tưởng tượng ra là quân giải phóng độc lập với Hà Nội.

Bọn Việt cộng và bọn Mỹ cộng

Trong tháng 7 năm 1967, Đảng Lao Động của Bắc Việt đã công bố sẽ thưởng 2.000.000 đồng cho bất cứ “người yêu nước”  nào mà ám sát được tên giả mạo Nguyễn Văn Bé ở miền Nam. Bất kỳ người nào thuộc gia đình hoặc hàng xóm mà tuyên bố là tên Bé tử đạo hãy còn sống thì cũng sẽ bị giết. 1791

Bọn Mỹ cộng cũng rất sinh động vào mùa hè năm đó. Từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 7 năm 1967, Newark thuộc New Jersey đã rung chuyển vì các cuộc bạo loạn chủng tộc mà do đó, Tom Hayden và 12 đồng chí SDS khác  1792 đã bị buộc tội kích động  1793  thông qua kiểu tổ chức cấp tiến về cộng đồng của chúng . Thật vậy, Hayden đã so sánh các cuộc bạo loạn ởNewark với các chiến dịch Việt Cộng. Bên ngoài trụ sở cảnh sát Newark mà vẫn rất cứng rắn, có treo hai bảng hiệu, “DỘI BOM HÀ NỘI” và “HÃY ĐI ĐẠI HỌC ĐỂ BIẾT LÀM SAO BIỂU TÌNH”. 1794

Bên cạnh Tom Hayden thì theo thời gian đã sẽ có các cán bộ Newark Community Union Project ~ NCUP ở Newark như là: Jesse Allen, Connie Brown, Fred Douglas, Corina Fales, Norman Fruchter,  1795 Carol Glassman, Marv Halloway, Phil Hutchings, Eric Mann, Terry Jefferson, Robert Kramer, Vivian Rothstein, CarlWittman, Junius Williams, Derek Winan, Willie Wright và Mike Zweig.

Nhiều cán bộ NCUP là đồng chí của Hayden và sẽ tham gia cùng Hayden trong các cuộc họp với cộng sản Việt Nam tại Bratislava và Hà Nội.

Bọn Việt Cộng thì đã hoạt động trên khắp thế giới. Ngày 6 tháng 8 năm 1967, những Tập Hợp cho Hòa Bình (Peace Rallies) đã được tổ chức tại Montreal, Atlanta và Los Angeles để lên án Mỹ về việc thả bom ở Hiroshima và Việt Nam. Tại Montreal vào năm 1967 đã có một cuộc họp của sinh viên Bắc Mỹ và sinh viên thuộc Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia . Từ ngày 28 đến ngày 5 tháng 8 năm 1967, tại Havana, Castro đã tổ chức Hội nghị Công đoàn Đoàn kết Châu Mỹ La-tinh lần  thứ hai của y mà bọn tả phái Mỹ thuộc SDS, SNCC và những tên khác đã tham dự. Trước sự kiện bọn Mỹ và bọn Việt cứ gặp nhau hội họp ở khắp mọi nơi trên thế giới vào giữa ban ngày ban mặt thì CIA mới bắt đầu cố gắng để có được một kế hoặch quy củ.

Chương Tình Phản Tình báo CHAOS  của  CIA

Tại cơ quan CIA vào ngày 15 tháng 8 năm 1967, Thomas Karamessines đã viết một bản phúc trình cho James Angleton, Giám đốc Phản gián với tựa đề là “Điều tra ở ngoại quốc về Sinh Viên Mưu Toan Lật Đổ Chính Phủ cùng các Vấn đề Liên Hệ”  và do đó, CHAOS đã ra đời , 1796 và đó làmột chương trình phản gián quốc nội.

Richard Ober, kẻ được giao trách nhiệm điều động điệp vụ tình báo này thì đã đang điều tra về việc khã dỉ đã có hay không các quan hệ tình báo với nước ngoài của tờ Ramparts Magazinemà đã từng công bố phơi bày các hoạt động  và các mối liên hệ của CIA với các tổ chức tư nhân. Chương trình CHAOS  của Ober đã có được hàng trăm phiếu lý lịch và giữ bí mật năm mươi hồ sơ – trong khi Sở Tham Khảo Trung Ương (Central Reference Service) của CIA mà đáng lý đã phải hoàn tất vai trò của mình thì lại chỉ có hai hồ sơ về hai công dân Mỹ – mà cả hai đều là “những nhân vật… … có  tầm quan trọng lớn đến đời sống chính trị của một quốc gia ngoại quốc …”  1797

Các nguồn của CIA là do từ cả nhân viên FBI  và luôn cả các nhân viên CIA được tuyển dụng vì đang làm việc ở nước ngoài mà lại có thành tích “cực đoan” hay thuộc các phong trào mà có liên lạc với Liên Xô, Cuba, Trung cộng và Bắc Việt. 1798 Ngày 31 tháng 8 năm 1967, một công điện được gởi đi đến các nhiệm sở để mô tả các mục tiêu của chương trình CHAOS như là “theo dõi các sinh viên cấp tiến và những người Mỹ da đen sinh sống ở ngoại quốc ” để “tìm hiểu mức độ mà bọn Liên Xô, bọn Tàu cộng và bọn Cuba đang khai thác các vấn đề trong nước của chúng ta trên phương diện gián điệp và nổi loạn. Dĩ nhiên là độ nhạy cảm rất là cao. ”  1799

Các Nhân Viên CIA Phản đối Việc Theo dõi bọn Cấp Tiến ở Ngoại Quốc – “đã không hề tìm thấy được một tên sát nhân, một điệp viên hay một người thuộc đảng Cộng Hòa trong CIA”

Các viên chức văn phòng tại CIA và cũng có thể là những tên cổ xúy cho tính cách tuyệt đối của các quyền công dân đã cảm thấy lãnh địa của họ bị xâm phạm trong khi họ vẫn không lo ngại về ảnh hưởng của ngoại quốc, nên đã rất bực bội. William V. Broe, CIA Tổng Thanh tra, sau đó có báo cáo về “một mức tức giận cao vì tự nghỉ bị xúc phạm  … của nhiều nhân viên Cơ quan khi bị yêu cầu tham gia (CHAOS)”. 1800 CIA điều khiển Sở Thông tin Phát thanh ra Nước ngoài (Foreign Broadcast Information Service ~ FBIS)  để theo dõi các chương trình phát thanh nước ngoài, ví dụ như Đài phát thanh Hà Nội mà đã truyền thanh lại các lời tuyên bố công khai của người Mỹ về chiến tranh.” FBIS đã không đồng ý về vấn đề này … chúng ta không nên bị coi như là cảnh sát để đi theo dõi các du khách Mỹ”.  1801  Kết quả thu thập kiểm tra của FBIS trong giai đoạn đầu và sau đó trong thời chiến tranh đã là rất thưa thớt.

Sau đó, một nhóm nhân viên CIA  tên gọi là Nhóm Cố Vấn về Quản trị (Management Advisory Group ~ MAG) đã cố phóng đại  quá lố các hoạt động của CIA nhằm chống lại các công dân Mỹ ngay bên trong Hoa Kỳ. Đã có đầy tin đồn điên cuồng về việc CIA và cảnh sát địa phương tiến hành các hoạt động gián điệp chống lại hàng ngàn người Mỹ.

Trong thực tế thì CIA đã đang huấn luyện và trang bị cùng giúp đỡ cảnh sát địa phương và Sở Mật Vụ (Secret Service) để bảo vệ các ứng cử viên tổng thống và những người khác hầu tránh bị ám sát. Đó là một điều cần thiết tối quan trọng nhưng không hiệu quả chiếu theo các vụ thành công ám sát JFK và Robert Kennedy  và vụ George Wallace bị bắn. Cũng như mọi người, CIA đã lo ngại một cách hợp lý trong việc phải bảo vệ các ứng cử viên và những tham dự viên của các đại hội chỉ định ứng cử viên của đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa sắp tới vào năm 1968.

Các báo cáo về những hành vi lạm dụng của CIA đã bị phóng đại. Các cáo buộc về việc đặt máy nghe lén các cuộc điện đàm ở khắp mọi nơi thì rốt cuộc chỉ là  kỷ thuật phiếu điện thoại định tuyến cho những lần gọi ra ngoại quốc hay qua trung gian một người Mỹ đã có từ mấy tháng nay vào cuối năm 1972 và đầu năm 1973. Việc kiểm đọc thư từ công dân đã bị hạn chế dành cho thư từ gởi đi và  đến từ các nước thuộc khối Xô và Trung cộng trong thời Chiến tranh Lạnh. 1802 Các cáo buộc là có tuyển dụng nhân viên CIA trong số các công dân của Hoa Kỳ là đúng và cần thiết. Tuy nhiên, các hoạt động không đáng kể của CIA chỉ là thu thập thông tin chính yếu là hướng về người ở ngoại quốc 1803  chứ không phải là trong nước.

Quan điểm rất trong sáng của CIA về sứ mệnh và hành động của mình đã được khéo léo mô tả như là để “không bao giờ tìm thấy một tên sát nhân, một điệp viên hay một người theo đảng Cộng hòa nào tại CIA.” 1804  Truyền thống thông lệ củ của họ thì khó mà có thể bị buộc tội, ngay cả thậm chí là có suy nghĩ xấu về địch. CIA lại còn xấu hổ khi bị phát giác ra là đã thảo luận về những vụ ám sát mà đã không bao giờ được thực hiện. Nói cách khác, theo chính cá tính thì CIA đã hoàn toàn bị trong tư thế không sẳn sàng đề đáp ứng với quan điểm của thế giới trong cuộc đấu tranh chính trị-quân sự đang xẩy ra trên quy mô toàn thế giới tại Việt Nam. Địch thì đã ám sát hàng ngàn người mỗi năm nhưng CIA thì không bao giờ làm vậy.

CIA đã gặp khó khăn khi ráng thuyết phục nhân viên của mình là trách nhiệm ở  ngoại quốc của CIA cũng bao gồm những hành vi chính đáng trong quốc nội. “Những trách nhiệm phản tình báo và phản gián ở ngoại quốc của chúng ta … bắt buộc chúng ta đôi khi phải quan tâm đến các công dân Mỹ ở ngoại quốc . … Các điệp viên ở nước ngoài nhằm chống lại Liên Xô và những kẻ khác đôi khi dẫn chúng ta đến những người Mỹ đang âm mưu liên hệ với các mục tiêu Cộng sản của chúng ta.” 1805  Ví dụ, việc ngăn chận để theo dõi lưu lượng vô tuyến điện thoại nước ngoài” đã cho thấy một số lượng lớn những cuộc điện đàm không liên quan gì nhau mà lại dính líu tới các công dân Mỹ. ” 1806

Tới tháng 8 năm 1967 thì LBJ đã nói, “Chúng ta đã không hề có những bài hát, những cuộc diễn hành, những phong trào bán công khố phiếu và chúng ta  không thể chiến thắng được bằng một cách khác hơn.”  1807 Thật là bất hạnh mà vị Tổng thống đã không đề cập đến sự vắng mặt của một bộ máy tình báo rất hiệu quả của ngoại quốc. Không có vẻ gì là cái bọn lý thuyết gia trẻ con thần đồng về trò chơi ‘game’ hay bọn trai “ái hữu huynh đệ”  đã có nêu sự kiện này lên.

Vấn đề sẽ đã lộ ra một cách rõ ràng nhất sau ngày 11 tháng 9 năm 2001 khi các thất bại về tình báo đã trở thành mục tiêu chính của Ủy ban 9//11 trong các phiên phúc trình và báo cáo. Thật không may là những cải cách được lựa chọn chỉ đơn thuần làm tăng thêm các tầng lớp quan liêu bổ sung ngay lên trên những cơ quan chức năng không hiệu quả hiện có ở phía dưới. Tiêu chuẩn đúng đắn  về chính trị đã hạn chế các hoạt động tình báo trong các cộng đồng Hồi Giáo Mỹ, nơi mà một số khủng bố đã được giáo dục, nuôi dưỡng và tài trợ.

Tổng thống Johnson có thể đã không muốn có chúng, nhưng Hà Nội thì đã ca ngợi ăn mừng bọn cộng tác viên Mỹ của chúng.

*****

1763  CIA, FOIA, phúc trình Family Jewels, trang 184.

1764  Ghi chú và hình của Tưóng Giáp và Thiếu tá OSS  Archimedes Patti đứng chào cờ tháng 9 năm 1945 được chụp lại tại Viện Bảo tàng Di tích ở Sài-gòn, bộ Viet II DSC_ 317, trang 318 của tác giả.

1765   CIA, FOIA, Giám đốc Tình báo Đưong nhiệm gởi cho Giám đốc Tình báo, “Activity Related to Domestic Events,” 7 tháng 5 năm 1973, trong “Family Jewels”, trang 193-4. 

1766   Doug Pike đã gọi cách đối xử của Việt cộng đối với các người Mỹ ngay thơ “rất là đáng nghi”. Phỏng vấn của Pike độ chừng vào năm 1988.

1767   SDS Bulletin, độ tháng 7 năm 1965 mà tác giả đang có.

1768   Arkady N. Shevchenko, Breaking with Moscow, trang 225.

1769   CIA, hồ sơ số EO-2000-00054,“International Connections of Peace Groups,” 15 tháng 11 năm 1967, trang 25-26.

1770   CIA, hồ sơ số EO-2000-00054,“International Connections of Peace Groups,” 15  tháng 11 năm 1967, trang 25-26.

1771   International Liaison Committee, Stockholm Conference on Vietnam, Thư Chỉ dẫn số 2,  26 tháng 4 năm 1969.

1772   Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 42, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

 1773   Sale, SDS, trang 357

1774   Jeff Shero, “Shero—Our Man in Moscow, from Russia with Love,” New Left Notes, 21 tháng 8 năm 1967, trang 1.

 1775  New Left Notes, 10 tháng 7 năm 1967, trang 8; Sale, SDS, trang 348-9.

1776  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 40, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1777   Student Mobilizer, 3 tháng 9 năm 1967, trang 3 nêu trong sách của John Schmidt, The Viet Cong Front in the United States, Western Islands, 1971, trang 40, nguyên thủy trong số 21 tháng 4 năm 1971 của Congressional Record.

1778   Schmitz, The Viet Cong Front, trang 41.

1779   Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 42, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1780   Điện tín CIA, FOIA, Cộng sản đã tổ chức “Vietnam Evening” vào ngày 21 tháng 10 năm 1967, 13 tháng10 năm 1967, Tham chiếu: 1999-3060. 5

1781  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 40, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

 1782  The New York Times, Moscow, tháng 76 năm 1965.

1783   Levchenko, trang 38.

1784   Shevchenko, trang 300.

1785   Pete Early, Comrade J: The Untold Story of Russia’s Master Spy in America After the End of the Cold War, New York: G.P. Putnam’s Sons, 2007, trang 169-177, 194-5.

1786  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI- Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7 năm 1969, trang 16, 28; giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1787 oviet Active Measures, Tường trình trước Ủy ban Hạ viện Permanent Select Committee on Intelligence, 13-14 tháng 7 năm 1982.

1788   John Rees, Information Digest, February 8, 1985, trang 37-9; “Crackdown on ‘Disinformation,” Time, 6 tháng 10 năm 1980; James H. Hansen, Radical Road Maps, a WND Book, Nashville: Cumberland House Publishing, 2006, trang 46.

1789  Karnow, trang 97.

1790  Vào ngày 18 tháng 8 năm 1967.  Xem Donnell và Gurtov trong sách của  Scalapino (ed.), Communists… (1969), trang 181, ghi chú 37.

1791  SGM Herbert A. Friedman (Về Hưu),”The Strange Case of the Vietnamese ‘Late Hero’ Nguyen Van Be, at http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

1792   Jesse Allen, Connie Brown, Fred Douglas, Corina Fales, Norman Fruchter, Carol Glassman, Marv Halloway, Phil Hutchings, Eric Mann, Terry Jefferson, Robert Kramer, Vivian Rothstein, Carl Wittman, Junius Williams, Derek Winan, Willie Wright và Mike Zweig.

1793   Hạ viện, Ủy ban Committee on Un-American Activities, Subversive Influences in Riots, Looting, and Burning,  Washington, D.C.: GPO, 1968. Phần 4: Subversive Influences in Riots, Looting, and Burning (Newark, New Jersey),  23 và  24 tháng 4 năm 1968, Nhiệm kỳ 90,  khóa 2,  hồ sơ số Y4.Un1/2:R47/pt.4.

 1794   Tom Hayden, “A Special Supplement: The Occupation of Newark,” BỘ  9, SỐ  3,  24 THÁNG  8  NĂM  1967.

 1795   Một chủ bút của Studies on the Left.

1796   Người tiền nhiệm ngay trước đó.

1797   Phúc trình cho O/ODDI của H.C. Eisenbeiss, Giám đốc, Central Reference Service, “Involvement In Domestic Affairs [redacted],” 7 tháng 5 năm 1973, CIA, FOIA, Family Jewels, trang 197-8.

 1798   Phúc trình CIA, FOIA, “The [MH]CHAOS Program,’ 8 tháng 5 năm 1973, Family Jewels, trang 591. 

1799  Phúc trình của Thomas Karamessines gởi cho James Angleton, 15 tháng 8 năm 1967; Khai trình của Richard Ober; Công điện của Tổng Hành Dinh CIA trong tháng 8 năm 1967 mà mọi chi tiết đều đã được nêu ra trong phúc trình của Ủy ban Rockefeller Commission, trang 690-691.

1800   Phúc trình CIA, FOIA của William V. Broe, Tổng Thanh Tra Inspector General CIA , độ vào 9 tháng 11 năm 1972, Family Jewels, trang 325.

1801   CIA, FOIA, Family Jewels, trang 202.

1802   Dự án SRPOINTER/HTLINGUAL tại phi trường JFK.  Jane Fonda đã là một trong những kẻ bị chận nghe. William V. Broe, Tổng Thanh Tra Inspector General, gởi phúc trình cho Giám đốc Central Intelligence, xuyên qua William E. Colby, 22 tháng 5 năm 1973, CIA, FOIA, Family Jewels, trang 644; CIA, FOIA, Family Jewels, trang 331, 447.

 1803   CIA, FOIA, Family Jewels giải thích về các hoạt động hợp pháp của CIA, trang 181, 184, 188, 190.-

1804   Được dùng một cách rộng rải, mà gần đây là bởi tiểu thuyết gia Charles McCarry tại http://www.themorningnews.org/archives/personalities/birnbaum_v_charles_mccarry.php.  David Atlee Phillips cũng vậy và nhà xuất bản Military là Armond Noble.

1805   CIA, FOIA, Thomas H. Karamessines gởi cho Giám đốc Điều hành Executive Director, “Meeting With MAG Group,” 21 tháng chạp năm 1971, Family Jewels, trang 437-438 

1806   CIA, FOIA, Family Jewels, trang 331, 427.

1807   Larry Berman, Johnson’s War, trang 59.

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #23”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #23 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: