Hồi Tưởng Về Cuộc Chiến Việt Nam

Hãnh Diện và Đau Buồn

Hồi Tưởng Về Cuộc Chiến Việt Nam

(Diễn văn tại Army and Navy Club

Washington, DC

28 Tháng 10 Năm 2014

Lewis Sorley)

 

Lewis Sorley đã là thế hệ thứ ba của một dòng họ chuyên tốt nghiệp viện Cao Đẳng Quân Sự Hoa Kỳ (United States military Academy), cũng từng đã tốt nghiệp Tiến sĩ tại Đại học Johns Hopkins. Trong suốt hai thập niên trong quân ngũ, ông đã từng chỉ huy những đơn vị tăng và thiết kỵ ở cả Hoa Kỳ, Đức và Việt Nam, đã từng phục vụ trong ban tham mưu của Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng và Văn phòng của Tham Mưu Trưỏng Liên Quân, và cũng đã từng giảng dạy tại West Point với trường Cao đẳng Quân sự (Army war College).

Ông là một trong những người đã miệt mài đứng ra để MINH ĐỊNH lại cuộc chiến Việt-Nam (cho người Mỹ) và đánh giá ĐÚNG ĐẮN Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (cho người Việt Quốc gia và luôn cho VC để GIÚP cho mọi người có được một CÁI NHÌN ĐÚNG ĐẮN & CHÂN THẬT đối với Sử Việt).

Bài giới thiệu chi tiết của người chuyển ngữ về Ông đã từng được đăng tại

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/tieu-su-biography-ts-lewis-sorley/

Tác phẫm  A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam  xuất bản năm 1999 và từng được đề cử giải Pulitzer Prize, đã là trái bom nổ để “trả lại cho Caesar cái gì cũng của Caesar”!

Tôi đã từng ghi nhận về công trình đáng kính của ông tại

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/

và bằng bài Điểm sách trên Amazon.com

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/review-of-a-better-war-diem-sach/

Những người đậm nét nhất khác thì đã từng là Douglas Pike, Giám đốc Vietnam  Archives tại đại học University of California, Berkeley (đã quá cô ngày 27 tháng 3 năm 2015), Robert Turner, giáo sư cũng như là người sáng lập kiêm Giám đốc Phụ tá của Center for National Security Law, UVA Law School ~ Đại Học Virginia Phân Khoa Luật hay TS Roger Canfield, với tác phẫm Mỹ cộng RẤT hữu ích cho việc tìm hiểu về Cuộc Chiến Việt Nam đau thương mà chúng tôi đã chuyển ngữ toàn bộ gần 2.000 trang tại trang nhà.

Sau đây là Bài diển văn của Lewis Sorley nhân buổi lể kết thúc loạt loạt thuyết trình do Army and Navy Club tổ chức, mà tới nay đã kéo dài hơn cả ba năm trời, vào cuối tháng 10 năm 2014.

***

Hãnh Diện và Đau Buồn

Hồi Tưởng Về Cuộc Chiến Việt Nam

(Diễn văn tại Army and Navy Club

Washington, DC

28 Tháng 10 Năm 2014

Lewis Sorley)

*****

Pride and Sorrow: Reflections on the Vietnam War

The Army and Navy Club

Washington, DC

28 October 2014

Lewis Sorley

sorley đọc bài Đau buồn

Tôi xin bắt đầu bằng việc bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với đặc quyền được nói cuối và kết luận trong loạt thuyết trình do Army and Navy Club tổ chức, mà tới nay đã kéo dài hơn cả ba năm trời, để nhằm tưởng nhớ sự đóng góp và hy sinh của những người từng đã phục vụ trong cuộc Chiến Việt Nam – và cũng của luôn gia đình họ.

Tôi xin phép được bắt đầu bằng việc nhắc lại về một thời khác, từng cách đây tới cả nhiều thập niên, cái lần tôi có cơ hội được nói về đề tài Việt Nam. Việc này đã xẩy ra tại Học viện Quân sự Culver, một trường nhỏ ở Indiana, nhân vào Ngày Cựu Chiến Binh. Các sinh viên sĩ quan trẻ tuổi đã được triệu tập ra ngoài trời tại nơi mà buổi tưởng niệm vẫn được tổ chức hàng năm trong nhiều năm qua. Hôm đó, trời khá lạnh vào cái ngày đặc biệt này, và tôi cũng đã tự nhủ nên rút ngắn bài nói hầu tránh cho các bạn trẻ khỏi phải gánh chịu quá lâu cái thời tiết khắc nghiệt này. Tuy nhiên trong buổi lể này, tôi vẫn đã thuyết trình toàn bộ đề tài, có lẽ kéo dài độ hai mươi phút , chính bởi vì tôi đã cảm thấy được là các người trẻ đó thật sự đang lắng nghe và ghi nhận lại tất cả những gì tôi đã nói với họ.

Tôi đã có đặt tựa bài nói là “Also Great ~ Cũng Xứng Đáng” và đã bắt đầu bằng nhận xét vì sao, trong những năm gần đây, sự chú ý đã được tập trung vào các cựu chiến binh Thế chiến II, mà Tom Brokaw đã từng vinh danh là “thế hệ vĩ đại nhất”. Và rồi, tôi đã lưu ý, Mỹ quốc cũng đã từng gởi gần ba triệu nam nữ quân nhân đến tham dự một cuộc chiến tranh ở tại Việt Nam.

Tôi đã gợi ý là tại đó, họ đã từng phục vụ với sự dũng cảm và khả năng hoàn toàn y như các đồng binh trong thời Thế chiến thứ II, nhưng – chỉ vì hoàn cảnh lúc đó mọi tranh luận về ý thức hệ đều cứ xoáy quanh cuộc chiến và, dĩ nhiên, quanh luôn cả những người đã tham chiến – khiến cho những hy sinh và thành tích của họ đã chưa hề bao giờ được đánh giá đúng đáng, đó là chưa nói tới có được ghi nhận hay được hoan nghênh hay không. Ấy vậy, tôi đã tuyên bố, họ cũng đã rất ư là xứng đáng.

Sau đó, tôi đã trình bày lý do vì sao họ đã phải rất xứng đáng để được vinh danh, kể luôn sự kiện thực tế là số hai phần ba hay có thể còn nhiều hơn nữa của họ thì đều là quân nhân tình nguyện, rỏ ràng ngược lại với thời Thế chiến II, mà độ hai phần ba quân nhân chỉ là phải đi thi hành nghĩa vụ quân dịch mà thôi.

Sau đó, tôi đã về lại phòng tiếp khách nơi tôi đang ở, thì chuông cửa sau reo vang. Tôi hỏi ai đó. Đó chính là nhân viên bảo trì cần vô để sửa vài mục lặt vặt. Tôi mở cữa cho ông ta và ông ta bắt đầu bước xuống tầng hầm dưới, nhưng rồi lại quay trở lại. “Này”, ông ta hỏi, “có phải ông là người thuyết trình viên sáng nay không?” Tôi nói đúng. Ông ta bèn tiếp, “Tôi cũng đã ở đó. Tôi nguyên là một cựu chiến binh thời Việt Nam, và đây quả là lần đầu tiên mà tôi được nghe ai nói lên dùm cho chúng tôi. Tôi xin cảm ơn ông về việc này”. Và sau đó thì ông ta đã bước lên lại cấp thang và bắt tay tôi. Tôi không cần phải nói với bạn đâu là chỉ chút thời điểm đó cũng đã làm cho toàn chuyến hành trình của tôi thật là quá ư đáng giá với tôi.

◊◊◊

Trong loạt thuyết trình này, trước đây thì chúng ta cũng đã từng nghiên cứu nhiều khía cạnh của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Nam Á trong một tầm nhìn tổng quát, để đồng ý chấp nhận một Advisory Period ~ Thời Kỳ Cố Vấn (như là từ năm 1955 hay khoảng đó cho đến năm 1965), sau đó đã là thời kỳ Period of the American Buildup ~ Thời Kỳ Mỹ Bành Trướng (1965-1969), kế tiếp bởi thời kỳ Period of the American Withdrawal ~ Thời Kỳ Mỹ Rút Quân (1969-1973), và cuối cùng là thời kỳ Abandoning the South Vietnamese ~ Mỹ Bỏ Rơi Nam Việt  (1973-1975).

Tôi vẫn luôn luôn không bao giờ muốn bỏ lỡ một cơ hội nào cả để nhắc lại danh nhân Carl von Clausewitz, đặc biệt là với một cử tọa như quý bạn ở đây. Tôi bèn nhớ lại nhận xét này của ông ta: “Đã từng có chăng một lãnh vực liên quan đến giao tế nhân sự mà các mối quan hệ cá nhân lại hoàn toàn không có được một chút ảnh hưởng nào cả, khi mà vài ‘tia’ ý hữu lý cảm thông nhau đã không hề có được chút ảnh hưởng nào trong những lần cần phải cân nhắc vấn đề một cách thực tiển”? Rồi thì, ông ta cũng tự trả lời: “Cá tính của các chính khách và ngay cả của những quân nhân vẫn từng là những yếu tố quan trọng trong mọi cuộc chiến tranh để chúng ta không thể nào có thể đánh giá yếu tố đó quá thấp được”.

Ngay tại Việt Nam, kết luận của Clausewitz quả đã được xác nhận một cách thật là rỏ ràng. Vận mệnh của các lực lượng đồng minh trong toàn cuộc chiến ấy, đã biến chuyển khả quan lên hay sa sút bi đát xuống rất ư là sát sao với nhiệm kỳ của từng vị chỉ huy Mỹ của thời đó, một yếu tố gần như hoàn toàn độc lập với các yếu tố khác.

Harkins, Westmoreland, Abrams, Weyand – mỗi vị thì cũng đã từng minh thị chứng tỏ bản chất của cá tính, sự quán triệt và khả năng của họ, và trong mọi trường hợp, kết quả của cuộc chiến đã xẩy ra đúng theo hậu quả phải tới do quan điểm của họ mà thôi.

Tướng Paul Harkins nguyên từng là Chỉ Huy Trưởng của quân đội Mỹ trong những năm 1962-1964. Trong thời nhiệm kỳ của ông, lực lượng Hoa Kỳ chủ yếu chỉ làm cố vấn cho Nam Việt, nhưng cũng bao gồm luôn về lãnh vực truyền tin, tình báo, tiếp liệu và yểm trợ về không quân. Nhiệm kỳ của Tướng Harkins rất đặc trưng về một thái độ lạc quan không suy xuyển trong việc tiến trình của chiến cuộc rồi đã sẽ phải ra sao. Chẳng hạn, trong tháng 10 năm 1963, ông đã tuyên bố: “Chiến thắng … chỉ còn vài tháng nữa rồi thì cũng sẻ tới thôi, và việc hạ giảm số cố vấn Mỹ thì cũng có thể bắt đầu bất cứ lúc nào, ngay cả vào bây giờ …. Tôi có thể xác nhận một cách chắc chắn là cuộc chiến sắp chấm dứt”. Nhưng rối nó đã không xảy ra như theo lời đoan chắc đó.

Sau đó, thì lại đến phiên Tướng William C. Westmoreland, người từng chỉ huy U.S. Military Assistance Command, Vietnam ~ Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân sự, Việt Nam, trong suốt bốn năm từ 1964 đến 1968. Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thì cũng đã từng có nhận xét rằng, nếu bạn gửi đi một yêu cầu cho cơ quan Central Casting để ‘order ~ mua’ một vị tướng thì họ cũng sẽ chỉ cung cấp cho bạn một ‘Westmoreland’ mà thôi. Có lẽ chúng ta đã không bao giờ từng có được một vị tướng nào mà lại đã từng là ‘ăn ảnh ~ photogenic’ hơn, hay một người cực kỳ siêng năng hơn được. Nhưng vấn đề đã là cái quan điểm của ông ta về cuộc chiến cùng cách thức để thực hiện nó. Tiềm tàng phía trong thì chỉ là những yếu kém về hiểu biết, cùng đặc tính kém trung thực.

Năm 1966, Tướng Westmoreland đã tuyên bố là ông sẽ chấm dứt được cuộc chiến vào mùa hè năm 1967. Nhưng đã không hề đúng được như vậy. Sau đó thì ông lại đã chối là mình từng đã tiên đoán như vậy. Nhưng điều này cũng là sai luôn.

Nhiệm kỳ của Tướng Westmoreland thì vẫn từng được đánh dấu bởi các yêu cầu liên tục của ông ta để có được thêm nhiều hơn và nhiều hơn nữa binh lính cho ông ta, mà đã dẫn đến thực trạng của một lực lượng triển khai mà khi ở mức cao điểm đã lên cho tới cả là 543.400 quân nhân. Tướng Westmoreland đã có ý định tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao, có nghĩa khá đơn giản là mục tiêu chỉ là giết được càng nhiều lính địch thì là càng tốt thôi. Tiền đề đưa ra đã là điều này sẽ làm bọn thù địch cộng sản sẽ mất ý chí và rồi sẽ chấm dứt vô xâm lược miền Nam Việt Nam. Để đánh giá hiệu quả của loại chiến tranh kiểu đó thì chỉ là con số xác lính địch đếm được mà thôi.

Chiến thuật chủ yếu liên hệ vẫn thường được gọi là những chiến dịch ‘Search and Destroy ~ Tìm và Diệt’. Những cuộc hành quân loại này thì lại đòi hỏi toàn là những đơn vị quy mô, và chủ yếu sẽ chỉ xẩy ra trong các khu rừng già mà thôi. Vì cứ bị ám ảnh bởi loại hành quân này, Westmoreland đã gần như là hoàn toàn không lo gì đến việc phát triển bành trướng quân đội của miền Nam Việt Nam, và vẫn cứ để cho họ chỉ được trang bị với loại vũ khí Mỹ phế thải của thời Thế chiến II, trong khi lực lượng Mỹ thì lại đã có được loại súng tấn công M-16 mới tinh. Do đó, Nam Việt Nam đã bị buộc phải chiến đấu với hỏa lực thua xa bọn Bắc cộng, mà quan thày của chúng thì cũng đã từng cung cấp rồi cho chúng loại AK-47 rất ư là kiến hiệu.

Cũng vậy, Westmoreland đã từng hoàn toàn bỏ qua công tác tối yếu về bình định, đặc biệt là phải bứng rễ các cơ sở bí mật hạ tầng của Việt Cộng mà vẫn đã đang thi hành chính sách khủng bố và cưỡng chế để thống trị ở nông thôn trong các thôn làng Nam Việt Nam. Trung Tướng Phillip Davidson, Trưởng Phòng J-2 của Tướng Westmoreland (Giám đốc Quân Báo), đã có nhận xét: “Westmoreland chỉ luôn luôn quan tâm đến loại chiến tranh với những đại đơn vị mà thôi. Việc bình định chỉ làm ông ta nhàm chán mà thôi”. Và, Davidson cũng đã thấy trước được sự yếu kém và thiếu sót tối quan trọng đó. “Các chiến dịch Tìm và Diệt đã không có hiệu quả trong việc cung cấp một môi trường an toàn cho chương trình bình định đang đòi hỏi”.

Nhưng thật không may là những khía cạnh tối yếu của cuộc chiến thì lại nằm ngay trong các thôn làng, chớ không phải là các khu rừng già, và điều này thì lại thì ngược hoàn toàn với quan điểm của Westmoreland. Điều này cũng đã rất ư là rõ ràng với nhiều, rất nhiều người, trong suốt thời gian bốn năm chỉ huy của ông ta. Alexander Haig đã từng phê bình chiến lược của Westmoreland như là “một loại núp-và-tìm điên khùng và đẫm máu”. Robert McNamara cũng từng tuyên bố trong một cuộc họp tại Toà Bạch Ốc là “chiến tranh không thể thắng được bằng cách giết chết bọn Bắc Việt. Chỉ có thể thắng bằng cách bảo vệ cho được miền Nam Việt Nam mà thôi”. Nhưng muôn trùng chỉ trích vẫn cũng đã không có hiệu quả, thậm chí vào tháng 5 của năm 1967, ngay cả Tổng thống Lyndon Johnson cũng phải thừa nhận là chiến cuộc đang lâm vào tình trạng mà ông gọi là “bloody impasse ~ một bế tắc đẫm máu”. Ấy vậy, tướng Westmoreland vẫn được lưu giữ để tiếp tục chỉ huy, và do đó, đã được để cho tiếp tục cái loại chiến thuật vô hiệu quả của mình, cho thêm cả gần một năm nữa.

Nếu nói theo chủ trương của ông ta thì quả thật tướng Westmoreland đã thành công, từng loại bỏ được một số lớn lực lượng của địch. Ông đã đặt niềm hy vọng vào chi tiết đó và đã tin tưởng là như vậy sẽ buộc được cái bọn cộng sản phải chấm dứt xâm lấn miền Nam Việt Nam, nhưng kết quả mong đợi này lại đã không hề bao giờ xẩy ra. Thay vào đó là chúng lại cứ càng ngày càng đổ nhiều quân hơn xuống Nam mà thôi.

Westmoreland thì quả như là cứ mãi đang tập chạy trên một loại máy ‘treadmill’ nào đó, và dạo đó thì lại đã không phải là một tình huống mà yếu tố thời gian sẽ đã là một yếu tố thuận lợi cho chúng ta. Thượng nghị sĩ “Fritz” Hollings, từ tiểu bang nhà của Westmoreland tại South Carolina, đã từng cố gắng giải thích điều này nhân một chuyến viếng thăm Việt Nam. Westmoreland thì lại đã khoe khoan với ông ta là quân đội Mỹ đang diệt được địch với tỷ lệ 1:10. Thượng nghị sĩ Hollings bèn trả lời, “Này Westy, người dân Mỹ đâu ‘ke’ về cái con số 10 đó. Họ chỉ lo âu về cái con số 1 đó mà thôi”. Westmoreland thì lại đã không bao giờ hiểu được ý nghĩa của điều nhận xét thật là đơn giản đó.

◊◊◊

 Ngay sau vụ kinh hoàng của trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968 của VC, một đội ngũ lãnh đạo mới đã được bổ nhiệm để chịu trách nhiệm về sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam. Đại sứ Ellsworth Bunker đã được Tướng Creighton Abrams, chỉ huy trưởng của quân đội Hoa Kỳ tại đó phụ giúp và, không lâu sau đó, Đại sứ William Colby cũng đã trở thành người phụ trách về việc yểm  trợ của Mỹ trong chương trình bình định. Đầu năm sau thì Richard Nixon đã đắc cử tổng thống.

Đại sứ Bunker từng nhớ lại, “Abrams đã được bàn giao và đã chỉ huy một cách thật là cương quyết và đầy quyền uy. Ông ta quả là một con người tuyệt vời như tôi đã viết trong cuốn sách của tôi”. Và, tướng Fred Weyand thì lại đã kể: “Chỉ mười lăm phút sau khi Abrams ‘nắm quyền’ thì các chiến thuật đều được thay đổi”.

Dưới sự lãnh đạo mới này, ngay cả ở Washington lẫn Sài Gòn, trong những năm sau đó, đã có những khác biệt quan trọng chủ yếu tỏ lộ một khả năng đầy khôn ngoan và một sự ổn định tại tòa đại sứ; chỉ huy tại chiến trường khả quan hơn nhiều; một giới lãnh đạo quốc gia có khả năng hơn với Nixon, Kissinger và Laird – bất kể những chống đối tranh luận đậm đà thường xẩy ra giữa họ với nhau nếu ta so sánh với thời kỳ của TT Johnson và McNamara; một quan niệm hoàn toàn mới nhằm tiến hành cuộc chiến tranh tại Nam Việt Nam, nơi mà chính tiêu chuẩn mang lại an ninh cho người dân, chớ không phải là việc đi đếm xác, mới quả thật là  tiêu chuẩn của thành công; những chiến thuật khác áp dụng tại Nam Việt Nam, với mục tiêu “clear and hold ~ giải tỏa và nắm giữ” hơn là “search and destroy ~ tìm và diệt” như là cứu cánh; một thái độ bồi dưỡng và cải thiện quân đội VNCH thay vì coi họ không ra gì cả như trong thời kỳ củ đã qua; chuyên chú vào chỉ “một cuộc chiến” gồm công tác bình định, lẫn những cuộc hành quân, và tiếp tục cải tiến quân đội Nam Việt Nam, thay vì chỉ chú tâm chỉ vào các chiến dịch chỉ của quân đội Mỹ mà thôi; và dĩ nhiên, sự khác biệt căn bản trong bối cảnh và khung cảnh chính trị Hoa Kỳ vào lúc đó, đã đưa đến tiến trình các lực lượng Mỹ lần lượt phải rút đi thay vì là phải tiếp tục gia tăng thêm.

Vào tháng 2 năm 1969, một nhóm quân nhân liên lạc Mỹ có đến thăm Việt Nam. Sau này thì một trong những thành viên đó, một sĩ quan bộ binh giàu kinh nghiệm từng phục vụ tới hai nhiệm kỳ trước đó tại Việt Nam trong tư cách là tiểu đoàn trưởng và là một vị cố vấn, đã viết lại, “Quả thật đã là một cuộc chiến tranh mới và khác hẳn!”. Những thay đổi chính yếu mà ông ta đã nêu lên đã là “các đơn vị quân đội Mỹ nay được chia nhỏ ra, với những cuộc hành quân chỉ dùng các tiểu đơn vị thay vì là các cấp tiểu đoàn và lữ đoàn; và thêm nữa, chúng ta nay đang thực sự cùng làm việc với người Việt với một mức độ chưa từng bao giờ có, nhắm thẳng vào bọn địch lẫn lộn trong dân gian thay vì chạy đuổi theo sau cái bọn cứ đang mãi trốn lánh trong rừng già”.

Vị sĩ quan đó đã nói rỏ là đúng ra, ông ta đã phải hoài nghi khi được tường trình về những thay đổi đang xẩy ra nhân các lần họp báo tại các bộ tham mưu, nhưng là vì chính ông đã ghi nhận được ngay từ giới quân nhân cấp thấp. “Tôi vẫn tuyệt đối tin vào các ý kiến đột phát tự nhiên của các quân nhân chỉ chuyên dùng loại thực phẫm đóng hộp ‘C-ration’ và mọi người trong số đó thì cũng đều nhất trí là một hiện trạng mới đang xẩy ra và phản ứng của chúng ta quả là đã có hiệu quả”.

Kết quả tích cực của chính sách mới này đã sớm rõ ràng biểu lộ cho thấy ở khắp mọi nơi. Ấy vậy, lực lượng Mỹ thì cũng đã cứ bị đơn phương liên tiếp rút đi từng đợt, và cũng do đó, đã chính là Quân Đội VNCH mới đã gặt hái được những kết quả từng đã có vào dạo đó.

◊◊◊

Chấp hành các điều khoản của Hiệp định Ba-lê từng được ký kết vào cuối tháng Giêng năm 1973 và do đó, về mặt lý thuyết xem như đã kết thúc chiến tranh, mọi đơn vị của quân đội Mỹ cuối cùng cũng đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam. Trong khi đó thì các lực lượng xâm lược của Bắc Việt, mà không hề được đề cập trong Hiệp định đó, thì vẫn được phép ở lại miền Nam Việt Nam. Và thì cuộc chiến tranh đã cứ phải tiếp tục không suy giảm mà thôi.

Nếu mà Chính phủ VNCH vẫn cứ quyết định bác bỏ Hiệp định Ba-lê thì rỏ ràng là Hoa Kỳ rồi thì cũng sẽ ký kết mà không đếm hoài đến họ thôi, nhưng mà rồi thì Quốc hội Mỹ sẽ ngay sau đó nhanh chóng cắt đứt liền viện trợ thêm nữa cho miền Nam Việt Nam. Nếu, về mặt khác, Nam Việt Nam đã chịu chấp nhận thỏa thuận này, và do đó, hy vọng sẽ vẫn tiếp tục nhận được viện trợ của Mỹ, thì họ sẽ phải chấp nhận một kết thúc mà theo đó, quân Bắc Việt vẫn được quyền trụ lại để đe dọa ngay tại các vùng biên giới. Với một linh cảm thật là bi đát, miền Nam Việt Nam đã bị buộc phải chấp nhận giải pháp thứ hai, và chỉ để khám phá ra – trong ngở ngàng – là rồi họ lại phải gánh chiụ cả toàn bộ của cả hai cái tai ương đó, đó là bọn bộ đội Bắc kỳ đóng trụ được ngay tại miền Nam, mà viện trợ Mỹ thì cũng bị cắt đứt không còn nữa.

Tổng thống Nixon đã từng có bảo đảm với Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu về ba điều: Nếu Bắc Việt Nam vi phạm thỏa ước và tái tiếp đánh chiếm miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ can thiệp bẳng quân sự để trừng phạt mọi hành động như vậy. Điều thứ nhì, nếu chiến trận rồi lại tiếp diễn, Mỹ cam kết sẽ có chính sách viện trợ một-thay-một cho mọi phương tiện chiến đấu của  QLVNCH (chẳng hạn như thiết giáp và pháo), như đã từng được quy định trong Hiệp Định Ba-lê. Và điều thứ ba, Hoa Kỳ cam kết sẽ tiếp tục cung cấp cho Nam Việt Nam mọi giúp đở kinh tế tối yếu cần thiết. Khi lâm vào cơn khủng hoảng, Mỹ quốc bèn thất hẹn với cả ba cam kết của mình, và vì vậy, đã quyết định số mệnh của miền Nam Việt Nam.

Ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết thì Quốc hội Hoa Kỳ bèn bắt đầu phá nát tiềm lực quốc phòng của miền Nam Việt Nam trong khảnăng tự vệ. Vào tháng 6 năm 1973, Quốc hội Mỹ đã biểu quyết  ngăn cấm “mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ, trên đất, trên không hay cả  ngoài khơi bờ biển của Bắc Việt, Nam Việt hay cả Campuchia”, với quy định ngày chấm dứt hoàn toàn phải là  ngày 15 tháng8 năm 1973.

Rồi ngay sau đó thì viện trợ quân sự cho Nam Việt đã bị cắt mất đi cả một phần ba, từ tài khoản  năm 1973 là 2 tỷ 1 Mỹ kim tới tài khoản năm 1974 chỉ còn lại là 1 tỷ 4 Mỹ kim và rồi lại bị cắt them phân nữa vào tài khoản năm 1975, xuống chỉ còn có 700 triệu Mỹ kim mà thôi.

Một quan sát viên đã từng ghi nhận về những sự kiện này là, chỉ trong sáu tháng “Quốc hội đã phá hủy toàn bộ nền tảng của các Hiệp định Ba-lê” và “giáng một đòn chí tử vào … chính phủ Nam Việt Nam.”

◊◊◊

Cả hai bên, trong cuộc chiên đều cùng không có khả năng độc lập để tự mình lâm trận. Bắc Việt thì đã phải phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Cộng, cũng như Nam Việt đã phải phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Trên một phương diện lớn, Bắc và Nam Việt Nam đều đã có thể tự lo được về lương thực cho riêng mình và dĩ nhiên thì đã cũng phải cung ứng nhân lực của mình. Ngoài ra, thì họ gần như hoàn toàn phải lệ thuộc vào mấy ông chủ về mọi loại chiến cụ, cùng mọi phương tiện hậu cần và tiếp liệu, từ cả súng ống, đạn dược, vật liệu y tế, máy móc thông tin liên lạc và nhiên liệu.

Trong khi Quốc hội Mỹ thì đã đang cứ cắt viện trợ cho Nam Việt một cách rất ư là có hệ thống thì Bắc Việt lại đã cứ tiếp tục nhận được những sự giúp đở cực kỳ càng gia tăng từ phía quan thày của chúng. Một tài liệu sử năm 1994 của ngay Quân đội nhân dân Việt Nam, xuất bản tại Hà Nội, đã từng khoe khoang về sự thành công của Bắc Việt Nam trong việc tăng cường lực lượng của chúng ở miền Nam sau khi Hiệp định Ba-lê đã được ký kết xong. Tài liệu đó có ghi rỏ, “Từ tháng giêng cho đến tháng 9 năm 1973, số lượng tiếp liệu từng được gởi từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam đã tăng lên đến số lượng 140.000  tấn, cả bốn lần hơn, nếu so với dạo năm 1972”.

Đó vẫn không phải đã là toàn bộ của những gì đã đang thật sự xẩy ra. “Số lượng vật liệu được vận chuyển dọc theo cáí hành lang chiến lược [nói vềđường  mòn Hồ Chí Minh] từ đầu năm 1974 đến cuối tháng 4 năm 1975 đã lên tới được 823.146 tấn, tức là cả 1 phần 6 hơn, nếu so với tổng số đã vận chuyển được trong suốt cả mười ba năm qua”.

Tôi nghĩ là tôi đã từng có nói với  quý vị trong một dịp trước đây về bức công điện cuối cùng của  người bạn của tôi, Tom Polgar, một người đã quá cố, nguyên trưởng nhiệm sở cuối cùng của CIA tại Sài Gòn. Nguyên bản đã là: “Kết cuộc tối hậu thì ai cũng đã biết trước rồi, bởi vì Nam Việt Nam sẽ không thể nào có thể tiếp tục tồn tại mà không cần đến viện trợ quân sự của Mỹ trong khi tiềm lực gây chiến của Bắc Việt Nam thì lại không hề bị suy yếu và vẫn được tiếp tục hỗ trợ bởi Liên Xô và Trung Quốc”.

Chắc chắn là mọi người Mỹ thì sẽ không thích thú gì cả khi được biết là có hai quốc gia độc tài toàn trị là Liên Xô với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã từng chứng tỏ trung thành hơn và đáng tin cậy hơn trong tư cách đồng minh, khi được đem so với cái nền dân chủ Mỹ của họ, nhưng quả đó đã là một sự thực mà đã từng quả có xẩy ra rồi.

Nhiều năm sau đó thì người bạn cùng khóa của tôi là Norm Schwarzkopf, cũng đã từng có một nhận xét mà chắc rất nhiều người đã có phục vụ ở Việt Nam đều sẽ đồng ý: “Dạo đó tôi đã tin và nay thì tôi cũng vẫn còn tin là sự can thiệp của Mỹ trong cuộc Chiến Việt Nam đúng là chính đáng và công bình. Đó đã từng là một cuộc chiến tranh mà chúng ta đã đang chiến thắng về quân sự, mãi cho đến khi chính quyền Nixon ra lệnh rút đi hết các đơn vị bộ binh Mỹ. Và rồi bất kể đến tình trạng bất ổn và mơ hồ rối loạn không có gì là chắc chắn mà quyết định rút quân của chúng ta đã gây ra, tôi vẫn tin chắc là các lực lượng của QLVNCH sẽ vẫn chiến thắng, nếu mà chính phủ của chúng ta đã không chấm dứt yểm trợ về không quân và tiếp liệu, cũng như là cắt đứt hoàn toàn tài trợ cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa”.

Khi mọi việc đến hồi kết thúc tại Việt Nam thì Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, một người từng nổi tiếng về đức tính ngay thẳng lẫn nhân đạo, đã gửi một thông điệp tới tất cả các quân nhân Mỹ. Ông đã thừa nhận, “Đối với nhiều người, tấn bi kịch tại Đông Nam Á đã không hề chỉ là một biến chuyển nào đó ở tận xa xôi mà lại còn khá trừu tượng. Các bạn đã từng chiến đấu ở đó; các bạn cũng đã từng mất đi đồng đội ở đó; các bạn đã từng khổ đau ở đó”. Schlesinger bèn nhắc nhở mọi quân nhân từng tham dự cuộc chiến đó là họ quả đã có chiến thắng và đã rời chiến trường trong danh dự, cũng như nhấn mạnh về xác tín của mình là sự tham gia của Mỹ đã không phải là không có mục đích gì cả đâu. “Tôi xin ngã mủ kính phục quý bạn về điều đó”, ông ta đã tuyên bố với mọi đơn vị Mỹ trên khắp thế giới như vậy. “Không ai có thể chối cải được là quả thật, quý bạn rất ư là xứng đáng với sự kính nể, với lòng ngưỡng mộ và với nổi niềm mang ơn của cả toàn quốc chúng ta”.

◊◊◊

Stanley Karnow, rất ư là nổi tiếng khi hạ bút viết một cách méo mó về cuộc chiến ở Việt Nam, mà trong đó y rỏ ràng đã không có khả năng nhận ra được bất cứ điều gì khác hơn đã đang xẩy ra được trong những năm cuối của cuộc chiến, đã có đăng một đoạn trích dưới tiêu đề là “Vietnam: The War Nobody Won ~ Việt Nam: Trận Chiến Phân Thắng Bại”. Mà tài liệu đó lại thậm chí cũng không thể nói được, dù chỉ là hơi hơi đúng chút xíu được mà thôi.

Bắc Việt quả có đã chiến thắng, một cách dứt khoát và rỏ ràng. Nhưng khi đã có kẻ chiến thắng thì cũng phải có người chiến bại, và trong trường hợp này, đó chính là người dân Nam Việt Nam, người dân Campuchia và người dân Lào, mà cả hàng triệu đã buộc phải trốn bỏ chạy đi, bất chấp dến hiểm nguy bỏ mất cả mạng sống, còn hàng triệu khác thì lại bị đuổi ra khỏi nơi đang cư ngụ, bị bỏ tù, bị bỏ đói, bị đánh đập và sát hại bởi bọn chiến thắng, mà nay thì tha hồ muốn làm gì thì làm, không có ai để mà ngăn cản được chút ít bớt phần nào. Và dĩ nhiên, trong số những người thua cuộc thì cũng đã phải có người Mỹ và các đồng minh khác, những người đã cố tìm cách để giúp Nam Việt Nam hầu có thể sống được trong tự do.

Có thể lập luận là cũng đã có những kẻ thua cuộc khác như là toàn cả một dân tộc Việt Nam, cả những người tận phương Bắc xa xôi cho tới tận cùng phía Nam dưới này, cho tất cả những kẻ vẫn cứ phải đành đoạn tiếp tục khổ đau tận cùng dưới một chế độ áp bức, lạc hậu và vô khả năng trong việc cầm quyền mà đã cứ tiếp tục phá nát đất nước về phương diện kinh tế cũng như là về văn hóa. Toàn dân, ngay toàn cả nhân dân, nói ra thì quả đã bị thua thiệt mà thôi.

Tay Phạm Xuân Ẩn, một cựu đại tá Việt Cộng, sau này thì cũng đã có mô tả sự vỡ mộng kinh hoàng của y về ý nghĩa rốt ráo của thế nào là một chiến thắng của cộng sản đối với nước Việt Nam. Y than vãn, “Tất cả những gì nào là về ‘giải phóng’ của cả hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm trước đây, nay chỉ tạo ra cái này, một đất nước nghèo khó, tan nát mà lại còn do một băng đảng lý thuyết gia tàn ác và đầy tính gia trưởng thất học nữa chừng nắm quyền chỉ huy”.

Chiếu theo những tiêu chuẩn này thì quả là đã chỉ có quá ư là ít kẻ chiến thắng, mà tóm ra thì chỉ là cái bọn trong đám hàng ngủ lơ thơ cán bộ nắm quyền ấn định mọi chính sách và thống trị đa số nhân dân tại cái vùng từng được gọi là Đông Dưong đó mà thôi. Nhưng dù gì thì chúng cũng đã vẫn là bọn từng chiến thắng, chiếu theo những đòi hỏi của chính chúng, rất là khách quan. Chiến thắng của chúng thì cũng đã được chứng thực hàng ngày bằng nào là khổ đau, đói kém, gia đình phân tán, biệt xứ ra đi và  buồn đau nhỏ lệ cho những người đã từng phải bỏ mạng dưới sự cai trị hà khắc của chúng. Chúng quả đã giành được chiến thắng và chúng ta thì cũng sẽ không bao giờ có thể trốn tránh được cái trách nhiệm từng đã để cho chúng thành công như vậy.

Chúng ta cũng đành phải thừa nhận là cũng đã có những kẻ chiến thắng khác, đám bọn người Mỹ từng đã theo địch, mà đã tích cực hoạt động bênh vực cho kẻ thù, nhằm chống lại ngay chính phủ của họ và luôn cả miền Nam Việt Nam, những tên từng đã đến Hà Nội và vẫy cờ của Việt Cộng và lớn tiếng tôn vinh bọn xâm lược đang hàng ngày cứ pháo kích bừa bải vào các phố thị, tàn sát  thường dân và bắt cóc dẫn đi các xã trưởng tại nông thôn . Bọn chúng chính đã là những thứ Jane Fonda, những loại Cora Weiss và những đồng bọn và quả thật, chúng cũng đã là những tên từng chiến thắng mà thôi.

David Horowitz, một biên tập viên của tạp chí phản chiến cấp tiến Ramparts, đã từng viết: “Hãy để cho tôi minh định rõ ràng. Bọn chúng tôi, mà đã từng thúc đẩy và rồi đi lãnh đạo phong trào phản chiến, đều đã quả thực không chỉ muốn ngăn chận các vụ giết người như quá ư là nhiều kẻ từng tham dự các cuộc nội chiến đó đã huynh hoang tuyên bố. Chúng tôi quả đã muốn Cộng sản phải chiến thắng mà thôi”.

◊◊◊

Tướng Abrams đã qua đời trong khi ông vẫn nắm chức Tham Mưu Trưởng Quân Đội Mỹ, vị Tham Mưu Trưởng Quân Đội Mỹ duy nhất đã ra đi trong khi vẫn còn tại chức. Chuyện này đã xảy ra vào mùa thu năm 1974 và đã tránh dùm cho ông nổi thống khổ sẽ có, nếu phải chứng kiến việc chúng ta bỏ rơi miền Nam Việt Nam và sau đó là sự thua trận mà sẽ không thể nào tránh khỏi được.

Sau đó, một đài tưởng niệm ông đã được dựng lên tại Carlisle Barracks.  Đó chỉ là một lát đá, và đúng vậy, đài đã được đặt tại một nơi mà hàng ngày mọi sinh viên sĩ quan của War College ~ Viện Cao đẳng Chiến tranh, sẽ đi ngang qua mỗi ngày. Trên đó chỉ có vài lời của chính Abrams:

“Trong quân đội của chúng ta, chắc đã phải bàng bạc một ý niệm về thế nào là mục tiêu và sự cống hiến trọn vẹn cho mục tiêu đó. Chắc hẳn phải đã có một ý thức để sẵn sàng sẽ đi xa hơn chút nữa, sẽ ráng mang nặng hơn, sẽ tình nguyện để đi vào nơi tăm tối cũng như là nơi xa lạ, chỉ vì cho an toàn và hạnh phúc của những người khác”.

Và đó đã chính là việc mà các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta, với sự yểm trợ oai hùng của gia đình họ, đã cống hiến cho chúng ta và cho đất nước của chúng ta.

◊◊◊

Tôi nghỉ là quả thật phù hợp với tôi, và cũng rất ư là quan trọng, là với bài thuyết trình để kết luận loạt tưởng niệm về Việt Nam, chúng ta cũng có ghi nhận các cuộc chiến đấu oai hùng của chính người Việt Nam để ráng bảo vệ tự do và độc lập của họ và, để rồi sau khi chúng ta đã bỏ rơi họ và nỗ lực đó của họ đã phải đành thất bại, hàng triệu người Việt bỏ xứ đã thành công xây dựng lại, một cách tuyệt vời, một cuộc sống mới cho bản thân và gia đình của họ ở Mỹ, Úc, Gia-nã-đại, Pháp và các nước khác trên thế giới.

Đúng một phần tư thế kỷ sau khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam, nhân một cuộc họp hàng năm của United States Armor Association ~ Hiệp Hội Thiết Giáp Hoa Kỳ tại Fort Knox, một tấm bảng đã được thiết lập để vinh danh những người Việt Nam đã từng tốt nghiệp trường Armor School ~ Trường Thiết Giáp. Đã từng có năm sĩ quan Nam Việt Nam tại đây, kể cả Đại Tá Hà Mai Việt, người bạn rất thân của tôi kể từ khi chúng tôi đã là những đại úy theo học khóa Armor Officers Advance Course ~ Khóa Cao Cấp Sĩ Quan Thiết Giáp tại trại Knox dạo 1961-1962.

Tôi xin có nhận xét về hoàn cảnh công vụ của năm sĩ quan Nam Việt như sau: “Người Mỹ, đa số phục vụ theo tiêu chuẩn 1 năm ở Việt Nam, tuy là cũng đã từng có nhiều người đã tình nguyện chấp nhận trở lại thêm lần thứ hai và thậm chí cũng có người tới lần thứ ba. Chu kỳ của sĩ quan Nam Việt Nam thì chỉ có một lần thôi, xuyên suốt luôn toàn chu kỳ. Trung tá Nguyễn Hữu An thì từng đã chỉ huy một chi đoàn thiết giáp (cavalry troop) suốt trong bốn năm, rồi sau đó đã là chỉ huy trưởng của một thiết đoàn thiết giáp (cavalry squadron) trong bốn năm nữa. Đại tá Trần Ngọc Trúc thì cũng vậy, rồi sau đó thì chỉ huy một lữ đoàn thiết giáp. Trung Tướng Vĩnh Lộc thì từng chỉ huy cấp sư đoàn, rồi sau đó là quân đoàn, mỗi lần trong hai năm, và rồi chỉ huy Trường Cao đẳng Quốc phòng trong sáu năm. Trung Tá Hàng Phong Cao thì cũng từng chỉ huy chi đoàn thiết giáp (cavalry troop), từng là chi huy trưởng thiết đoàn thiết giáp (cavalry squadron) và sau đó là một quận trưởng. Đại Tá Hà Mai Việt thì lại là Giám đốc của Trường Huấn Luyện về Thiết Giáp, từng chỉ huy từ đơn vị chi đoàn lên đến cấp thiết đoàn và đã là Trưởng Phòng 3 của Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, rối là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị và Trưởng Phòng 3 của Quân Đoàn I”.

Tôi đã tiếp tục, “Ngay tại Mỹ, chính những người đàn ông đó, cùng gia đình của họ, và nhiều người khác cũng như họ, nói chung thì gần một triệu người, đã làm phong phú thêm cho xã hội và văn hóa của chúng ta, bằng một cách sống chăm chỉ của mộtr người công dân gương mẫu. Họ cũng đang gửi về cả tỷ Mỹ kim hàng năm cho gia đình và bạn bè của họ vẫn còn ở Việt Nam, và đã trở thành một trong những nguồn lợi tức lớn nhất của cái đất nước đó”.

“Và tại Việt Nam hiện nay, chính người dân ở miền Nam, vùng của Việt Nam Cộng Hòa cũ của Việt Nam, cũng đang sản xuất được đến cả 80 phần trăm của toàn bộ tổng sản lượng quốc gia, mặc dù họ chỉ chiếm khoảng một nửa tổng dân số mà thôi”.

Tôi xin nói, “Nói chung thì chúng ta có đủ lý do để hãnh diện về các đồng nghiệp Nam Việt của chúng ta, cả về tư cách xuyên qua bao năm dài và khó khăn về chiến tranh của họ và trong phong cách họ đã biểu hiện đối với tấn bi kịch vào giai đoạn cuối”. Do đó: “Quả thật đã đến lúc là, nhân kỷ niệm lần thứ 25 cuộc chiến đã kết thúc, chúng ta phải vinh danh mọi người miền Nam Việt Nam mà đã từng là những người bạn của chúng ta và từng là các khóa sinh tại School Armor ~ Trường Thiết Giáp, và cũng rất ư là đúng đáng khi chúng ta nói lên niềm kính trọng và ngưỡng mộ mãi mãi của chúng ta bằng tấm bảng này”.

Trên bảng, chúng ta có thể đọc được như sau:

ĐỀ VINH DANH VÀ TƯỞNG NHỚ

712 SĨ QUAN KHÓA SINH QUÂN LỰC VNCH

ĐÃ TỪNG THỤ HUẤNTẠI TRƯỜNG THIẾT GIÁP TRONG THỜI CUỘC CHIẾN VIỆT-NAM

VỚI NỔI THÁN PHỤC CÙNG NIỀM KÍNH TRỌNG

Chính tôi đã soạn lời ghi trên bảng này và đã cố ý chấm dứt với các chữ “với nổi thán phục cùng niềm hối tiếc”. Vào dạo năm 2000 thì khi tuyên bố như vậy thì cũng quả là quá lố, nên hai từ cuối ‘hối tiếc’ đã phải đổi thành ‘kính trọng’. Tới nay thì tôi nghỉ là diễn từ ‘hối tiếc’ sẽ được chấp nhận một cách nồng nhiệt hơn.

Cũng cùng dạo đó, tức là nhân dịp tưởng niệm lần thứ hai mươi lăm năm cuộc chiến Việt-Nam đã kết thúc, Walter McDougall  có viết trên tờ New York Times: “Hậu quả sâu đậm đối với Mỹ có thể đã do từ những đóng góp muôn trùng nhưng không từng được ghi nhận vào ngay cuộc sống xứ Mỹ của những người Việt tỵ nạn mà đã đang cứ lặng im còng lưng ráng đi cày chỉ để tân trang lại những khu phố, những cơ sở thương mại hoang tàn và vẫn cứ ráng hướng dẫn con cái là phải vào đại học”.

Và điều này thật là không ngờ, từ một tờ báo như là tờ  Washington Post, mãi lâu sau khi chiến tranh đã kết thúc rồi, đã minh định một định đề rất là quan trọng đối vớI tôi: “Vai trò của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam … không hề là một sự rủi may. Việc này đã xuất phát từ các căn nguyên sâu xa nhất, những căn nguyên sâu đậm và chính đáng của Mỹ mong muốn bành trướng ý niệm tự do trên khắp thế giới”.

◊◊◊

Gần một phần tư thế kỷ sau cuộc chiến thì Nick Sebastian, một người từng tốt nghiệp quân trường West Point và sau đó đã phục vụ tại Sở Di Trú và Nhập Tịch, đã từng bỏ qua ba tháng trời tại nơi xưa kia là Sài Gòn để phỏng vấn các người xin đi tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ, những cựu “thuyền nhân” đã bị buộc phải trở về lại nước từ các trại tị nạn ở khắp nơi khác tại Đông Nam Á.

Đó quả đã là một kinh nghiệm sống động khiến một người như Sebastian trở thành khiêm nhường khi đương sự chứng kiến được tận mặt đất nước Việt Nam và cả người dân đáng yêu của họ, mà vẫn còn đang kiên nhẫn cầm cự trong một tinh thần đáng ngưỡng mộ, dưới một chế độ hà khắc và một nền kinh tế cực kỳ khó khăn. Ông ta đã tường thuật lại, “Mọi người mà tôi gặp được trên toàn quốc thì đều đã chấp nhận được sự mất mát của họ và trong nhiều trường hợp sau đó, cũng từng bình thản chịu đựng những đòn hành hạ cực kỳ tàn nhẫn với đầy nghị lực, đầy cá tính đáng kính và ý chí để hầu sống sót được, thì quả là đáng khiến chúng ta kinh ngạc thán phục”.

Trong phần kết luận cuốn sách của tôi là A Better War , tôi đã có viết: “Rất lâu sau khi cuộc chiến đã kết thúc, sau khi các chiến trận đã không còn nữa, sau khi Bunker đã quá cố, và cả Abrams luôn, sau cả sự kiện thuyền nhân cùng tất cả những hệ luận đau buồn do việc chính nghĩa bị đánh mất, người con trai trưởng trong số ba người con trai của Tướng Abrams, mà đều cùng là những sĩ quan lục quân, đã lên phục vụ trong ban giảng huấn tại Command & General Staff College ~ Trường Chỉ Huy & Tổng Tham Mưu tại Fort Leavenworth. Đã có ai đó nhắc ông ta về điều mà Robert Shaplen đã từng tuyên bố, là thân phụ của ông đúng ra phải xứng hơn với một cuộc chiến tranh tốt hơn nhiều.

“‘Ba tôi không nghỉ như vậy đâu’, người con trưởng của Tướng Creighton bèn trả lời rất ư là rỏ ràng. “Ông vẫn nghĩ là người Việt Nam rất ư là xứng đáng với cuộcchiến đó”.

◊◊◊

Tất cả các bạn thì cũng đã từng biết về Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt-Nam ~ Vietnam Veterans Memorial tên gôi The Mall ~ Bức Tưòng trên Washington, mà rất nhiều người đã vẫn thường cứ đơn giản gọi là “Bức Tường ~ The Wall”. Chắc có lẽ hầu hết các bạn thì cũng đã tới đó rồi, với một số mà tôi chắc chắn thì cũng đã phải là nhiều lần rồi. Để chấm dứt những quan điểm đã đệ trình với quý vị, tôi chỉ muốn nói một vài lời về cái nơi đó.

Lúc ban đầu, quả thực tôi đã không có thích Bức Tường ~ The Wall. Với tôi, một đường rãnh đen thui giản đơn thì chỉ dành để nhớ người chết thôi, mà không thể nào nói lên được đó là những vị anh hùng, thay vì chỉ là những nạn nhân mà thôi. Nhưng rồi ngay sau đó, các bạn đồng môn tại West Point của tôi cũng đã sớm khởi động một thông lệ để cứ hàng năm phải cứ tới viếng cái Bức Tường ~ The Wall, vào thời gian gần ngày Chiến Sĩ Trận Vong ~ Memorial Day, tới để được mỗi lần như vậy, đặt xuống một vòng hoa điếu sát bên tên của một trong mười đồng khóa của chúng tôi và một người cũng từng là đồng môn trước kia, mà đều cũng đã hy sinh tại Việt Nam. Ấy vậy, tôi vẫn đã cứ không bao giờ đi như vậy cả.

Nhưng rồi là tới phiên kẻ được vinh danh tưởng niệm lại chính là người khóa sinh đàn em cùng phòng của tôi, và tôi chỉ đơn giản là không thể không đi được thôi. Nay thì cả Ginny và tôi cũng đang cùng nhau cứ đến đó hàng năm, cùng đứng chung với các bạn đồng khóa còn sống sót của chúng tôi, cùng rất ư là nhiều con cháu, để tưởng nhớ và tôn vinh sự cống hiến của những người đã từng hy sinh mạng sống chỉ để phục vụ đất nước của chúng ta mà thôi.

Mổi lần, cứ trước khi chúng tôi rời đài tưởng niệm, thì tôi luôn luôn tới khu Section W47, nơi (tại hàng thứ năm từ trên đếm xuống) tôi sẽ từ từ dò ra được tên của John Veara, một trung sĩ trẻ tuổi tài ba mà đã từng chi huy một thiết giáp xa thuộc một trung đội do tôi chỉ huy thuộc Lữ Đoàn 2 Thiết  Kỵ tại Tây Đức, mà sau này đã hy sinh tại chiến trường trong khi phục vụ tại Việt Nam – chỉ có 12 ngày trước khi nhiệm kỳ 1 năm của anh ta sẽ đáo hạn.

Tôi muốn có một nhận xét chính thức và công khai về cảm giác hối tiếc cực kỳ của tôi là đài tưởng niệm đã không gồm luôn được tên tuổi của biết bao nhiêu là người dân sự, mà cũng đã từng dũng cảm phục vụ quân đội của chúng ta ở Việt Nam và đã phải thiệt mạng trong công tác đó.

Trong tháng 11 năm 2007, tôi đã có vinh dự được tham gia một buổi lễ gọi là “Reading of the Names ~ Đọc Tên” tại đài Bức Tường ~ The Wall. Để đánh dấu lể kỷ niệm 25 năm thành lập đài tưởng niệm, các tình nguyện viên đã thay phiên nhau lớn tiếng đọc lên toàn thể cả số hơn cả 58.000 tên tuổi đã được khắc ghi tại đó. Việc này đã đòi hỏi cho tới cả 65 tiếng đồng hồ và kéo dài cả suốt bốn ngày trời.

Tôi đã xin tình nguyện đọc trong phần đầu, bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng của ngày thứ sáu 8 tháng 11. Mỗi người đọc đã được giao cho ba mươi tên tuổi trên một danh sách được cung cấp sẳn trước và được dành cho hai phút để đọc qua trước. Tôi đã nghiên cứu danh sách của tôi, đã quyết định làm sao phát âm cho đúng một số tên và rồi thực tập đọc toàn danh sách trước nhiều lần. Tôi đã đặc biệt lo lắng với cái tên George Micha Smyrychynski – cái họ với cả mười hai chữ cái mà chỉ có duy nhất một mẫu âm.

Tôi đã nhận chân ra đuợc kinh nghiệm vừa trải qua quả thật là cực kỳ cảm động, và đã rất ư là cảm kích những người đã tình nguyện để lên đọc (đặc biệt lại còn là vào lúc 5 giờ một buổi sáng tinh sương rất tối và cũng khá lạnh). Không phải mọi người đó đều là cựu chiến binh, như tôi đã dự tính trước. Nhiều người hãy còn rất trẻ. Tất cả đều lộ vẻ đầy hăng hái và cảm động khi được cho tham dự vào việc này.

Chúng tôi đã được chỉ thị không được quyền tự ý thêm thắt bất cứ điều gì, chỉ được quyền đọc lên các tên tuổi mà thôi, nhưng khi một người đàn ông, rõ ràng là một cựu chiến binh, đã buột miệng nói khẽ, sau khi đọc xong danh sách của mình, “Xin cảm ơn, các người anh em của tôi ơi”, thì cũng không hề có ai dám phản đối cả.

Vì vậy, tôi xin được chấm dứt bằng việc này, là cùng nhau tưởng nhớ tất cả những người đã từng phục vụ trong một cố gắng cao thượng và anh dũng hầu đánh đuổi các lực lượng xâm lược và độc tài ở Việt Nam cũng như là ở vùng Đông Nam Á, tất cả những nam và nữ quân nhân của quân đội chúng ta – và luôn cả mọi người dân sự mà cũng đã từng nắm giữ những vai trò quan trọng, và tất nhiên phải luôn cả các đồng minh Nam Việt cùng các đồng minh thuộc những quốc gia khác của chúng ta, mà đã cùng chia xẻ nổ lực đó, và – có lẽ đặc biệt là – tất cả các gia đình của họ.

Xin cảm ơn các bạn, quý anh chị em của tôi.

Và cũng xin thêm một điều nữa. Tôi sẽ sẳn sàng giải đáp một số câu hỏi và ý kiến, nếu có, của quý bạn, nhưng ngoài ra thì bài nói chuyện này của tôi vào tối hôm nay sẽ chính là bản đánh giá tối hậu của tôi về cuộc chiến Việt Nam.

Lời kết luận của tôi là như sau: đúng ra thì nó đã không phải bị kết thúc như vậy đâu.

*

Phần màu đỏ là của người chuyển ngữ; trong nguyên bản, Lewis Sorley đã CỐ Ý viết thường, để nói lên ý tưởng NHƯ đó chỉ là CHÂN LÝ mà thôi.

 *****

 

Một phản hồi to “Hồi Tưởng Về Cuộc Chiến Việt Nam”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Hồi Tưởng Về Cuộc Chiến Việt Nam […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: