Roger Canfield’s Americong #83

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 83

Chuyến Bon Chen Của Eldridge Cleaver

Tại Hà-nội Và Các Nơi Xa Hơn

 

Vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1970, tên Black Panther Eldridge Cleaver đã hướng dẫn một đoàn tùy tùng 11 thành viên của  U.S. Anti-imperialist  Peoples ( Nhân dân Mỹ chống Chủ nghĩa Đế quốc) đi chu du để biểu lộ tình đoàn kết với các thiên đường Cộng sản chính trên trái đất: Liên Xô, Bắc Hàn, Bắc Việt , Algeria và Trung cộng. 3603

Nhóm này gồm có Robert Scheer, Regina Blumenfeld, Randy Rappaport (Women’s Liberation ~ Giải phóng Phụ nữ), Alexander Hing (Chinatown Red Guards ~ Hồng Vệ Binh Phố Tàu), Janet Austin (Ramparts), Hideko Pat Sumi (Movement for a Democratic Military ~ Phong trào cho một Quân đội Dân chủ), Anne Froines (Panther Defense Committee ~ Ủy ban Quốc phòng Panther), Janet Kranzberg (Newsreel), Elaine Brown, Judith Clavir (tên cúng cơm là Albert, phụ trách tổ chức sinh viên tại Berkley) và Andrew Truskier.

Các Máy Phóng Thanh Tại Hà-nội ~ Cleaver Lên Tiếng Trên Đài Hà-nội

Ngày 30 tháng 8 năm 1970, Đài phát thanh Hà Nội đã phát một bài phát biểu của Cleaver từng được thu tại một cuộc biểu tình đoàn kết ở Hà Nội ngày 22 tháng 8 năm 1970, “Cuộc đấu tranh của người da đen … là một dấu hiệu chắc chắn … cho thấy ngày tàn của đế quốc Mỹ … Sự kết hợp của các lực lượng cách mạng bên ngoài (và bên trong) … sẽ nghiền nát đế quốc Mỹ “. 3604

Cleaver đã đi theo bọn Việt Cộng. Một tờ tuyên truyền Cộng sản có đề cao các cuộc bạo loạn của người đen ở Mỹ: “Một triệu người da đen … có trang bị vũ khí, đã đứng lên chống … chính sách khủng bố và đàn áp tàn nhẫn …. Các bọn cầm quyền tư bản và kỳ thị chủng tộc Mỹ đã đưa hàng chục ngàn cảnh sát và binh lính … thiết giáp và phi cơ trực thăng … để dẹp bỏ ….”.  3605

Mục Sư Phil Lawson Lên Tiếng Trên Đài Hà-nội

Mục sư Tin Lành ‘Methodist’ Phil Lawson của thành phố Kansas (cùng với  Martha Westover và Anthony Avirgan 3606 ) đại diện cho Fellowship for Reconciliation, FOR đã cùng sát cánh bên cạnh Cleaver tại các cuộc biểu tình ở Hà Nội. Thông điệp của Mục sư Lawson, mà sau đó đã được phát thanh thì đã nói, “với những anh em da đen của tôi trong các lực lượng Mỹ tại Việt Nam … [trong] vòng hai tuần, tôi đã đang đi thăm … thì các bạn cũng biết được là mình đang phạm tội.” Hơn nữa, “các bạn cần phải … khước từ [để] … không thi hành các lệnh vi phạm hình tội đó” và “bạn có thể bất tuân lệnh của bọn sĩ quan kỳ thị chủng tộc …. Cuộc chiến tranh thực sự nay đang xẩy ra chính tại Hoa Kỳ. ” 3607

Lawson kêu gọi lính Mỹ hãy đào ngũ, thậm chí ngay cả khi đang giao chiến  – một tội tử hình – mà rỏ ràng tay mục sư lãng trí hay ham tiền Phillip Lawson này khi xúi dục như vậy, sẽ cùng lắm, nếu bị phạt thì cũng như là y chỉ  có vi phạm luật lệ lưu thông mà thôi.

Robert Scheer Trên Đài Hà-nội

Robert Scheer đã lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội vào ngày 5 tháng 9 năm 1970. 3608  Theo một bài báo ngày 8 tháng 8 năm 1970 trên tờ The Black Panther  thì Scheer đã chính thức cho biết y đã ký một bản tuyên bố, mà đã có một đoạn như sau:

Bởi vì các dân tộc trên thế giới đều có cùng chung một kẻ thù, chúng ta cần phải nhìn cách mạng như một cuộc đấu tranh quốc tế chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Cuộc đấu tranh của chúng ta ở Mỹ quả thật là một phần của cách mạng tổng tấn công toàn diện vào kẻ thù này.

Hiểu được cuộc đấu tranh của nhân dân Triều Tiên để rồi giúp cho phong trào tại Mỹ là một bước tiến cốt yếu trong việc phát  triển viễn ảnh quốc tế này. ” 3609

Bài phát biểu của Scheer đã vượt xa hơn là chỉ cổ võ cho một quan điểm, một quyền được công nhận bởi Tu Chính số 1, nhằm nhiệt tình thúc đẩy cho việc cung cấp viện trợ và yểm trợ cho tất cả mọi kẻ địch của Hoa Kỳ.

Ellen Brown Pat Sumi Trên Đài Hà-nội

Bài phỏng vấn thành viên Black Panther Ellen Brown đã được phát trên Đài Hà Nội vào ngày 6 tháng 9. 3610

Pat Sumi đã có lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội vào ngày 9 tháng 9. 3611 Sumi đã giúp thành lập Movement for a Democratic Military (Phong trào cho một Quân đội Dân chủ) và đã vận động với các thủy quân lục chiến tại Trại  Pendleton cùng các binh lính tại Trại Fort Hood. Ngày 22 tháng 3 năm 1969, ngay Công trường Portsmouth, vị trí trung tâm của các cuộc biểu tình ở phố Tàu tại San Francisco, Pat Sumi đã cùng bọn Mỹ gốc Trung cộng – Red Guard Party (Đảng Hồng Vệ Binh) đội mũ ‘bê-rê’ đen cùng công bố một “Chương trình 10 điểm”. Chương trình 10 điểm của chúng bắt chước chương trình của Black Panthers (ăn sáng và cách mạng) –  ăn sáng miễn phí và “thanh lọc bọn cảnh sát thuộc địa khỏi Phố Tàu”.  3612 Đã mang dòng máu Tàu mà lại đi tôn thờ biểu tượng Black Panther, chắc chắn  là Sumi đã được cung cấp miển phí vé máy bay đẻ nhập bọn với phái đoàn Black Panther của Eldridge Cleaver cùng bay đi Bắc Hàn, Bắc Việt và Trung cộng.

Trên Đài Hà Nội, vào ngày 9 tháng 9, trong thông điệp đã được ghi âm trước đó, Pat Sumi đã nói chuyện thẳng với các quân nhân Mỹ ở Nam Việt, đặc biệt là với TQLC tại Quân Đoàn I gần biên giới với Bắc Việt. “Ngay bây giờ, tôi đang ở tại Hà Nội, Bắc Việt với tư cách là một thành viên của U.S. People’s Anti-Imperialists Delegation (Phái đoàn Nhân dân Mỹ Chống Đế quốc) …”. Sumi bèn mô tả lại các hoạt động phản chiến trong năm 1969 và 1970, kể cả các cuộc tấn công vào trại Fort Dix vào tháng 10, các cuộc biểu tình rộng lớn trên toàn quốc trong tháng 10 và tháng 11 và các hoạt động của Movement for a Democratic Military (Phong trào cho một Quân đội Dân chủ) ở Oceanside, tổ chức phiên tòa để tuyên án tử hình Quân đội tại trại Fort Lewis và đóng cửa được 22 căn cứ nhân một ngày biểu tình gọi là People’s Armed Forces Day (Ngày của Quân Lực)  trong tháng 5.

“Nên khi bạn về lại với thế giới thì nó sẽ khác rất nhiều”.  Sumi bèn tiếp, “Hãy đem anh em quân nhân GI của chúng ta về nhà ngay bây giờ. Chúng ta đang cần tất cả những người trai trẻ để cùng nhau đánh lại bọn heo thay vì là nhân dân Việt Nam. ” 3613

Ann Froines Trên Đài Hà-nội

Ngày 10 tháng 9 năm 1970, Ann Froines, vợ của tên John Froines, một thành viên của Chicago Seven từng được tha bổng, cũng là đồng hành cùng Cleaver từng đển nhiều thủ đô Cộng sản, đã lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội. 3614 Theo số báo Lao Động ngày 21 tháng 10 năm 1970 thì Ann Froines đã tuyên bố, “Nhân chuyến viếng thăm của chúng tôi [và] … tiếp xúc với … Chính phủ Cách mạng Lâm thời … chúng tôi mới biết được sự tàn phá rộng lớn và ghê gớm [của] 100 triệu cân Anh chất độc hóa học …” và “chúng tôi cũng biết được [về] các nạn nhân bị tra tấn … về việc xây dựng … các chuồng cọp”. Tuy nhiên, “các  tội ác này cũng không thể làm suy yếu được quyết tâm của nhân dân Việt Nam hầu tiếp tục chiến đấu dũng cảm cho đến chiến thắng cuối cùng … ” 3615

Doug Pike Tường Thuật Về Các Hành Vi Bạo Tàn Của VC

Khi nêu ra bản tường thuật đương thời của Douglas Pike, Trung tá James Rothrock, Không quân Hoa Kỳ (giải ngũ) có ghi nhận là Ann Froines đã không “học” được gì nhiều về vấn đề tàn bạo. Bọn chủ nhà Hà Nội và đám lý tài của chúng đã từng thi hành 158.000 vụ tấn công khủng bố, 30.000 vụ ám sát và 42.000 vụ bắt cóc từ năm 1961 đến giữa năm 1970. 3616 Froines đã được dạy dổ đúng theo công tác tuyên truyền mới nhất  là chủ đề “Các Chuồng Cọp”.

Các Đồng Chí Của Cleaver Chuyển Giao Các Thông Điệp Của Hà Nội Cùng  Thơ Từ Tù Binh

Các Tư Tưởng Vĩ  Đại Của Kim Nhật Thành

Khi về lại vào ngày 16 tháng 9 năm 1970 tại phi trường JFK ở New York trên chuyến bay 707 của Air France từ Paris, các nhân viên FBI đã theo dõi lúc Quan Thuế khám phá ra sáu bao sách báo mà đa số là từ Bắc Hàn do Kim Nhật Thành viết cũng như là của V.I. Lê-nin và một số phim Bắc Hàn. Sau này thì Robert Scheer cũng đã lên tiếng ca ngợi Các Tư Tưởng Vĩ  Đại Của Kim Nhật Thành trong hợp tác xã Red Family của Tom Hayden tại Berkeley và trên tạp chí Ramparts. 3617 Khi  chủ trương việc rút tất cả quân đội ngoại quốc khỏi Nam Hàn, vào cuối tháng 11 năm 1974, Hayden và  IPC Films của Fonda đã đồng tài trợ một bộ phim của Bắc Hàn tên là “The Flower Child ~ Em Bé bán Hoa” được trình chiếu tại nhà thờ Washington Square Methodist Church. 3618

Quan Thuế cũng tịch thu một số 374 thơ của tù binh để kiểm tra so sánh về tên tuổi và số quân. Tới 20:00 giờ thì họ có đi tìm người để giao lại những thơ từ này.

Họp Báo: Thơ Từ Tù Binh Bị “Đánh Cắp”

Đúng  6:01 chiều thì Alex Hing, một tên Hồng vệ binh Mỹ, đã khai mạc một cuộc họp báo, “đám heo đã vừa mới đánh cắp các thơ  … cùng một cuộn băng của  Eldridge Cleaver và bọn heo cũng đã phá hũy nó luôn”.

Hỏi: ” Xin cho biết quý danh”.

Trả lời: “. … Alex Hing của Hồng vệ binh San Francisco ”

Khi được phỏng vấn nhưng không có cho chụp hình, Eileen Arthur Cormier  thuộc  National League of Families (Liên đoàn Quốc gia các Gia đình), đã có hỏi liệu tổ chức của Hing rồi đây sẽ có thể chuyển giao các lá thư này chăng. Y thị đã trả lời là không, và nhóm U.S. People’s Anti-imperialist Group sẽ phụ trách việc này.

Robert Scheer công bố chính chính sách nhân đạo của Việt Nam đã cho phép thư tù binh được mang ra khỏi nước họ. Tuy nhiên, Quan Thuế Hoa Kỳ đã thu lượm tên trên các thơ từ để rồi sẽ “có thể được sử dụng nhằm chống lại (các tù binh) của chính phủ Mỹ.” Dù gì đi nữa thì chính phủ Mỹ đã “không hề quan tâm đến hòan cảnh của họ”.  Scheer tiếp: “Chính phủ Mỹ là một chính phủ tội phạm mà đã ra lệnh cho các phi công [để] thực hiện những tội ác chiến tranh trầm trọng nhất …”.

Hà-nội Và COLIFAM Hăm Dọa Dịch Vụ Thơ Từ Tù Binh Sẽ Bị Hũy Bỏ

Thi hành tuyệt đối theo lệnh chủ, Robert Scheer đã tuyên bố, “Chúng tôi không được phép để chính phủ Mỹ giữ một vai trò gì cả … mà có liên quan với những thơ từ này …”. Nhấn mạnh vào thế mạnh đang cầm cán dao của Hà Nội đối với gia đình các tù binh, Scheer đã nói, “Tôi có thể bảo đảm với quý vị là sẽ không còn có thơ từ để chuyển giao trong tương lai nếu chính phủ Hoa Kỳ cương quyết tịch thu chúng …”.

Không ai còn có thể nghi ngờ gì nữa, COLIFAM đã chính là đường dây được Hà Nội công nhận giao phó cho việc chuyển thơ. Robert Scheer đã đúng là người đưa thơ của Hà Nội. Y là một tay đi chào hàng trở về từ địa ngục tù binh mà lại tự nghĩ mình là một sứ giả của những không tưởng cộng sản mà trong đó có cả Bắc Hàn.

Dịch vụ chuyển thơ của Scheer đã phục vụ ngay tại nơi mà đã từng không hề có được trạm bưu điện Western Union – đó là ngay tại chiến trường.

Phạm Văn Đồng, tướng Giáp và Hoàng thân Norodom Sihanouk đã đón tiếp  Robert Scheer và những tên khác thực sự khá tốt : “Phái đoàn của chúng tôi đã đi … gặp công khai các chính phủ nhân dân và đã được đón nhận như là comrades-in-arms (những đồng chí cùng chiến tuyến). Chúng tôi cùng là chiến binh chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ “. Scheer và những tên khác trong đám Cleaver đã rỏ ràng là đang phục vụ trên khắp thế giới cho chủ nghĩa đế quốc cộng sản, bất kể thành viên là ai – Việt Nam, Bắc Hàn, Cu-ba, Liên Xô hay Trung cộng.

Ellen Brown: “Chúng tôi [Huey Newton và Black Panthers] đã đề nghị cung cấp quân đội của chúng tôi để hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh tự giải phóng hiện tại của họ …”.

Scheer: “Tôi đã ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam và họ đã gọi chúng tôi là comrades-in-arms  vì phái đoàn này đã được thành lập bởi phân bộ quốc tế của Đảng Black Panther … một sự phối hợp toàn vẹn của các cuộc đấu tranh này … Xin cảm ơn quý vị”. 3619

Ngày 18 tháng 9 năm 1970, trong một bức thư gởi cho bạn bè, Cora Weiss  chiếu tướng vào việc Quan Thuế Mỹ đã tạm giữ các thơ tù binh: Chính phủ Mỹ đã “tịch thu các thơ mà bất chấp cả các gia đình … và tương lai của những công trình trao đổi liên lạc … Chúng tôi rất bối rối … theo sáng kiến ​​của Bắc Việt, cả khối lượng và mức độ thơ từ đã gia tăng … Chúng tôi không chịu trách nhiệm về những hậu quả do hành vi can thiệp của chính phủ có thể gây ra”.  3620

Đừng hòng lộn xộn với chúng tôi. Chúng tôi – bọn Bắc Việt và các tên gián điệp được chỉ định của chúng, đang nắm cán dao – hay đúng hơn là đang nắm giữ các tù binh. Quý vị, các gia đình tù binh chiến tranh, đều là con tin của chúng tôi. COLIFAM đã xử sự như một bộ chính trị trong các liên lạc có tính cách phản chiến với Bắc Việt.

Ngày 1 tháng 10, Randy Rappaport và ngày 5 tháng 10, Martha Westover cuối cùng cũng đã lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội.

Cleaver Đi Lưu Vong

Thay vì đáp xuống New York cùng với đồng bọn, Eldridge Cleaver, chính theo lời của Scheer, “đã bị buộc phải đi lưu vong một cách rất ư là bất công”, đã đi Algiers, Algeria. Algeria đã từng công nhận về ngoại giao tất cả các mặt trận giải phóng dân tộc và cũng cho phép chúng mở tòa đại sứ. Cleaver bèn mở một Tòa Đại sứ của Các Nhân Dân Hoa Kỳ (U.S. Peoples Embassy), có vẻ là một điệp vụ tình báo của KGB thông qua tình báo Libya. Rồi thì Cleaver cũng sẽ sớm rời khỏi Algiers để đi hưởng khí hậu tốt hơn tại Ba-lê, nhưng y đã không hề quay về Mỹ trong nhiều năm sau đó.

Sau này thì Cleaver có thảo luận về những gì y đã từng học được về các thực tế khi tiến hành hoạt động tình báo với những kẻ thù của Hoa Kỳ. Nếu ai đó “… mà tới xin Qaddafi điều gì … thì Qaddafi không bao giờ cho không bất cứ điều gì. Ông ta luôn luôn có một số ràng buộc theo đó … loại về tin tức tình báo, nhưng cũng có lúc là những tin quân sự”. 3621 Tương tự như vậy,” Khi chúng tôi đến Hà Nội … Họ đã yêu cầu chúng tôi sẽ phải tuyên bố những điều gì trong các diễn đàn quốc tế, những điều mà ngay chính họ đã không thể nói được … Vì vậy, đã có một sự rung cảm thực sự mà tôi đã từng cảm nhận được”.

Weather Underground  Giải Cứu Sư Phụ LSD Timothy Leary

Vào ngày 12 tháng 9 năm 1970,  Weather Underground Organization đã giải cứu tên sư phụ về LSD là Timothy Leary từng bị bỏ tù về tội ma túy để trốn thoát khỏi nhà tù California Men’s Colony Prison ở San Luis Obispo, California.

Băng đảng Brotherhood of Eternal Love của Leary, một bọn chuyên buôn lậu LSD và cần sa, thông qua Michael Boyd Randall (hay còn gọi là Michael Thomas Garrity) đã trả cho đám Weathermen 25.000$  hay 50.000$ để làm các giấy tờ giả mạo và thực hiện vụ vượt ngục này. 3622

Leary Trả Tiền Mặt Để Mua Thuốc Nổ

“Kelly”, mà rất có thể là Bernardine Dohrn, đã nói với Leary là đã dùng tiền mặt để mua thuốc nổ. 3623 Sau này thì Leary đã viết, “Các tên mua bán ma túy đã quyên được hai mươi lăm ngàn đô la để trả tiền cho vụ vượt ngục. Và cứ như vậy, bọn du kích quân điên khùng thì vẫn cứ được nuôi dưởng tận tình”.

Timothy Leary (William John McNeills) và Rosemary Leary (Sylvia Edith McGaffin) đều bị tống xuất  3624 đến khu an toàn của chúng ở Algeria.

Trong tháng 10, Stew Albert, Jennifer Dohrn – chị em của Bernardine  – và Brian Flanagan đáp phi cơ đi Algeria qua ngõ Canada để gặp Leary và Eldridge Cleaver đang ở tại đó. 3625 Khi dừng chân tại Cairo, Jennifer đã cho biết, “Eldridge có nhờ Trung Quốc, Hàn Quốc và Bắc Việt bảo vệ chúng tôi. Thật vậy, có một lần, người Đại Hàn đã đánh điện cho Kim Nhật Thành và ông đã gửi một điện tín đến Cairo cho biết là họ phải tìm cho ra chúng tôi bởi vì chúng tôi là đồng chí của họ. ” 3626

Trong khi đó, sau khi khoe khoang về vụ Leary, vào ngày 15 tháng 9 năm 1970, Bernardine Dohrn bèn phổ biến thông cáo thứ tư kể từ khi trở thành bất hợp pháp để tuyên bố là: “Với MTGPMV và Bắc Việt … chúng ta biết được là hòa bình chỉ có thể có được với sự phá nát chủ nghĩa đế quốc Mỹ mà thôi”. 3627

Cảnh Sát Nữu Ước Vây Bắt Tại Các Xưởng Làm Bom Tại Bronx

Sau khi đã theo lệnh tòa theo dõi ba địa điểm từ tháng 7, vào ngày 3 tháng 11 năm 1970, cảnh sát đã vay bắt tại ba xưởng làm bom của bọn Weatherman tại  284 St Ann Avenue, 605 West  111th  Street và 2427 Webster Avenue ở Bronx, New York và đã tìm ra được chất nổ cùng các bản đồ lien hệ 50 kiến trúc tại New York và Chicago.

Trong số sáu tên bị bắt vì đang âm mưu để đốt phá, chế tạo bom và toan cố sát thì cảnh sát nghỉ có bốn tên thuộc Weather Underground là Donald Cavellini  27 tuổi, Jefferson Bernard 19 tuổi, Beth Rosenthal Katz  27 tuổi và Timothy Doyle 28 tuổi.  3628

Vào ngày 11 tháng 11 năm 1970, Jennifer Dohrn và Martin Herman Kenner đã tổ chức một cuộc họp báo và cho nghe một băng ghi âm của Timothy Leary gởi từ Algeria, nơi mà Dohrn và Kenner đã gặp y.  3629

Giám đốc Hoover  của FBI đã nói: “Bọn Black Panthers được hỗ trợ bởi các tổ chức khủng bố”.  Có lẽ Hoover muốn ám chỉ  là bọn đặt bom của Weather Underground , International Liberation School/Red Family của Hayden (đám tập làm khủng bố) và Quadafi đã từng tài trợ và chỉ đạo các hoạt động khủng bố đó.

Ngược lại thì CIA lại đã “không tìm thấy được chứng cớ của bất kỳ mối quan hệ nào giữa bọn ‘fedayeen’ và bọn Black Panthers”. 3630  Hỏi là đã sai. Trả lời cũng sai luôn. Phân tích thành ra sai luôn. Lại một lần nữa.

Hà Nội rồi sẽ sớm thực hiện được một việc tuyển dụng tuyệt chiêu khi thu phục được một Hải quân Trung úy để đãm nhận vai trò lãnh đạo trong tổ chức  Vietnam Veterans Against the War ~ Cựu chiến binh Việt Nam Phản Chiến, một nhóm cựu chiến binh rất nhỏ nhưng lại tuyệt đối binh Hà Nội, mà tất cả thành viên đều quá khích mà chỉ một số rất ít đã thiệt sự từng là cựu chiến binh có  tham chiến tại Việt Nam.

*****

3603  FBI, New York, LHM, Chuyến đi của Phái đoàn Mỹ tới Bắc Hàn và Bắc Việt, Tháng 7-8 năm 1970, hướng dẫn bởi Eldridge Cleaver, 23 tháng 9 năm 1970

3604  Chương trình Anh ngữ dành cho các quân nhân Mỹ đang phục vụ tại Việt-nam, 13:00 GMT, các bài diển văn của Eldridge Cleaver và Phil Lawson tại một cuộc biểu tình ngày 22 tháng 8 ở Hà-nội để bày tỏ lòng đoàn kết với cuộc chiến đấu của người da đen tại Mỹ; Rothrock, Divided…,  trang 221.

3605  SGM  Herbert A. Friedman, “Race as a Military Propaganda Theme,” trang 6 tại psywar.org/race.php.

3606  Giám đốc FBI gởi cho SAC tại Kansas City, New York và Philadelphia, “Possible Travel to North Vietnam by Anthony Avirgan, Phil Lawson and Martha Westover—August Nineteen Seventy, Internal Security—Miscellaneous,” Tối Mật, NITEL , 18 tháng 8 năm 1970; FBI, Philadelphia  đoạn 100-49298 không ghi ngày tháng , khoảng 20 tháng 8 năm 1970; FBI, Kansas City, LHM, [bị kiểm duyệt] ,11 tháng 8 năm 1970; “Phil Lawson Will Take Letters From Home to Prisoners of War on Forthcoming Trip to Hanoi,” Kansas City CAL (không đọc được), Kansas City, 8 tháng 8 năm 1970.

3607  Chương trình đài Hà-nội bằng Anh ngữ dành cho quân nhân Mỹ đang phục vụ tại Nam Việt, 13:00 GMT, 20 tháng 9 năm 1970. Bài diển văn của Phil Lawson với các quân nhân da đen Mỹ tại Nam Việt; Rothrock, Divided…, trang 222.

3608  Chương trình đài Hà-nội bằng Anh ngữ dành cho quân nhân Mỹ đang phục vụ tại Nam Việt, 08:30 GMT, 5 tháng 9 năm 1970; Robert Scheer nói về lần đi thăm cả hai vùng ở Việt-nam.

3609  8 tháng 8 năm 1970, The Black Panther nêu trong sách của David Horowitz, FrontpageMagazine.com  vào ngày 6 tháng 5 năm 2003.

3610  Chương trình Anh ngữ đài Hà-nội dành cho quân nhân Mỹ tại Nam Việt, 13:00 GMT, 6 tháng 9 năm 1970. Phỏng vấn Ellen Brown.

3611  Chương trình Anh ngữ đài Hà-nội dành cho quân nhân Mỹ tại Nam Việt, 13:00 GMT, 9 tháng 9 năm 1970. Tuyên bố của Pat Sumi với các binh sĩ da đen Mỹ tại Nam Việt.

3612  Daryl J. Maeda, Black Panthers, Red Guards, and Chinamen: Constructing Asian American Identity through Performing Blackness, 1969-1972, American Quarterly – Bộ  57, Số 4, Tháng Chạp 2005, trang 1079-1103, The Johns Hopkins University Press, American Quarterly 57.4 (2005) trang 1079-1103 tại 

http://muse.jhu.edu/login?uri=/journals/american_quarterly/v057/57.4maeda.pdf

3613  Chương trình Anh ngữ đài Hà-nội dành cho quân nhân Mỹ tại Nam Việt, 13:00 GMT, 9 tháng 9 năm 1970, B, R 110448Z SEP 70 ZNZI, FBIS Okinawa.

3614  Chương trình Anh ngữ đài Hà-nội dành cho quân nhân Mỹ tại Nam Việt, 13:00 GMT, 10 tháng 9 năm 1970. Bài nói chuyện của Ann Froines với các quân nhân da đen Mỹ tại Nam Việt; Suzanne Kelly McCormack, Good Politics is Doing Something: Independent diplomats and anti-war activists in the Vietnam-era peace movement. A collective biography (Carol McEldowney, Rona Shoul và Ann Froines), Nghị luận, Boston College, 2002. 

3615  Rothrock, Divided…, trang 174-5 viện dẫn Joint Publications Research Service (JPRS), “American Visitors give Impressions of Anti-U.S. Struggle: ‘How did the Americans Speak of Vietnam,” báo Hà-nội Lao Động, 21 tháng 10 năm 1970, trang 45-6. TTU.

3616  Douglas Pike, “The Viet-Cong Strategy of Terror,” U.S. Mission, Vietnam, 1970, trang 82, TTU; Rothrock, trang 175 ghi chú 37. 

3617  Collier và Horowitz, Destructive Generation, trang 226; Armstrong, Trumpet, trang 165, 188.

3618  Cắt từ báo của Max Friedman, “North Korea feature film to premier this weekend,”  7 tháng 11 năm 1974.

3619  FBI, New York, LHM “Travel of US Delegation to North Korea and North Vietnam July-August, 1970, Led by Eldridge Cleaver,”  23 tháng 9 năm 1970, trang 1-25.

3620  Cora Weiss gởi cho Bạn Bè, COLIFAM, 18 tháng 9 năm 1970.

3621  Phỏng vấn Eldridge Cleaver tại căn chung cư ở Berkeley bởi các chủ bút của  REASON là Bill Kauffman và Lynn Scarlett, Tháng 2 năm 1986.

3622  Timothy Leary, Confessions of a Hope Fiend, trang 35; Hashish Smuggling and Passport Fraud: the Brotherhood of Eternal Love, Điều trần trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administeation of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Hoa Kỳ Nhiệm kỳ 93, Khoá 1 năm 1973, Văn phòng Nhà Xuất bản Chính Phủ Mỹ 23-638 Washington: 1973, trang 29-31. http://www.ebooksread.com/authors-eng/united-states-congress-senate-committee-on-the/hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin/1-hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin.shtml

3623  Hashish Smuggling and Passport Fraud: the Brotherhood of Eternal Love, Điều trần trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administeation of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Hoa Kỳ Nhiệm kỳ 93, Khoá 1 năm 1973, Văn phòng Nhà Xuất bản Chính Phủ Mỹ 23-638 Washington: 1973, trang 31, 37.

http://www.ebooksread.com/authors-eng/united-states-congress-senate-committee-on-the/hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin/1-hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin.shtmla

3624  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”, 20 tháng 8 năm 1976, trang 306.

3625  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”, 20 tháng 8 năm 1976, trang 232, 289.

3626  “Getting High With Jennifer,” Good Times,  8 tháng giêng năm 1971 được nêu ra trong Hashish Smuggling and Passport Fraud: the Brotherhood of Eternal Love. Điều trần trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administeation of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Hoa Kỳ Nhiệm kỳ 93, Khoá 1 năm 1973, Văn phòng Nhà Xuất bản Chính Phủ Mỹ 23-638 Washington: 1973, trang 80-83.

http://www.ebooksread.com/authors-eng/united-states-congress-senate-committee-on-the/hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin/1-hashish-smuggling-and-passport-fraud–the-brotherhood-of-eternal-love–hea-tin.shtmla

3627  Bản chụp trong phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 161.

3628  Martin Gansberg, “6 Are Seized Here As Bomb Plotters,” New York Times,  3 tháng 11 năm 1970, trang 1, 29.

3629  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976,  trang 312.

3630  CIA, FOIA, Family Jewels, trang 283.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #83”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #83 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: