Roger Canfield’s Americong #170

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 170

VVAW và Các Mặt Trận Cộng Sản:

World Federation  of  Democratic Youth 4920

tại Bá-linh và Gensuiko tại Nhật

 

Ở Đông Bá-linh, từ ngày 28 tháng 7 đến 4 tháng 8 năm 1973, khoảng 300 người Mỹ từ 30 tiểu bang cùng 500 khách khác đã đến tham dự lể hội World Federation  of Democratic Youth, WFDY (Liên Hội Thế Giới Tuổi Trẻ Dân Chủ), 4921 cũng được biết đến như là 10th World Festival of Youth and Students for Anti-imperialist Solidarity, Peace and Friendship (Liên Hoan Thế Giới Lần Thứ 10 của Thanh Niên và Sinh viên Đoàn Kết Chống Đế Quốc) tại Đông Bá-linh, Đông Đức. Đã có công bố là có cho tới 25.000 đại biểu đến từ cả 140 quốc gia.

Các đại biểu và khách mời đã được phục vụ rượu sang, heo  sữa quay và cả rượu sâm banh”. Craig Whitney của tờ New York Times có viết, “Kem, xúc-xích Đức ‘wursts’, gà lăn bột chiên, bia, và chanh ướp đắng đã không hề bao giờ thiếu”. 4922  Chi phí tự phải đóng cho mỗi đại biểu về cư trú, ăn uống kể luôn vé khứ hồi thì chỉ có 350 đô Mỹ thôi.

Tiền cũng đã được quyên góp để xây dựng bệnh viện Nguyễn Văn Trỗi tại Hà Nội. 4923  Các nhóm Mao-ít  và các nhóm không do Liên Xô bảo trợ khác đã không được mời và bị lờ đi (chẳng hạn như các phong trào giải phóng châu Phi). Các đại biểu Mỹ thì chủ yếu toàn là thành viên của CPUSA và của Young Workers Liberation League, YWLL (Liên Minh Công nhân Giải phóng kết của Mỹ) mà lại lệ thuộc  tụi WFDY của Liên Xô . VVAW và các nhóm phản chiến khác đều đã có mặt.

Hội nghị American Youth Festival Conference (Hội nghị Liên Hoan Thanh Niên Mỹ) đã được bảo trợ bởi nhiều lãnh tụ chính thức công khai của đảng Cộng sản Hoa Kỳ  ~ CPUSA (Henry Winston, William L. Patterson, Charlene Mitchell, Jon Pittman, Jarvis Tyner, Carl Bloice, Angela Davis, Jose Stevens) và các thành viên CPUSA từng chỉ được nhận dạng thôi (Jesse Gray, Esther Jackson, Victoria Stevens) hay tay ủng hộ  Câu lạc bộ DuBois là Carlos Russell.  4924 Cũng bảo trợ thì cũng đã có mục sư Ben Chavis, Carlos Feliciano, mấy tên chuyên viên bợ đít các mặt trận Liên Xô Ossie Davis, Ruby Dee và Joe Walker, , International Organization of Journalists (Tổ chức Quốc tế các Phóng viên).  4925  Bọn Mỹ Matty Berkelhammer, Naomi Chesman  4926  và tay  nhân chủng học giảng viên tại Harlem Institute of Marxism Studies (Viện Nghiên cứu Harlem chủ nghĩa Mác), 4927 cùng tên Leith Mullings của YWLL cũng đã từng làm việc nhiều năm trong cái ủy ban chuẩn bị cho việc này. 4928  Stoney Cooks, một tên từng tham dự tại Bratislava trong năm 1967, thì làm việc trong ủy ban chuẩn bị Đông Bá-linh thường tụ họp tại văn phòng của Mặt Trận Thanh Niên đảng CS Mỹ. 4929 Richard Bangert của VVAW, St Louis, đã là phát ngôn nhân chính thức của VVAW. Sam Schorr của VVAW cũng đã có hiện diện tại Đông Bá-linh.

Đảng CS Mỹ đã luôn luôn tuân thủ nghiêm ngặt lập trường của Liên Xô về vấn đề  đấu tranh giải phóng, cũng như các tổ chức Cu-ba  như là  Organization of Solidarity With the Peoples of Asia, Africa and Latin America (cũng có tên là Tri-Continental Congress).

Các đại biểu khác của Mỹ đã là: Robert Diaz, tên giữ kho Los Angeles;  Maria Elena Gaitan của  United Defense Against Repression (Liên minh chống Áp bức); Tony Herman, tài xế taxi Alabama; Maggie Block của PCPJ; Tim Brich của People’s Action Union (Liên minh Nhân dân Hành động); Judy Simmons của  Southern Conference Education Foundation (Quỹ Hội nghị Giáo dục miền Nam); Joe Rhodes, dân biểu Hạ viện Pennsylvania; Mary Clemons và Jeanne Woods, nhân viên chăm sóc trẻ ở Philadelphia; và Linda Weber, bồi bàn tại Colorado. 4930

Tại buổi liên hoan trong tháng 8 thì đảng CS Mỹ đã hứa sẽ “đoàn kết với các phong trào giải phóng dân tộc” hơn trong Đệ Tam Thế Giới, đặc biệt là với Việt Nam mà đã có phái đoàn đi dẫn đầu cuộc diễn hành vào ngày đầu tiên. 4931 Toàn thề đã cùng tôn kính Angela Davis, kẻ đã khen ngợi “sự thống nhất trong phong trào phản đế  mà đã đánh bại chủ nghĩa đế quốc ở Đông Dương”. 4932

image003

 Hình: Đông Đức đoàn kết với Hà-nội

 

Một thành viên VVAW, có lẽ là Joe Bangert hay Sam Schorr, cũng đã chứng tỏ tình đoàn kết của mình với Khối Liên Xô. Tùy viên Legal  FBI tại Bonn, Đức đã có chuyển tiếp một bản sao của một tài liệu mà thành viên VVAW đã từng gửi đến “một cơ quan chính phủ khác, mà đang tiến hành điều tra về tình báo”,  4933 rất có thể là KGB hay bọn Stasi Đông Đức đồng môn.

Đám Mỹ lại gặp bọn đại diện Bắc Việt và Trung Cộng cũng có tới cùng tham dự. 4934  Lê Phương, trưởng đoàn Việt cộng miền Nam đã thúc dục phải “phóng thích các tù chính trị (của Sài Gòn). Giáo sư Hàn Hiếu thì cáo buộc Hoa Kỳ và Sài Gòn đã cùng nhau vi phạm hiệp định Paris. Lê Bá Tuyên, trưởng đoàn Hà Nội, thì lên tiếng để mô tả một vụ mùa thành công và về trẻ em tới mùa tựu trường.

Nguyễn Đức là một phi công từng tuyên bố đã bắn rớt tới sáu chiến đấu cơ F-4 Phantom (10% trong số 61 chiếc bị bắn hạ do không chiến suốt thời gian chiến tranh). Đinh Thị Thu thì cho biết y thị đã bị chôn vùi cho tới bốn lần trong các vụ không tạc. 4935 Lô Thị Liên, kẻ được cho biết là người sống sót duy nhất trong vụ Mỹ Lai, đã thật sự gây ấn tượng nơi Angela Davis khi y thị biểu lộ tinh đoàn kết của mình với nhân dân Mỹ. Davis đã kêu gọi phải phóng thích tù chính trị ở Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. 4936 Hoàng tử Souphanouvong của Mặt trận Yêu nước Lào thì ca ngợi “chiến thắng” của các hoà ước.

Các nhạc sĩ Mỹ thì cùng được khen ngợi cho cái đặc tính hài hòa trong nghệ thuật của họ khi chuyển mang các thông điệp chính trị, 4937  như “Joe Hill”, “I ain’t Got No Home ~ Tôi Sẽ Không Về Nhà Được” và “Where Have All the Flowers Gone ~ Hoa Đâu Mất Hết Rồi”.  4938

Đặc biệt rất bị ảnh huởngt bởi các cuộc họp với Việt cộng và Đông Đức là Karen Ackerman, một chuyên viên tổ chức của phân bộ Local 1199 tại Philadelphia, mà đã thú nhận là buổi Liên hoan đã giúp:

“chúng tôi  hiểu rỏ những gì chủ nghĩa đế quốc đã gây ra cho phần còn lại của thế giới. Chúng tôi bị xuống tinh thần khi đang đấu tranh tại Mỹ, nhưng khi chúng tôi thấy được những gì các kẻ khác đang chiến đấu chống lại và các chiến thắng mà họ đã từng dành được thì điều đó đã giúp chúng tôi thêm cường lực”.

Liên đoàn Thanh niên thì cung hiến cái chiến lược để thi hành bên trong nước Mỹ:

Phong trào sẽ tập trung vào kẻ thù chính …  nhà nước độc quyền tư bản Mỹ … nền tảng của chủ nghĩa đế quốc Mỹ … Sự hỗ trợ của Quốc tế cho châu Phi sẽ hợp nhất với các cuộc đấu tranh chống độc quyền ngay ở đây tại quê nhà.

Được yêu cầu để đáp ứng với Tenth World Festival (Liên Hoan Thế giới lần thứ X)  được tổ chức ở Đông Bá-linh vào cuối tháng 7, một tên đồng minh của Hayden là  Al Dortsch đã bảo trợ tổ chức National Anti-Imperialist Conference in Solidarity with African Liberation ~ NAICSAL (Hội nghị Quốc gia chống Đế quốc Đoàn kết với Phong trào Giải phóng châu Phi ) từ 19 đến 21 tháng 10 năm 1973 tại Chicago. Franklin Delano Alexander, thành viên của Hội đồng Quốc gia của đảng CS Mỹ đã chủ trì hội nghị Chicago này.  4939

Sau buổi liên hoan tại Đông Bá-linh thì nhiều tên Mỹ bèn rủ nhau tham gia một “Great Tour ~ Chu Du” xuyên qua Moscow, Kiev, Leningrad, Odessa để về lại Moscow,  từ 8 đến 26 tháng 8 năm 1973. 4940

Từ 2 dến 15 tháng 8 năm 1973 thì Gensuiko, một mặt trận cộng sản, đã bảo trợ một hội nghị ở Nhật Bản. Thành viên VVAW [bị kiểm duyệt]  có tham dự. Bọn VVAW đã tăng cường nhân viên và dịch vụ tại Nhật Bản hầu cộng tác chặt chẽ với các hiệp hội đang ‘tàn lụn’ là Pacific Counseling Services (Dịch vụ Tư vấn Thái Bình Dương) và National Lawyers Guild (Hiệp hội Luật sư Quốc Gia), “y như một lon đầy sâu bọ, chúng dùng chung văn phòng và sinh hoạt chung, hội họp chung, và cùng nhau xuất bản các ấn phẩm”.  Thật vậy, VVAW / NLG đã mở năm trung tâm, New People’s Center tại Yokosuka, People’s House, United Front và Women’s House tại Okinawa, và Semper Fi House  ở Iwakuni, nơi chúng phổ biến sách báo chống chủ nghĩa đế quốc và tìm cách làm suy yếu tinh thần của quân đội Mỹ. 4941 Loại Trung tâm Nhân dân này đã tổ chức mời một số lớn cá nhân và tổ chức cấp tiến Nhật Bản mà đang mưu tìm một cuộc cách mạng cộng sản và loại bỏ các lực lượng Hoa Kỳ ra khỏi Nhật (đặc biệt là Đệ Thất Hạm Đội, các hàng không mẫu hạm và chiến hạm chạy bằng hạch tâm) cùng tuyển mộ các quân nhân hiện dịch để dùng cho những hoạt động gọi là cấp tiến, kể cả làm gián điệp. 4942

VVAW biến dạng thành Tổ Chức Quốc Tế tại St. Louis

Từ 23 đến 27 tháng 8 năm 1973, gần 70 thành viên của VVAW từ 15 tiểu bang đã tề tựu về Ban chỉ đạo Quốc gia ở St Louis, Missouri. Các cuộc thảo luận là nhằm tuyển dụng các quân nhân GI tại các căn cứ ở ngoại quốc và phát hiện rồi phá nhiễu hệ thống theo dõi điện tử của Mỹ.

Barry Romo bèn đọc một bức điện của một vị Tướng Campuchia nhằm “cảm ơn nhân dân Mỹ và VVAW đã … chận đứng được không kích tại Campuchia. … Cứ tiếp tục tốt như vậy đi”.  4943 Romo đã từng  giao tiếp với chính phủ ma Campuchia của Norodom Sihanouk mà đã bị lọt nằm dưới sự kiểm soát của Khmer Đỏ vào tháng 5. Bọn Khmer Đỏ, từng sát sinh tới hai triệu người , thì đã sẽ không bao giờ được tưởng nhớ đến với những thiện tâm của chúng. Bill Hager thì đã phản đối chiều hướng thiên Mác-Lênin của VVAW Quốc gia do Sam Schorr và  Brian Adams của Lữ đoàn Venceremos đại diện. Và do đó thì Bill Hager đã sẽ không còn tương lai tốt về chính trị nữa đối với chúng. 4944

VVAW Bảo Vệ cho Đám Sinh Viên Việt Đang Sắp Bị Trục Xuất

Trong tháng 9 năm 1973,  VVAW đã hỗ trợ cho bảy sinh viên Việt đang hưởng học bổng 5 năm của USAID  mà đang sẽ phải ra trước một phiên điều trần để sẽ bị trục xuất của Immigration and Naturalization Service, INS (Cơ quan Nhập Cư và Nhập tịch).  Các sinh viên này đã cùng 14 tên khác đồng ký một thư phản đối mang tới giao cho tòa Tổng lãnh sự Sài Gòn ở San Francisco. Chúng đã là Bùi Văn Đào ~ 25 tuổi, Đoàn Thị Nam Hậu ~  25 tuổi, Cao Thị Mỹ Lộc ~ 25 tuổi, Nguyễn Hữu An  ~ 26 tuổi,  Nguyễn Hoàng ~ 31 tuổi, Vũ Ngọc Côn ~ 26 tuổi, Nguyễn Đặng Yên Trúc ~  24 tuồi, đã từng chống cuộc chiến tranh và chống chính sách gọi là đàn áp của Thiệu.  4945 *

 

image006 

Hình: 7 sinh viên miền Nam với học bổng USAID phản bội quê hương (VVAW, Winter Soldier, Bộ 4, Số 8, Tháng 9 và 10 Năm 1974, trang 5)        *

 VVAW đã từng cộng tác tại Orange County, California với Vietnamese Students For Peace (Sinh viên Việt Nam vì Hòa bình)  ít nhất là từ năm 1972, 4946 nơi mà Phạm Xuân  Ẩn, “The Perfect Spy” trước đó đã làm bạn thân với các tay gọi là kiên cường của Đảng Cộng hòa là Pete Conaty và Ross Johnson. 4947

Vào tháng 10 thì Union of Vietnamese in the U.S. (Hội Việt kiều ở Mỹ) sẽ đồng bảo trợ với tụi ​​IPC một sáng kiến nhằm đoàn kết lại các nhóm phản chiến trong mục đích để hạ bỏ chế độ Thiệu và bảo đảm cho một chiến thắng cộng sản. Tại Los Angeles, Hồ Hàm của Vietnamese Union of Students in the U.S (Liên minh sinh viên Việt Nam ở Mỹ) đã lên tiếng tại một cuộc biểu tình của 500 tên mà đã có sự tham gia của 50 thành viên của Nguyen Van Troi Anti-Imperialist Brigade (Lữ đoàn Nguyễn Văn Trỗi chống Đế quốc). Các tay mà không hề  nói được tiếng Việt đã là Tiến sĩ Steven Fritchman, Tom Zagrilli, Ron Kovic, George Beaumont và mục sư Al Dortch. 4948 Cái phong trào sinh viên Việt thiên Hà Nội  tại Hoa Kỳ này có lẽ đã còn gian dối hơn là cả hàng trăm thành viên VVAW đối với hơn 2 triệu cựu chiến binh Mỹ của trận chiến Việt Nam. Ngược lại thì đã có rất là ít sinh viên Việt Nam chịu dấn thân, mà nếu có thì cái thiểu số đó cũng đã phải được trợ cấp rất nhiều bởi các chính phủ Mỹ và Nam Việt Nam.

Ngô Vĩnh Long

Ngô Vĩnh Long, một sinh viên tại Harvard, bằng một cách nào đó đã  có thể tự tài trợ để cùng đi lung tung khắp nơi với Noam Chomsky và Howard Zinn trong các chuyến gọi là ‘học tại chổ ~ teach-in’ với tư cách là đại diện cho hình ảnh của một thanh niên Việt Nam, và cũng để có xuất bản cái tờ tin sinh viên Việt Nam được phân phối rất là rộng rãi, đó là tờ Thời Báo Gà, trong sáu năm, và điều khiển Vietnam Resources Center (Trung tâm Tài nguyên Việt Nam) 4949 để phổ biến mọi chính sách của Hà Nội về mọi vấn đề. 4950 Tên Long rồi sẽ được giới thiệu như chỉ là một cá nhân thường mà thôi, 4951 rồi sẽ xuất hiện với tư cách là một thông dịch viên cho bộ truyền hình Vietnam a Television History thiên Hà Nội của PBS vào tháng  10 năm 1983. Các người tỵ nạn từ miền Nam Việt Nam đều đã tức giận tố cáo tên Ngô Vĩnh Long này chỉ là một thằng cộng sản mà thôi. 4952

Trong năm 1969 thì Đoàn Văn Toại, một sinh viên Nam Việt từng đã đi vòng các đại học Mỹ với tư cách là Phó Chủ tịch của Liên minh Sinh viên Sài Gòn  hầu tố cáo chế độ Thiệu. Từ 21 đến 24 tháng 7 năm 1972,  bọn VVAW nhân cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia của chúng ở Milwaukee đã đồng ý để sẽ giúp đở các sinh viên Việt Nam đang theo học với học bổng USAID mà đang bị đe dọa sẽ bị trục xuất về nước vì tội phản chiến. Nhưng chúng chỉ là một thiểu số mà thôi. Mãi cho tới năm 2008, hầu hết các tổ chức Việt Nam ở Mỹ vẫn còn cương quyết tranh đấu để được treo cờ VNCH tại các đại học, mãi 33 năm sau khi miền Nam đã bị thua trận.

Trong khi đó, các hoạt động của FBI trên mặt trận thứ hai nhằm chống lại bọn VVAW thì lại đã đang thất bại.

*****

4920  Tin thư Toàn quốc VVAW, (không ngày tháng), trang 22.

4921  Như trên.

4922  Craig R. Whitney, “East Berlin is Summer Festival”, New York Times, 6 tháng 8 năm 1973.

4923  Margrit Pittman, “An Interview With Leith Mullings”, World Magazine, 31 tháng 3 năm 1973.

4924  Điều trần về các hoạt động nhằm lật đổ chính phủ dính líu tới vụ bạo loạn phá Đại hội Quốc gia đảng Dân chủ  năm 1968, Phần 1, 1 tháng 10 năm 1968, trang 2301.

4925  “Angela Davie to head youth festival delegation”, Daily World, 5 tháng 4 năm  1973.

4926  “10th world fete of youth set for Berlin in 1973”, Daily World, 11 tháng 2 năm 1972.

4927  Leith Mullings, “Leith Mullings to talk about Africa at monthly Forum in New Haven”, Daily World, 12 tháng 5 năm 1973.

4928  Margrit Pittman, “An Interview With Leith Mullings”, World Magazine, 31 tháng 3 năm 1973.

4929  Organizational Trends, Bộ 1, Số 1, Số Tháng 7 Năm 1984.

4930  J.J. Johnson, “10th World Festival of Youth and Students, New York”, Ủy ban Chuẩn bị, 28 tháng 7 đến 5 tháng 8 năm 1973.

4931  “Youthfest in Berlin”, Time , 3 tháng 8 năm 1973.

4932  Beatrice Johnson và J.J. Johnson, “Youths’ liberation rally at world fete hails Angela”, Daily World, 3 tháng 8 năm 1973. 

4933  FBI, Tùy viên Legal Bonn gởi cho Giám đốc, VVAW cũng như là VVAW, Inc VVAW/WSO SM-RA, 9 tháng 8 năm 1973; Có thể dính líu với việc phản gián Quân đội truy tìm liên hệ giữa Mỹ kiều với các gián điệp ngoại quốc như trên tờ New York Times vào tháng 7 đã có tường thuật trong “Americans Spying On The U.S.”, Tactics, Phân tích Tin Tức News Analysis, 20 tháng 8 năm 1973, trang 1.

4934  FBI, Milwaukee gởi cho Giám đốc Đưong nhiệm, VVAW/WSO IS-RA, NITEL 04:40 PM, 27 tháng 4 năm 1973; FBI MI 100-15674, 3 tháng 4 năm 1973; VVAW Tin thư Toàn quốc, bản lý lịch của Sam Schorr.  

4935  J.J. Johnson và Beatrice Johnson, “Youth at festival pledge solidarity with Vietnamese”, The Daily World,  29 tháng 7 năm 1973.

4936  Tass, “Angela Davis sees advance in world anti-imperialist front”, Daily World, 4 tháng 8 năm 1973.

4937  Beatrice Johnson và J.J. Johnson, “World youth express sorrow at death of Walter Ulbrict”, Daily World,  7 tháng 8 năm 1973.

4938  “Songs cross barriers at world youth fete”,  Daily World,  7  tháng 8 năm 1973.

4939  Ủy ban Hạ viện vế An Ninh Quốc nội, Terrorism, (1974), trang 77-80.

4940  “Great Tour”, Daily World, 31 tháng 7 năm 1973, trang 11.

4941  FBI, Los Angeles, LHM, 30 tháng 7 năm 1973; FBI, Legat Tokyo gởi cho Giám đốc, PCS, VVAW, NLG, 2 tháng 8 năm 1973; FBI, Legat Tokyo gởi cho Giám đốc, PCS, VVAW, NLG, 31 tháng 10 năm 1973.

4942  Benjamin M. Hamilton, COLIFAM, MI, “Inauguration of VVAW New People’s Center, Yokosuka, Japan, 500th MI gp”, 27 tháng 8 năm 1973.

4943  FBI, [BỊ KIỂM DUYỆT] gởi cho Giám đốc, Phiên họp VVAW/WSO National Steering Committee Meeting, St. Louis, Missouri, 6/23-27/73, IS-VVAW-WSO, TELETYPE, 12:35 PM, KHẨN, 31 tháng 8 năm 1973; FBI, St. Louis gởi cho Giám đốc, Phiên họp VVAW/WSO National Steering Committee Meeting, St. Louis, Missouri, 6/23-27/73, IS-VVAW-WSO, TELETYPE, 11:20 PM, NITEL, 27 tháng 8 năm 1973. 

4944  FBI, [BỊ KIỂM DUYỆT] gởi cho Giám đốc, VVAW/WSO; IS-RA, TELETYPE, 11:14 PM, NITEL,  19 tháng 9 năm 1973.

4945  VVAW, Winter Soldier (không ngày tháng) vào độ Tháng 9 Năm 1973.

*        VVAW, Winter Soldier, Bộ 4, Số 8, Tháng 9 và 10 Năm 1974, trang 5 (phụ đính của người chuyển ngữ) tại www.vvaw.org/pdf/v4n8.pdf

4946  “WE ARE EVERYWHERE,’ The 1st Casualty, Bộ 2, Số 1, Tháng 7 Năm 1972.  

4947  Peter Conaty và Ross Johnson, bạn của tác giả trong Quốc hội Tiểu bang California.

4948  “Vietnam students in rally in L.A.”, Daily World, 24 tháng 10 năm 1972.

4949  Chris Norlund, “The First Vietnamese to Attend Harvard”, Migration Letters, Bộ 2, Số 1, trang 78-9.

4950  Đê điều bị dội bom, Hóa chất Da cam, Việt Cộng.

4951  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Publications, 1984, trang 295.

4952  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Publications, 1984, trang 15.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #170”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #170 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: