Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ #3

Đệ Ngũ Quân Đoàn

Với Các Con Ngựa Gổ Thành Troy

Của Tàu Cộng Tại Mỹ

 *****

Roger Canfield’s China’s Trojan

  

image001

China’s Trojan Horses

Red Chinese Soldiers, Sailors, Students, Scientists and Spies Occupy America’s Homeland

Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ

Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng

với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield

 

Xuất bản bởi:

Published by Military Magazine, 2002

2120 28th Street, Sacramento, CA 95818

Copyright© 2002 by Roger Canfield and Military Magazine

$15.00

ISBN 0-9705206-1-1

 Cũng có thể mua trực tiếp ấn bản dưới dạng PDF

ngay từ tác giả TS Roger Canfield với giá 9.95 $US tại

http://www.americong.com

 

*****

Các tác phẫm khác của Roger Canfield:

 

  • China Doll: Clinton, Gore and the Selling of the U.S. Presidency

705.000 ấn bản (viết chung với Richard A. Delgaudio)

 

  • China Traders: Assessing the Legacy of Clinton-Gore’s

Appeasement Policy…

 

  • Stealth Invasion: Red-Chinese Operations in North America

Trên 600.000 ấn bản

 

  • What Red China Got For Its money — Why Did the People’s

Republic of China Invest in the 1996 Reelection Campaign

of President Bill Clinton?

(viết chung với Richard A. Delgaudio)

 

  • Black Ghetto Riots and Campus Disorders

 

*****

 ĐIỂM SÁCH:

1/

Về tác phẫm Stealth Invasion (với trên cả 300.000 ấn bản đang luân hành):

“ . . . Cái gọi là ‘Xâm Lăng Tàng Hình bởi Tàu Cộng ~ Stealth Invasion’ [là] gian dối và không có căn bản . . . phi lý . . . một trò hề . . . ”

Wang Yunxiang, Tổng Lãnh sự, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

“Sau khi đã từng sống và làm việc tại Trung Hoa lục địa / Đài Loan trong nhiều năm dài, quả thật đã chưa từng hề có được một công trình quá ư là đúng đắn hơn sách này mà đã từng được viết ra . . . ”

Jeffrey Caddel, Cố vấn về An ninh Quốc gia, Quốc hội, Canadian Alliance.

“Tuyệt . . . Chuyên viên quốc tế về nan đề này. Một công trình nghiên cứu tìm tòi không thể tưởng tượng nổi. Một miêu tả khách quan về mối hiểm họa từ Tàu cộng”.

Brian MacAdam, tác giả của Mounties Sidewinder , bản tường trình về sự kiện Tàu cộng do thám tại Canada.

“Một tiếng chuông báo động . . . Mọi công dân Mỹ đều cần phải đọc”.

Clive Cussler, tác giả rất thành công về loại tiểu thuyết phiêu lưu và cũng là người đã tìm ra được chiếc tàu ngầm Hunley của Confederate Army (Quân đội Liên Minh Mỹ) thời Chiến tranh Nam Bắc phân tranh Hoa kỳ.

“Thật quả là đánh động vào tâm can”.

Vic Rollandi, Sĩ quan Trừ bị Hải quân, Văn phòng Tình báo Hải quân.

“Đích xác . . . và luôn luôn lôi kéo người đọc”.

Sonny Fong, Chuyên viên  về an ninh.

“Gián điệp Tàu cộng thì vẫn đầy dãy khắp nước Mỹ . . . FBI và CIA đều biết việc này. Đó cũng chỉ là một bí mật công khai”.

Harry Wu, nhà kêu gọi bảo vệ nhân quyền.

“Quả quá ư là đáng sợ . . . Xin Chúa bảo hộ ông”.

Jane Russell, tài tử nổi danh và ái quốc.

2/

Về tác phẫm viết chung với Richard Delgaudio China Doll (với trên cả 700.000 ấn bản đang luân hành):

“Xin có lời ngợi khen . . . ông quả thật là một người yêu nước và một công dân Mỹ xứng danh”.

Thẫm phán William P. ClarkTrưởng Ban Tham Mưu và Cố vấn về An ninh của Tổng Thống Ronald W. Reagan.

“Xin hãy tiếp tục công trình đáng nể này”.

Johnny Chung, từng bị tuyên án trong vụ Chinagate, một nhân chứng của Chính phủ và cũng là một người quay trở lại thành ái quốc.

3/

Về tác phẫm What Red China Got for its Money:

“Bài ngoại, đầy mùi kỳ thị . . . Đổ ngược lổi về Tàu cộng”.

Robert Gunnison, San Francisco Chronicle.

4/

Về chính tác giả Roger Canfield:

“Chúng tôi . . . mang ơn các cố gắng của ông nhằm chiến đấu chống Cộng sản, cùng giúp chúng tôi tái lập lại nền dân chủ ở Nicaragua”.

Luis Wong, Đại sứ Nicaragua tại Cộng Hòa Trung Hoa tự do [Đài Loan].

*****

 Tôi xin kính tặng tác phẫm này để tưởng nhớ

 

Thân Phụ,

 

Trung sĩ Hải quân Roger ‘Red’ Canfield (đã về hưu)

người từng dẫn đầu một toán cấp cứu

lên một tàu chở dầu Anh quốc tại Thái-bình-dương

để chữa lữa cứu tàu, rồi sữa chữa các nồi súp-de

“một cách nhanh chóng và chính xác”

sau trận Pearl Harbor,

người từng tham dự mọi trận hải chiến thời Thế Chiến II

và đã từng đóng quân phục vụ tại Nước Nhật bị thua trận,

trong quan niệm vẫn kính nể kẻ thua trận và trong danh dự.

 

Thân Mẫu,

 

Ilene Mae Spradlin Canfield,

người tại Pearl Harbor mà mãi tới năm 1945,

vẫn cắt và giữ trong một quyển vở nháp học trò

mọi bản tin trên báo chí trong suốt Thế Chiến II

mà có liên quan đến chiến hạm USS Saratoga (CV-3)

cho đức con trai để một ngày nào đó,

con mình rồi sẽ  nhận thức được

 thế gian này là một nơi chốn qúa ư là nguy hiểm.

Bà ta đã ra đi lúc chỉ mới 25 tuồi đầu,

và đã từng là một người rất hiểu biết nhưng ít được ai biết tới.

 

 

Bạn tôi,

 

Michael Mark, Trung Tá Bộ Binh (đã về hưu),

với các huy chương Combat Infantry Badge,

Bronze Star, Valor Viet-Nam

Và Chủ bút tờ Military Magazine, 1988-2000

***** 

 Bức thơ gởi TS Canfield,

dấu bưu điện ngày 22 tháng giêng năm 2002

 image002

 

Tổng Lãnh Sự Quán Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

1450 Laguna Street, San Francisco, CA 94115

TS Roger Canfield

Giám Đốc Điều Hành

U.S. Intelligence Council

P.O. Box 919

Frederick, MD 21705

 

Kính thưa TS Canfield:

 

Gần đây tôi được biết là ông đang thu thập chữ ký cho một kiến nghị để gởi đến Quốc hội Mỹ, liên quan đến cái gọi là “cuộc xâm lược tàng hình” của “Trung Cộng”. Sau khi đọc lá thư đó do người bạn của tôi đưa cho, tôi không thể nào không viết thư này để gởi đến ông hầu bày tỏ sự bất mãn của tôi và cũng muốn làm sáng tỏ vài vấn đề.

Các cáo buộc của ông về Cosco và Trung Quốc, nói chung đều là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ. Thậm chí trong thư của ông, tôi cũng đã không tìm thấy được bất kỳ bằng chứng nào nhằm biện minh cho lời buộc tội của ông. Tôi thực sự không tin là sẽ có ai mà chịu đi tin câu chuyện ngớ ngẩn này. Tôi không biết vì sao ông lại cảm thấy Trung Quốc như là kẻ thù của Hoa Kỳ, nhưng tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ một số quan điểm của tôi về quan hệ Trung-Mỹ.

Các quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã được phát triển một cách đáng kể từ khi quan hệ ngoại giao hai nước đã được thiết lập vào cuối năm 1970. Chuyến thăm Trung Quốc sắp tới của Tổng thống Bush trong năm nay sẽ tăng cường thêm các mối quan hệ của chúng ta. Kể từ biến cố 11 tháng 9 của năm ngoái, Trung Quốc đã trở thành một đối tác quan trọng của Hoa Kỳ trong công trình chiến đấu chống khủng bố và bảo vệ hòa bình thế giới. Trên mặt trận kinh tế, Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế của chúng ta sẽ được càng mở rộng và củng cố thêm sau khi Trung Quốc đã gia nhập vào WTO trong năm ngoái. Nền kinh tế của hai nước chúng ta đều cùng có tính cách cực kỳ bổ sung lẫn nhau. Việc giao thương với Trung Quốc rất có lợi cho khách hàng Mỹ, nhờ giá thấp của các mặt hàng thường dung, mà cũng giúp cung cấp việc làm cho cả hàng chục ngàn công nhân Mỹ, nên tôi nghĩ rằng đa số người Mỹ sẽ không hề xem các mối quan hệ thương mại đang được khuếch trương với Trung Quốc, mà theo đó, Công ty China Ocean Shipping đã từng chu toàn vai trò của mình, lại là một mối đe dọa cho Hoa Kỳ được.

Lời cáo buộc của ông về hành vi gián điệp của Trung Quốc đã khiến tôi nhớ lại vụ “Wen Ho Lee”, mà đã từng được chứng minh sau đó chỉ là một trò hề thôi. Một số người ở Hoa Kỳ đã luôn luôn muốn đưa ra, hoặc thậm chí tạo ra một số vấn đề để chống Trung Quốc, vì hiểu lầm, hay vì những ý đồ xấu xa. Nhưng một lời nói dối, nếu cứ bị lặp đi lặp lại hàng ngàn lần, thì sẽ trở thành sự thật thôi. Tôi chắc chắn là hầu hết người dân Mỹ đều sẽ có một cái nhìn minh mẫn về vấn đề này và cũng sẽ hỗ trợ cho một tiến trình phát triển hữu lý và lành mạnh trong quan hệ Trung-Mỹ, một điều cần thiết cho lợi ích chung của hai quốc gia chúng ta và cả cho thế giới nói chung.

Trân trọng,

Page-4-Image-1

 

 

 

Wang Yunxiang

Tổng Lãnh Sự

*****

 image003

 

 

Đừng nghe, Hãy nhìn kỷ.

Michael Pillsbury, nói về

Đặng Tiểu Bình và Mao Trạch Đông

 

*****

Nội Dung

 

Lời Nói Đầu – Các Con Ngựa Gổ Thành Troy Của TC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9

Ăn Nói Cẩu Thả Đủ Làm Đắm Tàu: Cuộc Sống Sau Khi An Ninh Quá Sức Là

Bê Bối  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .        12

Hoa Kỳ Chào Đón: Binh Sĩ, Thủy Thủ . . . Gián Điệp TC  . . . . . . . . . . . . . . .    26

Quân Đội CS Chơi Trò Chiến Tranh tại Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32

Cuộc Xâm Lược Tàng Hình: Các Chiến Dịch Của TC Tại Bắc Mỹ . . . . . . . . .     40

Mổi Hải Cảng Mỹ Đều Hiện Diện Một Thủy Thủ TC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  .   48

COSCO tại các Hải Cảng Thái Bình Dương — Long Beach, Los Angeles,

Portland-Vancouver, Seattle-Tacoma và Vancouver, B.C . . . . . . . . . . . . .  68

COSCO tại các Hải Cảng Vùng Vịnh — Houston and New Orleans  . . . . . . .  86

COSCO tại các Hải Cảng Đại Tây Dương — Miami, Savannah, Charleston,

Norfolk, New York, Halifax . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . 90

CHNDTQ nhắm Vào Sinh Viên và Khoa Học Gia tại Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . 106

Gián Điệp TC… bọn Thương Gia Tàu Đang Sinh Sống tại Mỹ . . . . . . . . . . .     116

Tố Cáo — Gián Điệp và bọn Gây Ảnh Hưởng cho TC . . . . . . . . . . . . . . . . . .       130

Việc Tái Lập An Ninh Hiến Định cho Hoa Kỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .     168

TÁI BÚT — Sau 11 Tháng 9 năm 2001 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .   174

Phụ Lục A — Các Tàu của COSCO Đăng Bộ Tại Các Hải Cảng Mỹ . . . . . . . .      192

Phụ Lục  B — Các Hải Cảng về ‘container’ Mỹ theo Khả Năng Cất Dở Hàng Hóa,

1995-97 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .       195

Phụ Lục   C — Đánh Giá về An Ninh của các Hải Cảng, 2000 . . . . . . . . . . . .    196

Phụ Lục   D — Trân Châu Cảng: Phần Sau của Câu Chuyện. . . . . . . . . . . . .    199

Mục Lục . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .    202

Vài Nét về Tác Giả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .216

***** 

Lời cảm tạ

 

Tác giả đã phải bỏ ra cho tới sáu năm trời để tìm tài liệu và nghiên cứu các tài liệu công khai cùng các hồ sơ của Trung Hoa và Mỹ từng bị tiết lộ trên các nhật báo, hay qua các bản tin được đánh gởi đi, cùng nhiều ấn bản khác. Tuy là các phân tích và ước lượng về tình báo là của tác giả, nhưng tác giả cũng đã phải căn cứ rất nhiều vào các sự kiện chính yếu cùng các quan điểm trên thực tế của những người khác như là: Bill Rood, Bill Gertz, Richard Fisher, Gary Milhollin, Kenneth Timmerman, Al Santoli, Michael Pillsbury, Steven Mosher, Jasper Becker, Edward Timperlake, William Triplett, Joe Farah, Charles Smith, Jon Dougherty, Sally Foster, Gordon Chang, Philip Yang, Willy Lam, Chris Cox, Tom Tancredo, Bob Barr, Duncan Hunter, James Inhofe, Jesse Helms, Dana Rohrabacher, Paul Sperry, Mike Waller, Ken Puckett và cũng như của nhiều người khác mà đã được viện dẫn cùng nêu tên trong sách này.

Công trình này đã được hoàn thành với sự khuyến khích cùng tài trợ đến từ cả hàng ngàn người mà đã cùng nhau đóng góp những khoản tài chánh nho nhỏ cho United States Intelligence Council ~ USIC (Hội Đồng Tình Báo Hoa Kỳ) và cũng từ Armond Noble, người xuất bản sách này và tạp chí Military Magazine. Tôi cũng xin cảm ơn Chủ tịch của USIC là Richard A. Delgaudio, người đã chấp thuận để tôi được phục vụ với tư cách là Giám đốc Điều hành của USIC và cũng là đồng tác giả của báo cáo What Red China Got For Its Money (Trung Cộng Đã Có Được Gì Sau Khi Trả Tiền Xong) và đã cùng viết cuốn sách chung là China Doll (Búp bê Trung Hoa). Richard cũng từng chỉnh sửa tác phẫm Stealth Invasion mà USIC đã xuất bản. Trên một khía cạnh nào đó thì tác phẫm China’s Trojan Horses đã bổ túc thêm, cùng cập nhật hóa với những đề tài từng đã được đề cập đến trong các tác phẫm được nêu ở trên, cũng như trong quyển China Traders (Thương Nhân Trung Hoa) của tôi, mà cũng còn đi sâu thêm vào nhiều chi tiết hơn. Cuối cùng, USIC đã tài trợ cho công tác vận động hành lang tại Quốc hội về các vấn đề Trung cộng ở Washington, DC, cũng như các buổi thuyết trình trước những hội nghị bảo thủ và nhân các cuộc họp ở Washington, Los Angeles, Miami với Panama.

Armond Noble, ngoài việc xuất bản sách này, cũng đã giúp tôi cơ hội để đăng nhiều bài  trên Military Magazine về sự hiện diện của Trung Quốc tại Panama và trên toàn cầu. Hơn nữa, Armond và người bạn chung của chúng tôi mà cũng là chủ bút của tạp chí Military Magazine là Michael Mark, cùng tôi đã từng trải qua rất nhiều ngày giờ, đặc biệt là vào dịp Quốc Khánh 4 Tháng 7, để thảo luận về tương lai của Mỹ quốc trong một thế giới mà hiện nay đã trở thành quá ư là nguy hiểm. Debi Shank, chuyên viên thiết họa của tờ Military Magazine thì cũng đã từng bị phải kiểm qua quá ư là nhiều các bản thảo hơn là cô muốn hay nghỉ là hợp lý hơn! Tôi cũng xin cảm ơn cô và cả con gái tôi mà đã phụ trách về các bản đồ. Và, cuối cùng, cũng xin cảm ơn Cathy và Matthew Joyce đã thiết kế cho hình bìa.

Tôi xin cảm ơn bạn bè và các đồng nghiệp, những phóng viên dạn dày kinh nghiệm trên các đường phố đầy hiểm nguy ở Chicago, Baltimore, Managua và Sài Gòn, mà đã  từng giúp đở sửa bản thảo bằng khả năng nhạy bén của họ, bằng sự đa nghi có căn bản cùng một sự khoan dung rất là lịch sự đối với các quan điểm cứng rắn tuyệt đối của tôi. Cái nhóm thân hữu mà chỉ toàn là những người viết nghèo nàn này thì gồm có Armond, Pat Joyce và nhiều người khác. Họ nên được tha thứ cho vì đã chỉ lở dại giao du với tôi mà thôi.

Tôi cũng xin cảm ơn những người dân từng có đóng thuế của California mà đã thỉnh thoảng giúp cho tôi một công ăn việc làm qua ngày.

Với gia đình tôi, hiền thê Noel của tôi và các con của chúng tôi là Blaine, Carlton và

Alicia, tôi xin lỗi vì từng quá ư là đáng trách những khi bỏ bê không lo cho các con, cùng luôn cho những năm tháng dài đã để đầy, chất đống hồ sơ và tài liệu khắp mọi nhà mà chúng mình đã từng dọn qua tạm trú ở xuyên khắp lục địa.

 

— Roger Canfield

*****

TỐ CÁO

  Gián Điệp và Bọn Tâm Lý Chiến

của Tàu Cộng

ĐIỆP VIÊN VÀ ĐIỆP VỤ — TÓM ĐƯỢC 2 TÊN, CÒN 35 TÊN NỮA?

Trong bài viết trên tờ Washington Times dưới tựa đề The China Threat: How the People’s Republic Targets America, phóng viên chuyên đi bí mật điều tra làm phóng sự về đề tài an ninh quốc gia Bill Gertz, đã tiết lộ là ngay  từ thập niên 90, tình báo Mỹ cũng đã có biết rỏ là Tàu cộng đang có ít nhất là 37 điệp viên hoạt động ngay trong nội địa Mỹ. FBI đã từng tích cực bám sát tới cả sáu nhân viên tình báo Tàu cộng, chớ không chỉ là một tên thôi,  như là tên Wen Ho Lee, cái tên đặc biệt bị nêu tên mà từng tự bào chữa là chỉ vì lý do kỳ thị chủng tộc mà thôi.

Gertz có trích dẫn một báo cáo vào cuối năm 1998 của tình báo Mỹ với tựa đề “Foreign Collection Against  the Department of Energy: The Threat to U.S. Weapons and Technology ~ Sưu Tập Của Ngoại Quốc Chống Bộ Năng lượng: Mối Đe Dọa Đối Với Vũ Khí Và Kỹ Thuật Học Mỹ”. Báo cáo này đã mô tả các cố gắng tìm kiếm về những bí mật hạch tâm của Mỹ cùng thái độ cẩu thả về an ninh đang có ngay tại Bộ Năng lượng”. Cũng theo bản báo cáo này, thì Nga và Tàu cộng quả đã từng sử dụng các số lớn nhất về nhân viên tình báo, với 141 của Nga và 37 của Tàu cộng về số lượng sĩ quan tình báo của chúng.

Trung Quốc thì đã tập trung vào mục tiêu tìm cắp tài liệu về thiết họa vũ khí hạch tâm. Bài điều tra phóng sự cũng đã xác nhận đúng bản Báo cáo Cox, mà vẫn cứ thường bị chê trách, và đã tái khẳng định, “Nỗ lực này đã rất ư là thành công … Việc Bắc Kinh từng khai thác các phòng thí nghiệm quốc gia của Mỹ đã giúp đở rất đáng kể cho chương trình vũ khí hạch tâm của chúng”.  138

Gwo Bao Min — Phòng Bào chế Livermore Nuclear Lab

Gertz đã kể lại là trong những năm đầu thập niên 1980, Gwo Bao Min, một tên bị tình nghi là điệp viên chuyên đặctrách thu lượm tài liệu cùng tin tức về hạch tâm của Tàu cộng, đã bị Lawrence Livermore National Laboratory (Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore) sa thải. Min bèn trở thành đối tượng chính trong một điệp vụ phản gián của FBI gọi là “Tiger Trap ~ Bẫy Cọp”. Min đã bị tình nghi có cung cấp cho Tàu cộng các ‘khóa bí mật’ để vô được ngay đến địa điểm cất dấu các chi tiết tối mật về vũ khí hạch tâm của Mỹ.

Ngay trong khi đang bị điều tra, y đã nhận được một cú điện thoại từ tên Wen Ho Lee.  FBI, nhân khi đặt máy nghe lén, đã thu âm được là tên Lee này nhân đó đã có  hứa với tên Min là y sẽ tìm cho ra được, cũng như là công bố cái tên điềm chỉ nào đã từng phản bội tay Min.

Ấy vậy, dù Min đã từng có hành vi phản quốc liên quan đến các bí mật hạch tâm của quốc gia, mà cũng có thể đã làm tổn hại cho an ninh quốc gia như vụ cặp vợ chồng Rosenberg đã từng đánh cắp các bí mật về cái quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỷ, thì y cũng vẫn chưa bao giờ bị truy tố cả.

Larry Wu- Tai Chin — Điệp viên được gài ngay tại CIA

Larry Wu Tai Chin vốn chào đời ở Bắc Kinh, Trung Hoa lục địa. Bọn tình báo Cộng sản đã tuyển dụng Chin ngay khi y vẫn còn là một sinh viên, vào dạo đầu thập niên 1940. Từ năm 1943, y đã làm việc cho quân đội Mỹ ở Trung Hoa lục địa. Y đã gia nhập CIA vào năm 1952. Với tư cách là một chuyên gia về ngôn ngữ Trung hoa, trong suốt cả 30 năm trời, y đã từng là một điệp viên ‘mole’ được gài trong Foreign Broadcast Information Service ~ FBIS (Sở Thông Tin Hải Ngoại) của CIA.

Trong vòng suốt cà 20 năm trời, Chin vẫn đã cứ thường xuyên chụp và chuyển các bản báo cáo tối mật của CIA về châu Á,  nhân những lần tiếp xúc thường xuyên với bọn liên lạc viên Tàu cộng tại Toronto, Hong Kong và London.

Vào năm 1985, Yu Qiangshen, một sĩ quan tình báo của Bộ An ninh Nhà nước Trung Quốc đã đào thoát sang Mỹ. Chính Yu đã nhận dạng ra Chin là một tên gián điệp. Chin đã bị truy tố về 17 tội làm gián điệp. Tại phiên tòa, y đã thừa nhận trong vòng cả 11 năm trời là mình đã từng cung cấp các tài liệu cho Tàu cộng. Một bồi thẩm đoàn liên bang đã tuyên án xác nhận mọi tội mà Chin đã từng vi phạm. Chin đã tự sát trong nhà giam vào ngày 8 tháng 2 năm 1985, ngay vừa trước khi y sẽ bị tuyên án có tội.  139

Anne Henderson-Pollard — Điệp Viên Tình Nguyện

Anne Henderson-Pollard, vợ của tên gián điệp Do thái Jonathan Pollard, cũng đã  từng cùng chồng thu thập đến đầy cả một chiếc ‘va-li’ những tài liệu bí mật được sao chép từ nơi y thị đang làm việc là Naval Investigative Service (Sở Điều tra của Hải quân). Những tài liệu này liên quan đến đề tài khả năng quân sự của các quốc gia trên thế giới. Một tài liệu khác thì là bản đánh giá của Mỹ về các hoạt động tình báo của Tàu cộng tại Mỹ. Trong khi Jonathan Pollard từng đã nổi tiếng là một điệp viên của Do thái thì bà vợ Henderson-Pollard lại đã bị buộc tội có ý định bán tài liệu cho bọn gián điệp tình báo Tàu cộng đang hoạt động tại Mỹ.

Cùng đã bị túm chung trong màng lưới gián điệp như người chồng của y thị, Anne Pollard đã nhận tội có làm gián điệp. Ngày 4 tháng 3 năm 1987, y thị bị kết án 5 năm tù về hình tội liên bang. Tới năm 1989 thì y thị đã được phóng thích vì lý do sức khỏe.  140

Yen Men Kao — Thủy lôi, Máy phản lực và Hệ thống ‘radar’ kiểm soát hỏa lực của các chiến đấu cơ thuộc Hải Quân Hoa Kỳ

Yen Men Kao, một tên mang quốc tịch Tàu cộng, mà đã từng ở lậu lại sau khi đáo hạn chiếu khán, sau đó bèn đã mua hai cái nhà hàng ăn uống ở Charlotte, North Carolina. Theo chỉ thị của bọn tình báo Tàu cộng, cùng các hứa hẹn sẽ được trả cho tới cả 2 triệu Mỹ kim, y đã gia nhập một màng lưới gián điệp với “nhiều công dân Tàu cộng khác [không nhận dạng được]”. Kao và đồng bọn đã cố sức tìm cách đánh cắp các kỹ thuật tân tiến nhất, kể cả về loại thủy lôi tân kỳ MK 48 Advanced Capability ~ ADCAP Torpedo của Hải quân Hoa kỳ, cũng như là tài liệu về hai động cơ phản lực F 404-400 của công ty General Electric dành riêng cho loại chiến đấu cơ F / A-18 Hornet của Hải quân và luôn cả hệ thống ‘radar’ kiểm soát hỏa lực của các chiến đấu cơ phản lực F-16 Falcon.

Nhưng rồi thì chúng cũng chỉ đã thất bại mà thôi. Chúng đã không đánh cắp được gì để có thể chuyển giao về cho bọn Tàu cộng tại lục địa. Tuy nhiên, trong một điệp vụ để gài bắt, Kao đã có trả cho một điềm chỉ viên của FBI số tiền 24.000 Mỹ kim để mua loại bộ phận dao động (oscillators) sử dụng cho các vệ tinh. Cuối cùng, thì Kao đã bị bắt quả tang. Do đó, sau một cuộc điều tra kéo dài tới cả 6 năm ½ trời thì FBI quyết định bắt Kao vào ngày 3 tháng chạp năm 1993, và truy tố y về âm mưu (nhưng sau này không thành công) để thu mua một cách bất hợp pháp, hầu xuất cảng các sản phẫm có kỹ thuật tiên tiến về quân sự  và cũng như đã từng vi phạm luật nhập cư Mỹ.

Kao đã không hề bị truy tố về tội từng “có hành vi gián điệp chống lại Hoa Kỳ”. Chính quyền Clinton đã không muốn làm mếch lòng cái chính phủ Tàu cộng. Còn FBI  thì cũng đã không sẳn sàng để tiết lộ các nguồn gốc đã giúp cung cấp tin tức phản gián cùng các cách làm việc của họ ra công khai tại trước các phiên tòa xét xử.

Vào ngày 22 tháng chạp năm 1993, một thẩm phán đã ra án lệnh trục xuất Yen Men Kao về Hồng Kông vì chiếu khán của y đã đáo hạn. Kao, một tay bợm chuyên bài bạc, nay thì đã bị mất cả hàng ngàn Mỹ kim tiền kiếm được nhờ liều mạng đứng ra dám làm gián điệp, bèn bỏ về Hồng Kông, bỏ lại luôn cả người vợ đã nhập tịch Mỹ quốc, cùng luôn cả hai đứa con nhỏ dại.  141

Hou Desheng, Zang Weichu — tình báo về tín hiệu, hỏa tiễn

Hou Desheng nguyên là một tùy viên quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Y đã cố tìm mua các hỏa tiễn phòng không lưu động. Y cũng mưu tìm các tài liệu bí mật của Cơ quan An ninh Quốc gia NSA. FBI đã dùng một công dân Mỹ làm việc cho NSA để gài bẫy tay Hou này. Y đã được hẹn tới một tiệm ăn ở Hoa-thịnh-đốn để nhận số tài liệu mà y đã đã bị gạt là những tài liệu bí mật của NSA. FBI đã bắt Hou vào ngày 21 tháng chạp năm 1987. Đồng thời thì họ cũng bắt luôn Zang Weichu, một viên chức đang phục vụ tại lãnh sự quán Tàu cộng ở Chicago.

Cả hai nhân viên ngoại giao này cùng bị trục xuất vì “những hành vi không phù hợp với quy chế ngoại giao của họ”. Chúng là những nhân viên ngoại giao đoàn Tàu cộng đầu tiên bị trục xuất kể từ khi các quan hệ chính thức được thành lập với Tàu cộng vào năm 1979.

Sau này thì cũng chính tên Desheng này lại đã tái xuất hiện với tư cách là đại diện cho cái công ty Mayes and Company, chuyên về thương vụ bán hỏa tiễn phòng không lưu động cho bọn Tàu cộng.  142

James Lee (Li Jin), Penny Ray (Lei Ping) — “đề mục về quốc phòng”

Một bồi thẩm đoàn ở San Francisco đã từng kết án Penny Ray và James Lee ở San Jose, California, vì đã từng phạm tội, chiếu theo đạo luật  Arms Export Control Act (Luật Xuất cảng về Vũ khí), qua các hoạt động xuất cảng các [không định rỏ] “sản phẫm quốc phòng” về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lee và Ray đã bị kết án 18 tháng tù giam, cộng thêm ba năm được tại ngoại nhưng vẫn bị giám sát, và một lệ phí 50 Mỹ kim về định giá đặc biệt (special assessment).

Tới ngày 6 tháng 4 năm 1998, thì Bộ Thương mại đã từ chối không cho phép Lee với Ray được đặc quyền xuất cảng mọi mặt hàng của Mỹ, và sẽ có hiệu lực  cho đến ngày 14 tháng giêng năm 2008. 143 Quyết định ngăn cấm đến cả 10 năm này cũng đã cho thấy là các “bài báo về quốc phòng” đã có thể cực kỳ quan trọng, nhưng chiếu theo các hồ sơ được phổ biến công khai thì ta cũng không hề biết được là đã từng có những gì đã bị xuất cảng đi mất rồi.

Storm Kheem — Kỹ thuật về Hỏa tiễn của Tàu cộng cho Iraq

Một cuộc điều tra chung của Bộ Thương Mãi, Quan Thuế và FBI đã phát hiện ra là tên Storm Kheem, một cư dân ở Bayshore, New York, cùng nhiều tên khác đã sắp xếp để vận chuyển chất ‘ammonium perchlorate’ từ Trung Hoa lục địa qua cho Iraq, xuyên ngõ Jordan. ‘Ammonium perchlorate’ nguyên là một chất hóa học rất dễ nổ thường được sử dụng như là nhiên liệu cho hỏa tiễn. Kheem đã cố tình giả mạo nhãn hiệu bên ngoài hóa chất như chỉ là một hóa chất dùng để lọc nước, không có đặc tính dể phát nổ, ngõ hầu che giấu phẫm chất thật sự được xuất cảng từ Trung Quốc sang cho Iraq.

Việc xuất khẩu này đúng ra thì đã phải bị chi phối bởi luật Enhanced Proliferation Control Initiative ~ EPCI  (Đề xuất nhằm Kiểm soát việc Tăng gia Phổ biến) với mục đích ngăn cấm các công dân Mỹ trực tiếp tham gia vào việc thiết họa, phát triển, sản xuất, tàng trữ cũng như là sử dụng loại vũ khí hủy diệt tập thể.

Storm Kheem đã nhận tội vi phạm luật EPCI và các Quy định nhằm Trừng phạt Iraq vào ngày 27 tháng giêng năm 1995.  144

Red- Chin Yang/ Lansing Technologies Corporation — máy điện toán

Văn phòng sở tại ở New York của Office of Export Enforcement of the Department of Commerce (Văn phòng Theo dõi Quy định về Xuất cảng của Bộ Thương mại Mỹ) đã quyết định điều tra tên Tàu cộng Chin Yang cùng cái Công ty Lansing Technologies Corporation của y tại Flushing, New York.

Red-Chin Yang của Lansing Technologies, đã từng nhận tội tại Tòa án Quận Hoa Kỳ thuộc Quận Đông New York vào ngày 17 tháng 6 năm 1997, về tội đã từng xuất cảng  trái phép một bộ điều hành máy điện toán loại ‘vector’ và một hệ thống kiểm soát tiến trình thu thập dữ liệu cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Loại kỹ thuật này tối ư cần thiết cho lãnh vực vật lý hạt nhân và các quy trình sản xuất có tính cách chính xác. Ngày 16 tháng 10 năm 1997, một thẩm phán Tòa án Quận phía Đông New York, dã tuyên phạt công ty Lansing Technologies 10.000 Mỹ kim cộng với 400 Mỹ kim tiền định giá đặc biệt (special assessment). 145

Lasertechnics, Inc. — kích hỏa hạch tâm

Từ tháng 11 năm 1991 đến tháng 3 năm 1994, công ty Lasertechnics, Inc. ở Albuquerque, New Mexico đã từng xuất cảng các ‘hydro thyratrons’ do Hoa Kỳ sản xuất qua đến Hồng Kông, Ireland, Malaysia và Singapore. Việc xuất cảng ‘thyratrons’ này hoàn toàn là bất hợp pháp, trong chính sách nhằm ngăn chặn việc phổ biến kỹ thuật về hạch tâm. ‘Thyratrons’ cần được dùng để hướng dẫn những dòng điện cao thế ngõ hầu kích nổ loại vũ khí hạch tâm. Việc xuất cảng ‘hydrogen thyratrons’ đã vẫn thường bị kiểm soát kỹ, ngõ hầu ngăn chặn phổ biến vũ khí hạch tâm và luôn cả khủng bố.

Một cuộc điều tra của Bộ Thương mại đã cho thấy là công ty này đã từng xuất cảng chất ‘thyratrons’ tới cả 36 lần khác nhau. Khi bị bắt quả tang thì công ty Lasertechnics mới chịu cộng tác trong cuộc điều tra.

Ngày 30 tháng 5 năm 1997, Cục Quản lý Xuất khẩu (Bureau of Export Administration ~ BXA) của Bộ Thương mại đã quyết định phạt vạ 180.000 Mỹ kim công ty Lasertechnics, Inc., mà trong số đó thì 80.000 Mỹ kim đã được tha miễn, chỉ với một lời hứa là sẽ không vi phạm luật nữa thôi của họ.

“Chúng tôi phụ trách kiểm soát việc xuất cảng các ‘thyratrons’ … chúng tôi rất quan ngại về sự bành trướng của các loại vũ khí hủy diệt tập thể mà có thể sẽ bị sử dụng bởi bọn khủng bố”,  Frank Deliberti, vị đương nhiệm phó thư ký của Cục, đã tuyên bố như vậy.

Ông tiếp, “Tầm mức quan trọng về mối quan tâm của chúng tôi đã được thể hiện qua mực độ tuyên phạt này đối với những vụ xuất cảng bất hợp pháp đó”.   146

Nhưng quả thực đối với loại vũ khí mà có khả năng giết được cả hàng triệu sinh linh vô tội, thì số tiền phạt vạ 80.000 Mỹ kim chỉ có thể được coi như là một tín hiệu tượng trưng mà thôi về tính cách “nghiêm trọng” của viễn tượng hủy diệt về hạch tâm này.

Digital Creations — các máy điện toán

Công ty Digital Creations Corporation đã từng nhận tội có xuất cảng bất hợp pháp các máy điện toán DEC qua cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 13 tháng 6 năm 1997, Thẩm phán Mỹ là William Walls của Tòa án Quận New Jersey đã tuyên phạt vạ công ty Corporation Creations Digital of Closter, New Jersey, số tiền 800.000 Mỹ kim và các luật sư của Creations Digital sau đó đã đệ nạp thỉnh cầu xin tạm đình thi hành bản án đã tuyên.  147

Khi ra điều trần trước Quốc hội vào tháng 11 năm 1997, Gary Milhollin, Giám đốc Kế hoặch Wisconsin về Kiểm soát Vũ khí Hạch tâm (Wisconsin Project on Nuclear Arms Control) có cho biết, “có nhiều vi phạm nghiêm trọng dường như đã chỉ đưa đến một món tiền phạt vạ nhỏ nhoi, mà xem ra thật sự đối với một công ty xuất cảng thì cũng đơn giản như là một chi phí kinh doanh thường mà thôi”. Ông ta đã nêu ra các công ty Lansing Technologies Corporation và Digital Creations Corporation như là các ví dụ trong số rất là nhiều những vụ khác.

Cái Ông tên ‘Ma’ Bí Mật, một “chiến sĩ cật ruột” của Tàu cộng  — Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia

Theo tài liệu tình báo Mỹ được kể lại trong bản báo cáo của Gertz, thì vào đầu thập niên 1990, FBI đã phát hiện ra được là Tàu cộng đã gài được một số điệp viên tại những vị trí rất thuận tiện ngay bên trong chính phủ Mỹ. Ít nhất thì cũng đã có rồi một tên đang phục vụ tại một cơ quan tình báo. Y có bí danh là Mã, tiếng Tàu để gọi con “ngựa”.  Mã phụ trách chuyên lo chuyển tin về quốc phòng và tình báo đánh cắp được về cho Bắc Kinh.

Lý lịch thực sự của y thì đã vẫn không hề được xác định rỏ ràng.

Gertz cũng đã cáo buộc chính là tên Ronald Montaperto, một phân tích gia về tình báo của Mỹ mới là cái tên Mã, tay điệp viên bí mật mà FBI đã từng tình nghi theo đuổi.

Ấy vậy, mãi cho đến nay, Montaperto vẫn được Ngũ-giác-đài thông qua về tiêu chuẩn an ninh. Trong khi phục vụ tại Cơ quan Tình báo Quốc phòng (Defense Intelligence Agency ~ DIA), Montaperto vẫn đã phải thường xuyên tiếp xúc và  liên lạc với các sĩ quan tình báo Tàu cộng trong phần hành của mình. Một trong số đó, tay Thiếu tướng Yu Zhenghe của QĐNDTQ, một tùy viên không quân tại tòa Đại sứ của chúng, cũng đã từng được mời dự đám cưới của chính Montaperto vào năm 1990.

Gertz tường trình là (căn cứ vào lời khai của các người đào tẩu) FBI bèn bắt đầu mở một cuộc điều tra quy mô về các hoạt động gián điệp. FBI đã tóm gọn được cả tới 12 nghi phạm khả dĩ đáp ứng trúng với các chi tiết đòi hỏi của một mẫu lý lịch phát họa về  một tên Tàu định danh  là “Dear Friend ~ Bạn Hiền” mà có khả năng tiếp cận với các bí mật quân sự của Mỹ .

FBI đã điều tra phỏng vấn Ronald Montaperto vào cuối 1991 hay đầu 1992 khi Montaperto đang là trưởng phòng “thẫm định” của DIA về Trung Quốc (tháng 9 năm 1989 đến tháng 2 năm 1992).

“Các công trình chận nghe lén những liên lạc trao đổi của chính phủ Tàu cộng thực hiện bởi Cơ quan An ninh Quốc gia và sau đó, đã được cung cấp cho FBI” đã phát hiện ra được một điệp viên tối quan trọng với cái bí danh là Mã.

Trong ba lần “thẩm vấn căng thẳng” nhân khi FBI điều tra Montaperto, y vẫn cứ khẳng định y không hề cung cấp những tài liệu mật nào cho tình báo Tàu cộng cả. Y cho biết quan hệ của mình với tình báo Trung Quốc thì đều đã được chuẩn phê, kể cả tay khách mời dịp đám cưới của mình là Tướng Yu. FBI bèn bạch hóa Montaperto sau khi  “… họ nhìn thẳng vào mắt tôi và nói, ‘Chúng tôi không tin ông là một gián điệp’ “.

Montaperto rồi sẽ sớm rời DIA, nhưng cũng có cho Gertz biết là FBI không có dính líu gì đến việc ra đi của y. “Không ai mà có thể làm bè làm bạn với đám viên chức Trung Quốc đâu”, y tuyên bố như vậy, nhưng cũng đã phải thừa nhận là tay Tướng Yu cũng có từng dự đám cưới của y.

“Treo trên tường bên trong văn phòng của ông Montaperto là một cuộn giấy lụa lớn khổ, đầy thư pháp Tàu … [gồm] có các chữ  “mã, long và đức”, mà … khi phát âm theo tiếng phổ thông thì mang âm vang như là “Montaperto”. Một bộ thứ hai … thì lại có các chữ Tàu “chiến mã”. Và một sĩ quan tình báo Tàu cộng thì cũng đã có ký phó thự cho cuộn giấy lụa này của Montaperto.

Tay này nguyên là “một tùy viên của tòa Đại sứ Trung Quốc” mà đã tặng cuộn giấy lụa lớn đó cho Montaperto như là một món quà. Nhưng rất ư là kỳ lạ, đôi lúc y ta lại giải thích theo một kiểu khác. “Ông Montaperto cho biết là chính một sinh viên ở Thượng Hải đã tặng cho ông ta”.

Sau khi rời DIA, Montaperto đến làm việc tại Đại học Quốc phòng National Defense University NDU thuộc Ngũ-gtiác-đài với tư cách là phân tích gia của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc gia. Tại đó, y có trách nhiệm định nghĩa các “chiến lược … nhằm … phục vụ các quyền lợi của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái-bình- dương …”.  Montaperto vẫn giữ được quy chế đã bạch hóa về các tối mật thuộc an ninh quốc phòng, nhưng cũng ít được phép hơn hầu giúp y tiếp cận được với các loại tin tức tình báo.

Tay tướng Yu nguyên làm việc cho Tướng Xiong Guangkai, Phó chánh văn phòng của tình báo của QĐNDTQ. Năm 1996, nhân cuộc khủng hoảng do Tàu cộng gây ra khi bắn hỏa tiễn qua Đài Loan, Tướng Xiong có thể cũng đã qua lại Hoa Kỳ và đã có cố gắng để gặp lại Montaperto.

Tại Đại học Quốc phòng National Defense University NDU, Montaperto đã từng đánh giá thấp khả năng quân sự của Tàu cộng. Y đã bị nhiều người coi như là một “tên chỉ thích ôm hôn nựng gấu trúc ~ panda hugger” và thậm chí còn bị phê bình tàn tệ hơn nhiều nữa bởi một số nhân viên khác.

Theo Gertz thì, “Ông Montaperto đã đồng lõa với Trung Quốc qua thái độ giảm thiểu hóa tầm đe dọa của họ … bằng cách lừa dối – để tránh cho Mỹ được ‘thuần nhất’ trong việc nhận định và đánh giá quyền lực đang lên của Trung Quốc … cho đến khi Trung Quốc đủ có được một quân đội, một sức mạnh về kinh tế và chính trị ngõ hầu chiến thắng … Ông Đặng từng khuyên: ‘Đừng lộ dạng; hãy lặng yên”. Hay là  … như Bắc Kinh từng chủ trương, ‘Chờ thời cơ và cứ lo củng cố quyền lực cùng khả năng của chúng ta …”.

“Điều mà Trung Quốc mong muốn chính là có thêm được ba thập niên kiểu “mở vòng tay ~ engagement” của Clinton, một chính sách giúp coi nhẹ khả năng quân sự của Trung Quốc, khuyến khích giảm chi tiêu về quốc phòng của Mỹ và cung cấp cho Trung Quốc các kỹ thuật cùng giúp đở về tài chính  … các viên chức Trung Quốc đã từng xem một số các chuyên gia nào đó ở Hoa Kỳ như là có khả năng phổ biến dùm các quan điểm của ngay Bắc Kinh …

“Các chuyên gia Trung Quốc … thì vẫn thường xuyên liên lạc với nhau thông qua các nhóm thảo luận được thành lập trên Mạng Liên Mạng Internet, một mục tiêu tối quan trọng để gây ảnh hưởng mà chính phủ Trung Quốc vẫn hằng sử dụng. Hãy coi trang trên Liên mạng tên là ‘Chinasec’. Mỗi sáng, một nhóm khoảng 100 giới chức cao cấp của Mỹ phu tụách về hoạch định chính sách cùng các viên chức tình báo vẫn thường xuyên nhận các bức điện thư ‘e-mail’ như thông lệ của cái nhóm chuyên về thảo luận trên Liên Mạng Internet này …”.  148

Montaperto thì vẫn là một chuyên gia được đánh giá cao và được công nhận khắp nơi là một chuyên gia về Tàu cộng. Cho dù có quả là một tên gián điệp hay không, thì ít ra, chắc chắn y cũng phải là một nhân sự đang hoạt động giúp bành trướng ảnh hưởng của bọn Tàu cộng – một chuyên viên ôm nựng gấu trúc rất ư là đặc biệt ~ panda hugger  extraordinare. Montaperto quả tình đã tiêu biểu cho hình ảnh của một tên luôn luôn chủ trương Tàu cộng không thể nào là một mối đe dọa cho Mỹ quốc cả.

Peter Lee — Los Alamos cùng Livermore Nuclear Laboratories

Peter Lee là một công dân Mỹ, chào đời ở Đài Loan và rồi làm việc tại Los Alamos

National Laboratory (Phòng Thí nghiệm Quốc gia Los Alamos) từ 1984 đến 1991. Y cũng từng cộng tác với công ty TRW, Inc., một hãng thầu phục vụ cho Phòng Thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore, từ 1973 đến 1984, rồi từ 1991 đến 1997. Tay tiến sĩ Lee tốt nghiệp Viện California Institute of Technology vào năm 1975 với văn bằng Tiến sĩ Hàng Không (Ph.D. in Aeronautics).

Bản tường tình Cox đã kết luận, “CHNDTQ có vẻ đã thu phục được [Peter] Lee bằng cách kích thích lòng tự kiêu tự đại của y, cững như cùng lúc đánh đúng vào nổi niềm tình tự dân tộc cùng quan niệm tự kỷ về tầm quan trọng bản thân của một khoa học gia”. Peter Lee đã đánh cắp và giao cho Tàu cộng nhiều bí mật về loại bom ‘neutron’ và về tàu ngầm Mỹ – loại “tài liệu liên quan đến việc phát hiện các tàu ngầm và kỹ thuật dùng tia ‘laser’ thử nghiệm cho nổ các vũ khí nguyên tử với tầm thu nhỏ …”.

Với những hành vi đó, Peter Lee đã hoàn toàn phá nát khả năng dùng tàu ngầm để bảo vệ các hàng không mẫu hạm của Mỹ. Hành vi phản bội của y đã giúp Tàu cộng hoàn thành các thử nghiệm vũ khí hạch tâm mà vẫn không hề bị phát hiện ra bởi Mỹ.

Ngày 9 tháng giêng năm 1985, chính Lee cũng đã từng đi gặp các khoa học gia về nguyên tử của Tàu cộng đề tiết lộ những bí mật về công trình nghiên cứu dùng tia ‘laser’ của y mà có liên quan đến các thử nghiệm nguyên tử thu nhỏ, trong các lần tiếp xúc ở một phòng khách sạn tại Bắc Kinh.

“Lee đã giải thích cho bọn khoa học gia Trung Quốc phương pháp làm sao dùng các chất ‘deuterium’ và ‘tritium’ để chứa vào một loại trang bị với hình cầu được gọi là một mục tiêu và được bao quanh bởi một ‘hohlraum’, và sau đó thì làm sao để hun nóng lên bằng cách bắn tia ‘laser’ vào đó. Nhiệt độ tạo ra sẽ gây nén các chất đó, và gây ra một vụ nổ thu nhỏ qua phản ứng liên hợp.  149

Cái kỹ thuật được gọi là “inertial confinement ~ ép chứa bất động” này cho phép các khoa học gia về vũ khí hạch  tâm nghiên cứu được các vụ nổ nguyên tử dưới dạng thu nhỏ lại … [rất cần] cho Trung Quốc mà đã từ ký cam kết tôn trọng lệnh cấm thử nghiệm nguyên tử thật sự … Hành vi Lee giao tin tức về tiến trình có thể thử nghiệm hạch tâm dưới kích thước  thu nhỏ cho Trung Quốc đã xảy ra … trong khi y đang phục vụ … tại Los Alamos … [Trong] một lần thuyết trình tại Trung Quốc, y đã có trả lời các câu hỏi và cũng có vẽ sơ đồ về việc tạo dựng ‘hohlraum’ “.  150

Vào dạo đầu thập niên 90 thì Peter Lee lại một lần nữa nạp đơn xin việc tại Los Alamos, nhưng giới chức tình báo Mỹ đã thuyết phục được phòng thí nghiệm không thuê đương sự nữa. Ấy vậy, việc này cũng không ngăn chặn được sự kiện y vẫn cứ tiếp tục cộng tác với Tàu cộng.

Tới đầu 1997, Lee đã đi “chơi” ba lần về Trung Hoa lục địa – được bao chi phí bởi Viện Vật lý Ứng dụng và  Điện Toán (Institute of Applied Physics and Computational Mathematics ~ IAPCM), một cơ quan chuyên về thiết họa vũ khí hạch tâm của Tàu cộng.

“… [Vào] ngày 11 tháng 5 năm 1997 hay thì cũng vào dạo đó, Lee đã có thuyết trình [trong hai giờ đồng hồ] ở Bắc Kinh [cho] … các khoa học gia về vũ khí hạch tâm của IAPCM và Học viện Trung Quốc về Vật lý Kỹ thuật (China Academy of Engineering Physics ~ CAEP). Lee đã từng mô tả … vật lý về vi sóng tán xạ từ sóng biển [-] loại nghiên cứu đã từng được dành [cho] chiến tranh chống tàu ngầm … Lee đã trình chiếu hình lưu lại trên mặt biển của một chiến hạm … rồi đã vẽ một đồ thị … [và] giải thích … cách lọc dữ liệu bên trong đồ thị để xác định vị trí … cái vết lưu lại của tàu đó trên cả một đại dương.

“Khoảng hai giờ sau buổi nói chuyện thì Lee bèn xóa bỏ đi cái đồ thị và hình ảnh cho thấy dấu vết con tàu trước khi rời cái viện Tàu cộng đó”.  Phòng thí nghiệm Lawrence Livermore Lab đã từng tiến hành một cuộc nghiên cứu kéo dài tới cả 20 năm trong một chương trình phối hợp giữa Hoa Kỳ và Anh quốc về Radar Ocean Imaging (Tạo hình trên mặt biển bằng kỹ thuật ‘radar’) trong chiến thuật chống tàu ngầm này.  151

Để rồi, chỉ trong vòng có hai giờ thuyết trình, Lee đã tiết lộ ra mọi chi tiết quốc phòng tối mật.

Trong suốt thập niên 90 thì FBI đã cố điều tra Peter Lee, nhưng vẫn không thành công để có được đủ bằng chứng. Vào tháng 7 năm 1997, các giới chức phản gián đành báo động cho Sandy Berger về các vụ bị đánh mất tin tức hạch tâm và vào tháng 10 năm 1997, FBI đã có thẩm vấn Peter Lee tới cả sáu lần hơn.

Cuối cùng thì Lee đã công nhận mình đã từng cung cấp cho bọn khoa học gia chuyên nghiên cứu về vũ khí của Tàu cộng những tài liệu tối mật để nghiên cứu về đề tài phát hiện tàu ngầm mà có khả năng gây nguy hiểm cho các tàu ngầm nguyên tử của Mỹ, “lâu nay vẫn từng được xem như là bất khả tiêu diệt”.

Bộ Tư pháp dưới triều của Reno,cái Bộ từng rất đã can đãm để đi tấn công đám phụ nữ và trẻ em tại Waco và cũng từng dùng tới súng ống để mới kéo được một em bé trai ra khỏi một cái tủ quần áo ở tận Miami, chỉ để rồi gởi bé này về cho cái tên Fidel Castro, thì nay lại quá ư là mềm mỏng với cái tên điệp viên của Tàu cộng này.

Tác phẩm The China Threat (Hiểm Họa Tàu Cộng) từng đã cho biết là Tòa Bạch Ốc quyết định đình hoãn việc FBI tính bắt giữ Lee mãi cho tới sau chuyến viếng thăm của Chủ tịch Giang Trạch Dân. Rõ ràng là Tàu cộng quả đã có cảnh cáo là việc truy tố Peter Lee sẽ gây thiệt hại cho mối quan hệ Mỹ – Tàu cộng.

Mặc dù Công tố viện muốn xúc tiến thủ tục truy tố thì Bộ Tư pháp lại đã không hề muốn vậy. Ngoài ra thì Hải quân Mỹ cũng phản đối việc sẽ phải tiết lộ các bí mật về kỹ thuật phát hiện tàu ngầm. Bộ Tư pháp bèn quyết định chỉ truy tố Lee về hành vi công bố vào năm 1985 các kỹ thuật học nguyên tử mà rồi thì cũng đã được giải mật vào năm 1993.

Lee đã bị truy tố về tội “tình nguyện cung cấp” những tài liệu bí mật cho Tàu cộng có liên quan đến kỹ thuật gây nổ hạch tâm trong kích thước thu nhỏ.  Ngày 8 tháng giêng năm 1997, Lee đã nhận tội từng cố tình cung cấp những tin tức quốc phòng Mỹ cho các khoa học gia Tàu cộng trong chuyến thăm vào năm 1985 của y đến Trung Hoa lục địa, và chỉ nhận tội từng khai gian về vụ thuyết trình với các công dân CHNDTQ trong năm 1997 với đề tài vật lý học và kỹ thuật học liên quan mục tiêu nhằm phát hiện các tàu ngầm.

Peter Lee, tay điệp viên bậc thày, đúng ra đã phải đối mặt với một án tù chung thân hay ngay cả, đã ph3i có thể bị xử tử hình, thì lại rất ư là khấm khá.

Vào ngày 26 tháng 3 năm 1998, vị thẫm phán cực kỳ theo chủ trương tự do là Terry J. Hatter tại California, đã chỉ kết án Lee có ba năm quản chế mà thôi, mà chỉ một năm thì mới phải bị mang một chiếc vòng ở cổ chân tại một nơi ‘ tạm kiểm soát ~ halfway house’, với chỉ có 3.000 giờ phải làm việc để phục vụ cộng đồng và chỉ ehạt vạ 20.000 Mỹ kim mà thôi.  152

Sau đó, chính quyền Clinton đã không hề chịu cung cấp một bản báo cáo nhằm đánh giá tầm mức thiệt hại gây ra bởi hành vi phản bội của Peter Lee cho Ủy ban Cox. Peter Lee đã từ chối không thèm hợp tác với Ủy ban Select Committee đã được giao quyền phụ trách điều tra. Rồi tới ngày 29 tháng 8 năm 2000 thì cái Bộ Thương mại dưới triều Bush đã thông báo cho Peter Lee là y sẽ mất quyền xuất cảng sản phẫm, chỉ cho đến ngày 26 tháng 3 năm 2006 mà thôi. Đó quả là một ví dụ kỳ lạ sơ qua mà thôi về kiểu thủ tục hành chánh quá ư là quan lieu, chỉ làm việc như một tên đui và mù mà thôi.

Wen Ho Lee — Phòng Thí  Nghiệm Los Alamos Nuclear Laboratory

Vào đầu thập niên 90, Wen Ho Lee, một khoa học gia chuyên về nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Los Alamos Lab, đã từng đến tham dự một cuộc họp riêng của những khách khoa học gia Tàu cộng mà không hề được ai thông báo trước cả. Theo lời kể lại của một nhân chứng cho FBI  thì, mặc dù Lee đã không hề được mời tham dự cuộc họp trước đó, Hu Side, mà giới Tình báo Hoa Kỳ vẫn xem như là cha đẻ của chương trình vũ khí hạch tâm của Tàu cộng, lại đã đứng lên ôm hôn hoan nghênh Lee nồng nhiệt và hoan hô cám ơn “những đóng góp quan trọng cho chương trình vũ khí hạch tâm của Trung Quốc” của Lee.

Sau này thì mới biết được là Wen Ho Lee đã giao những bí mật hạch tâm cho bọn Tàu cộng, hầu giúp cho chúng có được khả năng bắn trúng một mục tiêu Mỹ chỉ trong phạm vi 80 ‘yard’ bằng các đầu đạn loại 180-kiloton. Wen Ho Lee đã giúp Tàu cộng xây dựng được một lực lượng hỏa tiễn có tầm mức quy mô, có khả năng lưu động và chính xác với cùng nhiều đầu đạn.  153

Tờ Investor’s Business Daily từng tường trình là từ 1993 đến 1997, các giới chức liên bang đã yều cầu được phép thu băng để làm bằng chứng tới cả 2.686 lần. Chỉ trừ một vụ, còn thì Bộ Tư pháp đã phê duyệt  tất cả. Và cái lần ngoại lệ đó đã lại là lần yêu cầu để chận nghe, vào năm 1996, đường dây điện thoại của Wen Ho Lee, tên nghi phạm chính trong các vụ đánh cắp các bí mật hạch tâm từ phòng nghiên cứu quốc gia Los Alamos Lab.

Cuối cùng, tên khoa học gia chuyên nghiên cứu tại Los Alamos là Wen Ho Lee đã chuyển được đến cả triệu hàng chữ mã hóa cùng tài liệu và dữ liệu về đầu đạn vũ khí vô được máy điện toán cá nhân của y. Tài liệu mã hóa dành cho máy điện toán này bao gồm tới cả công trình 50 năm nghiên cứu về hạch tâm –  loại mật mã “di sản” hay cũng là “những tinh túy tối thượng”. Nhiều người đã nghỉ là Lee quả thật sự đã gây tổn hại cho “hầu như tất cả toàn bộ kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ” mất rồi.  154

Tới cuối năm 1998 thì dân biểu Christopher Cox loan báo là Tàu cộng sẽ sớm có vũ khí hạch tâm “ngang hàng”  với cả Mỹ. Sau nhiều tháng phủ nhận, Tàu cộng cũng đã công nhận mình đang có cả hai loại đầu đạn ‘neutron’ và nguyên tử thu nhỏ. Chúng tuyên bố là đã không hề từng đánh cắp hai loại này. Lúc đó thì ứng cử viên Tổng Thống George W. Bush đã có tuyên bố, “Tôi nghĩ là cán cân quyền lực rồi đây sẽ đổi thay do hậu quả của [kế hoặch gián điệp hạch tâm]” và “Tôi nghĩ là việc này sẽ giúp Trung Quốc nhanh chóng trở thành một cường quốc hạch tâm”.  155

Đó quả là một điệp vụ không khác gì lần các bí mật của những quả bom nguyên tử đầu tiên đã được chuyển giao cho Moscow, chỉ rồi có một qua một cuộc điều tra rất ư là cẩu thả, Lee đã chịu nhận một tội ít hơn nhiều trong số 59 tội danh bị đưa ra, và sau đó đã tự biện hộ với lý do là mình chỉ bị kỳ thị chủng tộc mà thôi. Và cũng rồi nhờ một cuộc điều tra và truy tố rất ư là ngu si, rốt cuộc thì Lee lại đã được toàn quyền công khai tiết lộ cho mọi người biết về cái con số 17 cuộn băng liên quan đến các bí mật nguyên tử từng đã bị đánh cắp. FBI quả đã có ra công lục lọi một bãi rác ở địa phương và có tìm lại được một số băng – nhưng không có băng nào là chứa các bí mật mà tên Lee đã từng đánh cắp.

Clinton thì lại đã từng ngỏ lời xin lỗi ngay với tên Wen Ho Lee, nhưng chính một phúc trình của một Tổng Thanh Tra, rồi của cả vị Giám đốc FBI Freeh và luôn của cả Chưởng Lý Liên bang Reno, thì đều cùng khẳng định là chính phủ đã truy tố đúng đáng đương sự mà thôi.

Hai Lin, Kai Xu và Yong Qing Cheng — Công ty Lucent Technologies

Vào tháng 7 năm 2000, Yong Qing Cheng, một công dân Hoa Kỳ nhung chào đời ở Tàu và là phó chủ tịch của một công ty về hệ thống phát quang ‘optic-networking’ là Village Networks, đã đi Bắc Kinh ở Trung Hoa lục địa. Y đã gặp các viên chức của công ty Datang Telecom Technology Co., Ltd ở đó, nguyên là một công ty Tàu cộng mà phần lớn cổ phần thì thuộc quyền sở hữu của ngay chính phủ. Y đã thảo luận để ngõ hầu chuyển giao các bí mật về kỹ thuật học viễn thông của Mỹ.

Sau đó thì công ty Datang có đưa 1 triệu 2 Mỹ kim cho Cheng và Hai Lin cùng Kai Xu. Bọn này đều là những công dân Tàu cộng mang thông hành thương gia và được công ty Lucent Technologies gọi là những  “giới chức”. Hai Lin và Kai Xu đã đánh cắp kỹ thuật học tối mật về hệ thống quản lý dữ kiện trên Liên mạng ‘data networking’ của công ty Lucent, nơi chúng đang làm việc. Rồi chúng đã chuyển mọi tài liệu tối mật đó cho công ty Datang Telecom của Chính phủ Tàu cộng. Chưởng lý Mỹ Robert J. Cleary đã tuyên bố là Lin và Xu “từng đến với Lucent như là những nhà bác-học, nhưng trong thực tế, chúng không khác gì là những tên gián điệp”. Chúng chỉ là những tên gián điệp Tàu cộng có được chiếu khán Mỹ mà thôi.

Công ty Datang, Lin, Xu cùng Cheng đã thành lập tổ hợp ComTriad, một liên doanh nhằm bán các phóng bản y hệt với kỹ thuật Pathstar của công ty Lucent, và được đặt tên là CLX 1000, ở tại Trung Hoa lục địa, như chỉ là một sản phẫm chính của chúng mà thôi.

Rick Fisher, thuộc hiệp hội Jamestown Foundation, có cho biết là các vụ đánh cắp ở công ty Lucent đã là một phần trong “những nỗ lực có hệ thống [của Trung Quốc] hầu qua mặt và lũng đoạn trong các mưu toan thương mãi  [với Mỹ] để hỗ trợ cho tiến trình hiện đại hóa về quân sự của Trung Quốc”. Các kỹ thuật này sẽ giúp Tàu cộng sẽ có được một “mạng lưới truyền tin tức thì trên khắp toàn quốc” nhằm phục vụ cho quân đội của chúng.

“Nhiều cơ quan tình báo, đã rất thực tế, chủ trương chỉ cần phải chi ra có mổi 1 triệu Mỹ kim mà thôi … để có ngay được kỹ thuật chỉ trong vòng có hai ngày thôi, thay vì sẽ phải dành cho tới cả 20 triệu Mỹ kim để ráng phát triển trong hơn cả hai mươi năm trời”, đó là ý kiến của Ben I. Venzke thuộc ntelCenter.

Lin, Xu và Cheng cùng bị bắt vào ngày 3 tháng 5 năm 2001, và cùng bị truy tố tại Tòa án Quận ở Newark về tội danh âm mưu gian lận bằng vô tuyến và điện toán (wire fraud). Nếu chúng bị tuyên có tội thì sẽ có khả năng sẽ bị phạt tới 5 năm tù và 250.000 Mỹ kim phạt vạ..

Henry Tang, Chủ tịch của Ủy ban 100 (Committee of 100) và một kẻ từng đã cương quyết binh vực cho tên Wen Ho Lee, thì có tuyên bố, “người ta sẽ phải tự hỏi tại sao một vụ như vậy mà cứ bị làm rùm … trong khi mà FBI đã cứ phải điều tra cả hàng ngàn vụ tình nghi gián điệp mỗi năm”. Lam Leong, tay gốc Á rất ư là dấn thân và làm việc tại công ty Lucent, thì lại đã nêu lên sự kiện là “hành vi phạm pháp” nhằm đánh cắp sở hữu của công ty Lucent bởi hai người châu Á đã “không là hình ảnh tiêu biểu cho lịch sử lâu dài của những đóng góp tuyệt vời …”. Quả đúng vậy thôi.

Công ty Lucent, nhà sản xuất lớn nhất trên toàn quốc và cũng là một trong những công ty truyền tin với kỹ thuật thông tin tiên tiến nhất, hiện cũng đang có một dịch vụ lớn nhất ở Trung Hoa lục địa với cả một lực lượng tới 3.400 nhân viên. “Được hỗ trợ bởi việc nghiên cứu và phát triển từ các phòng thí nghiệm của Bell Labs, công ty Lucent đã tập trung vào các lãnh vực có khả năng phát triển nhanh như là hạ tầng cơ sở về băng tầng và đặc tính lưu động trên Liên Mạng Internet, các thảo chương để cùng trao đổi với nhau, các giải pháp kinh doanh trên Liên Mạng hầu kết nối những mạng lưới tư nhân lẫn công cộng, cũng như là những dịch vụ trên Liên Mạng về thiết kế và tư vấn”.

Lúc đầu, quả thật là công ty Lucent đã có thông báo cho FBI về các hành vi thật là đáng nghi ngờ của một số nhân viên của họ. 156

Yufeng Wang, bí danh Alan Wang — kiểm soát bạo động bằng thiết giáp xa

Yufeng Wang, còn được biết đến như là Alan Wang, và cái công ty của y là A & C International Trade, Inc., đã từng xuất cảng trái phép một thiết giáp xa dùng để kiểm soát và kiềm chế được các vụ bạo động, loại được trang bị với các bình xịt hơi cay, qua cho Tàu cộng. Quả thật, tay Wang này đã không hề là một người rồi đây sẽ ủng hộ nền dân chủ ở cái Trung Hoa lục địa CS này.

Ngày 10 tháng 3 năm 2000, Alan Wang và công ty của y đã nhận tội trước Tòa án Quận Hoa Kỳ ở Washington, D.C., về những vi phạm về xuất cảng loại sản phẫm bị cấm, cũng như là đã từng man khai trong các thủ tục khai trình cho chính phủ Mỹ.  A & C International thì đã nhận những tội về xuất cảng và Wang thì cũng nhận tội đã từng khai trình giấy tờ giả mạo.

Vào tháng 7 năm 2000, Wang đã bị kết án cho đủ cái thời gian mà y đã từng ở tù rồi (tám tháng), với 1 năm tù treo và 250 giờ phục vụ cộng đồng. Công ty của y đã bị tuyên án 3 năm quản chế ‘probation’, cùng bị phạt 5.000 Mỹ kim, với 20.000 Mỹ kim phạt vạ, cộng thêm 3 năm bị cấm đặc quyền xuất cảng (án treo). Ngoài các hình phạt này, Bộ Thương Mại còn tuyên phạt vạ công ty của y tới cả 100.000 Mỹ kim mà sẽ phải trả cho Bộ về sau này. 157

*****

Bây giờ thì chúng ta hãy chuyển từ đề tài các tên gián điệp qua đề tài các tên điệp viên tâm lý chiến (agents of influence).

ĐIỆP VIÊN TÂM LÝ CHIẾN GỐC TÀU

THEO DÕI LỘ TRÌNH NGUỒN TIỀN TÀU CỘNG

QUA TỚI CHÍNH GIỚI MỸ

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (Tàu Cộng) sử dụng đám Người Tàu Hải Ngoại, cả số đã có quốc tịch Hoa Kỳ và luôn bọn thường trú nhân

Chiếu theo bản tường trình Thompson Report thì, “Có khả năng là Trung Quốc đã từng sử dụng một số bọn để làm trung gian. Điều này là vì chỉ có công dân Hoa Kỳ hay các thường trú nhân hợp pháp thì mới có thể đóng góp một cách hợp pháp cho các chính đảng nhân các cuộc vận động bầu cử. Hơn nữa, với người Tàu, việc sử dụng các công ty thương mãi cùng các cá nhân trong tư cách trung gian nguyên là một việc rất ư là phổ thông ở Trung Hoa lục địa. Sự kiện này cũng như là sự kiện Tàu cộng đang có rất nhiều ảnh hưởng và áp lực trên một số định chế và cá nhân, mà trong đó có nhiều đương sự lại đang buôn bán trực tiếp với Trung Quốc …”.

Hơn nữa, “Nhân viên của Ủy ban cũng có xác định … được những vụ đóng góp tiền bạc từ nước ngoài mà có liên hệ đến sáu đương sự đều cùng có quan hệ với Trung Quốc … là John Huang, Maria Hsia, Ted Sioeng và James với Mochtar Riady … có liên quan … với Chính phủ Tàu. Người thứ sáu là Yah Lin “Charlie” Trie thì lại là một thương gia cùng buôn bán chung với tên Ng Lap Seng (bí danh là Ông Wu), một doanh nhân ở Macao … có dính líu với Trung Quốc”.

“Các đương sự từng cộng tác cổ võ cho các việc đóng góp thì hoặc là đã viện dẫn Tu Chánh án số Năm hoặc cũng đã bỏ trốn đi mất tiêu rồi … Bắc Kinh thì lại cũng đã từ chối lời yêu cầu được giúp đở của Ủy ban … Hơn nữa, sau khi các phiên điều trần chấm dứt thì … giới lãnh đạo Trung Quốc cũng đã quá ư là vui mừng khi đã không hề có cơ quan Trung Quốc nào mà bị tuyên bố có dính líu tới vụ bê bối tài chính về bầu cử này. … Những nỗ lực của Tàu … đều đã được thực hiện hay thu xếp, ít ra cũng trong một phần nào đó, bởi các cơ quan tình báo Trung Quốc”.

Johnny Chung — tên nắm hầu bao của tình báo Tàu cộng

Johnny Chung, nguyên là một công dân Mỹ nhưng sanh đẻ ở Đài Loan và cũng là một thương gia tại California, người đã tháp tùng Bộ trưởng Thương mại Ron Brown vào tháng 8 và 9 năm 1994 trong phái đoàn thương mại tới Trung Hoa lục địa, nơi mà y đã có cơ hội tiếp xúc với các giới chức Quân đội Nhân dân Trung quốc, có lẽ là viên Trung tá Liu Chaoying.

Liu nguyên là một trong những điệp viên hàng đầu của Tàu cộng và là chỉ huy trưởng của China Aerospace, chuyên phụ trách phóng các vệ tinh, và lại cũng là một người cộng tác buôn bán với mấy chổ từng đóng góp tiền bạc cho Clinton là các công ty Loral với Hughes Aircraft. Các hồ sơ đã cho thấy là Chung từng đến thăm Tòa Bạch Ốc hơn cả 50 lần trong suốt hai năm trước cuộc bầu cử năm 1996, và đã quyên góp được hơn cả 400.000 Mỹ kim dùm cho đảng Dân chủ.

Có vẻ như Chung đã bỏ tiền ra để mua cho được cái quyền được tự do ra vô Tòa Bạch Ốc, kể cả gặp trực diện với chính Tổng thống, ngay cho bản thân y mà còn cũng luôn cho các tên cộng sự Tàu cộng của y nữa.

Vào mùa thu năm 1996, tay Tướng Ji Shengde, giám đốc tình báo của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung quốc đã giao 300.000 Mỹ kim cho Chung. Sau khi bị truy tố thì Chung đã quyết định hợp tác với FBI và đại bồi thẩm đoàn. Chung đã khai trình y chỉ là tên nắm hầu bao dùm cho viên giám đốc tình báo, kẻ đã từng cho chuyển số tiền 300.000 Mỹ kim vào cái trương mục ngân hàng của y. Mấy thùng chứa các hồ sơ về những dịch vụ chuyên ngân đã chứng thực được lời cung khai bí mật trước đại bồi thẩm đoàn đang xét xử y. Các hồ sơ của Citibank đã cho thấy chính Chung đã từng nhận được 300.000 Mỹ kim của các giới chức Tàu cộng, đặc biệt rỏ ràng nhất là một điện thư chuyển ngân từ văn phòng Hồng Kông của họ qua cho Liu Chaoying.

Đã có hàng trăm trang ghi lại những lần chận nghe lén và thu băng cho thấy rỏ ràng là tình báo Tàu cộng đã từng cố gắng để cản trở phá cuộc điều tra của Bộ Tư pháp.

Robert Luu, vào dạo cuối xuân năm 1998, đã từng ra lệnh cho Chung phải ráng bảo vệ các công ty Loral và Hughes. Hãy cứ rang đổ lổi cho đám con cái đảng viên cao cấp – cái bọn Thái tử Đảng, cái đám con cái vô trách nhiệm của bọn lãnh đạo Tàu cộng ấy mà.

Các hồ sơ chận thu băng được đã cho thấy là chính tên chủ tịch Giang Trạch Dân mới là tác giả chính của vụ này thôi. Lưu đã từng tuyên bố với Chung, “Vâng, Chủ tịch Giang đã đồng ý để xử lý nội vụ theo kiểu này; vị Tổng Thống ở đây [Clinton] cũng đồng ý như vậy thôi”.

Vào tháng chạp năm 1998, vị Chánh Án Toà Án Quận tên Manual Real đã tuyên phạt Chung 5 năm tù treo, cộng 3.000 giờ phải đi làm công tác cộng đồng. Đây có vẻ là bản án nặng nề nhất đối với mấy bộ mặt trong vụ Chinagate. Thẩm phán Real đã bác bỏ lập luận của Democratic National Committee (Ủy Ban Toàn Quốc Đảng Dân Chủ)  và luôn cả Tòa Bạch Ốc khi tuyên bố là Chung đã vu cáo và lôi họ chung theo vào vụ này. “Nếu [các giới chức đảng Dân chủ như] ông Fowler và ông Sullivan mà quả không hề biết những gì từng đã xảy ra, thí đúng họ đã là hai trong những chính trị gia ngu xuẩn nhất mà tôi thấy được trong cuộc đời của tôi”. Cả Clinton và Democratic National Committee (Ủy Ban Toàn Quốc Đảng Dân Chủ)  đều cùng hân hoan nhận tiền của bọn Chung … luôn cả Trie, Riady, Hsia và Huang.

Dân biểu Dan Burton (Cộng Hòa – Indiana), cũng đã từng dùng thủ tục cưởng bách luật định để buộc Johnny Chung phải ra khai trình trước Ủy ban Cải cách Chính phủ của Hạ viện (House Government Reform Committee).

Trong tháng 5 năm 1999, Chung đã là người đầu tiên trong số 100 người tình nguyện ra khai trình trước Quốc hội. Ngân hàng Citibank tại Hồng Kông thì đã không hề tuân thủ một án lệnh cũng phải ra hầu tòa. Vào tháng 7, Chung đã công bố là Bộ Tư Pháp đã “không hề muốn nghe” về những tin tức mới có thêm. Tàu cộng thì đã bịt miệng vĩnh viễn tay giám đốc quân báo cũ của chúng tên Ji Shengde bằng bản án tử hình về những tội tham không liên quan gì đến nội vụ này.

Nay khi chỉ còn phải làm cái nghề hốt rác dọc lề đường ở California, thì một kẻ biết ăn năn tội như Johnny Chung cũng đã bị chúng thành công khóa miệng mất thôi. Johnny Chung đã từng là nhân chứng quan trọng nhất chịu khai trình để có thể buộc tội chính phủ Tàu cộng cũng như là chính quyền Clinton.

image005

 Richard Delgaudio, Johnny Chung và tác giả là Roger Canfield,

cùng cầm một quyển “China Doll ~ Búp Bê Tàu”

— Hình của Michael Mark

Một trong những nhiệm vụ ưu tiên về an ninh quốc phòng của chính quyền Bush sẽ phải là ban thưởng cho các người từng đã lên tiếng báo động, cũng như các nhân chứng đã chịu đứng ra hợp tác khai trình – tức là bắt đầu ngay với sắc lệnh ân xá (pardoning) cho Johnny Chung.

John Huang — tên gây quỹ cho Clinton mà cũng là một gián điệp Tàu cộng?

Ủy Ban Thompson đã trình bày: “Mục tiêu ở đây là tìm hiểu vì sao mà một giới chức tại một ngân hàng nhỏ bé ở California (thuộc quyền sở hữu của một tập đoàn lớn  Indonesia), mà lại đã từng thành công quyên tiền muôn trùng cho Đảng Dân chủ, để rồi được ban thưởng cho một chức vụ chính trị tại Bộ Thương mại, để rồi sau đó, quá  thường xuyên được  . . . Clinton và bộ sậu nồng hậu đón tiếp”.

Vậy thì John Huang là tên cha căn chú kiết nào?

Huang nguyên từng là cựu giám đốc điều hành của nhóm Lippo Group, một tập đoàn Indonesia mà phân nửa quyền sở hữu thì lại thuộc chính phủ Tàu cộng ở Bắc Kinh. Các chủ nhân của Lippo là dòng họ Riady mà lâu nay vẫn hợp tác kinh doanh với Tàu Cộng. Lippo Group đã trả lương năm cho Huang cho tới khoảng 325.000 Mỹ kim.

Sau khi đắc cử thì Clinton đã bổ nhiệm tay Huang làm Phó Phụ tá Bộ trưởng Bộ Thương mại. Nhóm Lippo bèn thưởng cho Huang một chi phiếu tới 450.000 Mỹ kim. Trong khi đó, tuy đang lãnh lương của chính phủ Mỹ, tay Huang này vẫn cứ  tự do toàn quyền tự quyết định mình có muốn tới văn phòng làm việc hay không cũng được thôi.

Trong tư cách là một công chức, đúng ra thì y đã bị luật cấm không được đi quyên góp tiền cho các cuộc vận động chính trị. Nhưng cái tên ‘năng nổ’ Huang này lại đi gây quỹ hơn cả 100.000 Mỹ kim cho Đảng Dân Chủ trong khi y vẫn là một công chức tại Bộ Thương Mại Mỹ. Vào tháng 9 năm 1993, Huang đã từng viết ba chi phiếu cho Đảng Dân Chủ, mổi tấm như vậy là 15.000 Mỹ kim và được thanh toán bằng tiền ở nước ngoài. Các chi phiếu này đều được thanh toán bởi trương mục của ba chi nhánh ngoại quốc cùa Lippo Group – mà lại chỉ là những chi nhánh mà tất cả đều đang thua lổ và nợ nần.

Ngày thứ Sáu 24 tháng 9 năm 1993, một ngày sau khi tên Huang chi viết hai tấm ngân phiếu đầu tiên, trị giá mổi cái là 15.000 Mỹ kim cho Đảng Dân Chủ thì y cũng bèn đưa tên Shen Jueren tới Tòa Bạch Ốc để gặp Trưởng Ban Nhân viên của Gore là Jack Quinn, và rất nhiều người cũng nghi ngờ là tay này cũng đã có họp với Al Gore. Tới thứ Hai, Huang lại viết một chi phiếu 15.000 Mỹ kim khác cho Đảng Dân Chủ và, tại một buổi tụ hợp ở Santa Monica do y và Maria Hsia tổ chức, thì tên Shen Jueren lại bị đồn đại là đã có lại gặp Phó Tổng Thống Al Gore.

Có thể tên Huang đã không chỉ hoạt động về tâm lý chiến mà thôi. Nếu quả thật y đã từng bán các tài liệu mật của CIA mà y từng đã có trong tay thì y quả đã phạm tội làm gián điệp và tội phản quốc. Huang đã được bạch hóa về tiêu chuẩn an ninh cao nhất, ngay cả trước khi y bắt đầu làm việc tại Bộ Thương mại. Y đã có quyền tham khảo rất là nhiều tài liệu về Tàu cộng, Huang đã từng tham dự tới cả 109 buổi điều trần mật của CIA và nhiều cơ quan khác. Thường là hai hay ba lần một tuần, y đã chỉ cần băng qua bên kia đường để gọi điện thoại và nhận các bản ‘fax’  tại văn phòng của Stephens, Inc. Mà Stephens, Inc. nguyên là một công ty chuyên về đầu tư ở Arkansas đang làm ăn với Tập đoàn Lippo.

Thượng nghị sĩ Dân chủ Joseph Lieberman, vị dân cử của Connecticut thì cũng đã khám phá ra là, “Những lần thăm viếng đó … quả thật cũng kỳ lạ”. Suốt 18 tháng làm việc tại Bộ Thương mại thì tay Huang đã gọi đi hơn cả 400 lần về cho công ty Lippo và cũng đã thường xuyên đến thăm Tòa Đại sứ Tàu cộng. Bản Tường Trình Thompson đã cho biết là Huang “có thể đã có liên hệ trực tiếp về tài chính với chính phủ Trung Quốc”.

Vào một buổi sáng trong tháng 9 năm 1995, tại một buổi gây quỹ, đã từng có hai người bạn thân của Bill Clinton đứng phía trước y ta. Một người là James Riady, tay lý-tài miệng lưỡi ngọt ngào người Tàu-Indonesia mà đang vận động thúc đẩy giữ cho giao thương giữa Mỹ với Trung Quốc luôn luôn được rộng mở. Người thứ nhì là tên John Huang, một chuyên viên tuyệt hảo về móc nối, đang cùng tình nguyện hứa hẹn sẽ gây quỹ cho Ủy ban Quốc gia Dân chủ trong các cộng đồng người Mỹ gốc Á. Huang lớn tiếng là sẽ có thể thu góp được cho tới cả 7 triệu Mỹ kim. Và nhờ đó, y đã có được một ‘job’ với Đảng Dân chủ vào cuối năm 1995. Y đã trở thành được một trung tâm điểm trong cái đám gây quỹ tạp lục hỗn độn tại Washington.

Sau đó, vào tháng 9 năm 1997, Ủy ban Hạ viện Government Affairs Committee đã điều tra xem liệu Huang đã có từng cung cấp những tài liệu về dữ liệu kinh tế nhạy cảm cho gia tộc Riady hay không. “Việc trao đổi tin tức nội bộ, qua trung gian các công ty dòng họ Riady, có thể cũng đã được cung cấp cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa … hầu giúp chính phủ Trung Quốc chuẩn bị cho các cuộc đàm phán thương mại [và] đặt được Hoa Kỳ vào một vị thế bất lợi rất ư là nghiêm trọng”, chính dân biểu Dan Burton đã báo động như vậy.

Sau thời gian phục vụ tại Bộ Thương mại mà công việc chính thì chỉ là ngồi đó mà quay số điện thoại gọi xin tiền cho Đảng Dân Chủ, tên Huang vẫn tiếp tục làm việc cho tập đoàn Lippo và chính phủ Tàu cộng. “Trong năm 1996, tên John Huang đã xin được tới cả 3 triệu 4 Mỹ kim cho Đảng Dân Chủ. Nhưng gần phân nửa số tiền này đã phải bị hoàn trả lại vì không được xem như là những đóng góp hợp pháp … vì đã được thực hiện qua những trương mục thật sự hay bị tình nghi [bất hợp pháp]”, bản tường trình  Thompson đã ghi nhận như vậy.

“Ủy ban đã cặn kẻ xem xét các hành vi của Huang tại tập đoàn Lippo, tại Bộ Thương mại và tại Đảng Dân Chủ”. Ủy ban Thompson tuyên bố có tìm ra được một “tin tức duy nhất mà nguồn gốc đã không thể xác định được  … mà đã cho thấy được là chính Huang đã trực tiếp cộng tác về tài chính với chính phủ Trung Quốc”.

Có thể ở đây là Ủy Ban Thompson muốn đề cập đến vụ 100.000 Mỹ kim mà John Huang đã đánh điện chuyển ngân qua cho Webster Hubbell từ Ngân hàng Hong Kong Chinese Bank, 158  hay cũng có thể Uỷ ban muốn ám chỉ vụ từng nghe lén được khi Huang bàn bạc làm ăn với một giới chức Tàu tại Lãnh Sự quán Los Angeles của Tàu cộng. 159

Cuối cùng thì Haung mới chịu cộng tác với Bộ Tư pháp trong suốt 20 phiên điều tra. Để rồi thì y đã bị truy tố về hai tội danh là đã từng đóng góp tài chánh bất hợp pháp: 2.000 Mỹ kim cho Michael Woo và 5.000 Mỹ kim cho Quỹ California Victory Fund và Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein. Ty Cobb, luật sư của tên Hoàng, đã tuyên bố là Huang “không hề là kẻ chủ mưu chính”.  Ngày 13 tháng 8 năm 1999, chánh án Tòa án Quận là Richard Paez đã tuyên phạt Huang – không phải vào ngồi tù, mà chỉ bị quản chế một năm, với 10.000 Mỹ kim phạt vạ cộng với 500 giờ công tác phục vụ cộng đồng mà thôi.

Yah Lin “Charlie” Trie — bè bạn của Clinton, tên gây quỹ, tay chuyên viên rửa tiền cho Tàu cộng

Trie nguyên là một chủ nhà hàng ăn tại Little Rock và cũng là một tay bè bạn tới cả 14 năm của Bill Clinton, kẻ đã yêu cầu y nắm dùm chức vụ giám đốc Hội đồng Tài chánh của Đảng Dân Chủ và đã từng bị ghi nhận đã tới Tòa Bạch Ốc tổng cộng là cả 23 lần.

Ủy Ban Thompson có báo cáo là “Yah Lin ‘Charlie’ Trie cũng từng kêu gọi được ngoại quốc đóng góp những số tiền lớn … Trong tháng 3 năm 1994, Trie đã đem về được cho tới cả gần nửa triệu Mỹ kim, dưới dạng những chi phiếu và lệnh chuyển ngân,  với những số tiền nhỏ thôi, về cho văn phòng luật sư nhiệm cách quản trị cái Quỹ Chi Tiêu về Pháp lý của Tổng Thống Clinton (Clinton Presidential Legal Expense Trust). Chính các tín hữu của một giáo phái Phật giáo tên gọi là Suma Ching Hai đã từng ký tên trên các chi phiếu và lệnh chuyển ngân đó. Sau đó thì tay Trie bèn đã trả tiền lại cho họ từ các trương mục tại Đài Loan và Campuchia”.

Clinton đã bổ nhiệm tay Trie vào Uỷ ban Giao Thương Hoa Kỳ – Thái Bình Dương (Commission on United States-Pacific Trade). Nhân khi làm việc ở đó, vào ngày 6 tháng 2 năm 1996, tên Trie này bèn bí mật thu xếp một cuộc gặp mặt giữa Clinton và Wang Jun, một tên buôn bán vũ khí chính yếu của Tàu cộng. Chính Clinton đã tiếp Ron Brown lẫn tên buôn vũ khí Wang Jun cũng cùng trong cùng một ngày.

Wang là tên đứng đầu công ty chuyên buôn lậu vũ khí Polytechnologies. Clinton đã đặc biệt ký cho phép công ty Polytechnologies được đặc miễn nhập vào Mỹ tới cả 100.000 khẩu súng bán tự động.

Báo New York Times đã tường trình là Trie đã đòi Bắc Kinh tới 1 triệu Mỹ kim nhằm trả lương  cho các hoạt động chính trị của y và thì 1 triệu Mỹ kim quả đã được một tên Wu nào đó ở Macao chuyển ngân qua cho y. Ủy Ban Thompson phát hiện ra được là tay Wu này (bí danh là Ng Lap Seng) nguyên là một viên cố vấn của chính phủ Tàu cộng. Wu đã chuyển 1.400.000 Mỹ kim từ các ngân hàng ngoại quốc bằng 41 dịch vụ chuyển tiền riêng rẻ qua cho Charlie Trie, mà trong số đó cũng đã có một số khá lớn tới 50.000 và 100.000 Mỹ kim. Wu đã từng cố vấn về kinh tế cho Đảng Cộng sản và chính phủ Tàu cộng ở Bắc Kinh và cũng là một tay làm ăn buôn bán với tên Wang Jun.

Trong thời gian FBI  cứ mãi vô vọng xin cho đưọc một án lệnh Tòa để có thể ra quân đi khám xét điều tra nhưng cứ bị mụ Laura Ingersoll tại Bộ Tư pháp, đang phục vụ dưới quyền mụ Reno bác bỏ, thì tên Trie cùng tay phụ tá bèn hủy bỏ tất cả hồ sơ đang lưu giữ. Sau đó, thì đã có cho tới bốn nhân viên FBI chịu ra khai trình là Bộ Tư pháp đã cố tình cản trở và trì hoãn việc điều tra hành vi của tên Trie nhắm phá hủy các hồ sơ vào năm 1997. Cuối cùng thì đã cũng quá muộn rồi, khi vị Chưởnh Lý Liên bang Charles LaBella chịu ra án lệnh lục soát liên quan đến tên Trie này.

Nhân viên FBI Jerry Campane đã tuyên bố là tên Trie đã từng rửa các số tiền mà có thể y đã từng nhận từ chính phủ Tàu cộng. Yue Chu thì đã khai trình là y thị có từng viết những chi phiếu cho Đảng Dân Chủ dể rồi sau đó thì được tên xếp của chồng ở Bắc Kinh là Ng Lap Seng hoàn trả lại tiền.

Trie và đồng bọn Tàu thì cũng chỉ hoàn thành những gì mà chúng đã được đặt hàng mà thôi.

Ng Lap Seng (bí danh Ông Wu), tên từng đóng góp tới cả 80.000 Mỹ kim qua trung gian Bank of China ở Macao, thì cũng đã từng đến chơi Tòa Bạch Ốc ít ra là 10 lần từ năm 1994 đến năm 1996.

Antonio Pan, một tay cộng sự của tên Trie và Huang sư,  thì cũng từng đến chơi Tòa Bạch Ốc ít ra là 8 lần. Còn đối với tay Trie, thì ít nhất là cả 23 lần.

Lúc ban đầu thì tên Trie đã bỏ trốn về Trung Hoa lục địa, nhưng sau đó y đã trở lại để bị bắt vào ngày 3 tháng 2 năm 1998 bởi các nhân viên FBI tại ngay phi trường  Washington Dulles Airport. Luật sư của Trie là Reid H. Weingarten, thì tuyên bố Trie chì là nạn nhân trong một vụ điều tra của quốc hội mà đã xem đương sự như là một gián điệp. “Ông ta chưa hề  bao giờ phục vụ như là một gián điệp cho ngoại quốc. Ông ta không bao giờ có ý tạo tham nhũng trong hệ thống chính trị Mỹ”, tay luật sư Weingarten đã tuyên bố như vậy.

Bộ Tư pháp Mỹ thì đã truy tố cái tên được gọi là “nạn nhân”  Trie với 15 tội danh, trong đó có cả tội âm mưu lừa gạt Đảng Dân Chủ và vì đã phạm tội cản trở công lý bằng hành vi phá hủy hồ sơ được lưu trử.

Ngày 22 tháng 5 năm 1999, tay Trie đã nhận hai tội dính líu về gây quỹ vận động bầu cử và cam kết sẽ hợp tác trong những cuộc điều tra sẽ tiếp nối sau này. Thay vì hình phạt 6 năm tù liên bang với 350.000 Mỹ kim phạt vạ thì tay Trie chỉ phải nhận duy có 3 năm quản chế mà thôi. (cũng chỉ bằng như án phạt một tên phạm tội trả bằng chi phiếu không tiền bảo chứng ở một tiệm tạp hóa 7-11 mà thôi).

Maria Hsia — kẻ tâm phúc của Gore, kẻ chuyên gây quỷ, từng bị cáo buộc là gián điệp Tàu cộng

Bản Báo cáo Thompson có nói: “Maria Hsia từng đã tham gia mời gọi mọi người hãy đóng góp cho Đảng Dân Chủ những món tiền mà rồi sẽ được tẩy rửa qua trung gian nhiều tu sĩ Phật giáo, và có thể là đã do từ nguồn tài trợ của ngoại quốc”.

Giám đốc Tài chính của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ (Democratic National Committee DNC) là Richard Sullivan đã từng nhờ John Huang làm sao ráng giúp cho có được “Chút ít tiền từ tiểu bang California”. Huang bèn quay qua nhờ y thị Maria Hsia, kẻ đã tổ chức cả một kế hoặch để thu góp được 55.000 Mỹ kim từ các chùa chiền, hầu đóng góp cho Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ. Trong thực tế thì các ngôi chùa túng thiếu này đều đã được gởi trả tiền lại sau đó, vì họ chỉ đứng ra làm bình phong mà thôi.

Các đóng góp tiền bạc, tuy là coi như do các tín đồ Phật giáo, nhưng cũng có thể là đã được chuyển ngân qua từ Trung Hoa lục địa.  160

Đã quả thật nguyên là cả một câu chuyện gián điệp với các nhà sư Phật giáo núp bóng giúp rữa tiền dùm Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ.

Như Bob Woodward viết cho tờ The Washington Post đã khám phá ra được, bản Báo cáo Thompson cũng có cho biết, “… Hsia nguyên là một tên gián điệp của chính phủ Trung Quốc, và đương sự đã cố tình hoạt động giúp đở chúng, và y thị quả đã cố tình che giấu mối quan hệ của y thị với chính phủ Trung Quốc …”.

Hơn nữa, “Hsia đã thực sự phải bị xem như là đã làm việc cho một nhiệm sở ngoại giao của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc ngay tại Mỹ … [Cả] hơn 130.000 Mỹ kim tiền đóng góp về chính trị [đã]  được rữa một cách bất hợp pháp thông qua các ngôi chùa theo sự điều động của Hsia  … Hsia đã cộng tác với Ted Sioeng và John Huang để kêu gọi sự đóng góp của các người Tàu ở Hoa Kỳ và ở ngoại quốc … Hsia và Huang … [cũng phạm pháp] khi cố tình  … tìm những người nước ngoài mà không mang quốc tịch Mỹ… [để] đóng góp tiền bạc …”.

Vào giữa tháng 2 năm 1998, Bộ Tư pháp đã truy tố y thị Maria Hsia, 47 tuổi đời, ra trước một bồi thẩm đoàn liên bang về tội âm mưu lừa gạt nước Mỹ, bằng cách cung cấp những đóng góp tài chánh cho cuộc vận động bầu cử của bộ sậu Clinton – Gore qua các định chế ngoại quốc, và vì như vậy, đã vi phạm trực tiếp và rõ ràng về các luật bầu cử liên bang.

Rồi thì, một cách cực kỳ lạ lùng mà không ai có thể hiểu được, vào ngày 10 tháng 9 năm 1998, viên thẫm phán Tòa cấp Quận là Paul Friedman đã miển tố năm trong số sáu tội cho y thị, với lý do là khái niệm “Cô bé Alice trong xứ Thần tiên ~ Alice in Wonderland” thì không thể nào kết buộc được y thị Hsia về tội danh khai trình gian dối với Ủy ban Bầu cử Liên bang (Federal Elections Commission).

Những bút lục gian dối, những tên giả tạo, rồi nào là đăng bộ gian dối về doanh nghiệp, rồi thì là những món tiền khai gian thì cũng là không đủ cho vị Thẩm phán có tên là Friedman. Quả thật, quá ư là kỳ lạ và lạ kỳ. Một thành phần gồm cả ba Thẩm phán của Tòa án Phúc thẩm Mỹ của Quận Columbia, vào ngày 19 tháng 5 năm 1999, đã đồng tuyệt đối bác bỏ bản án của thẫm phán Friedman. Tòa này bèn cho phép truy tố lại 5 tội danh trong số 6 hình tội củ. Hai trong số ba vị thẫm phán, dù nguyên từng do Clinton bổ nhiệm, nhưng ngay cả họ cũng không thể nào chấp nhận được cái phán quyết điên khùng của cái vị thẫm phán tên là Friedman đó được.

Cuối cùng thì y thị Maria Hsia cũng đã bị kết án, nhưng y thị vẫncứ mãi trung thành với Tàu cộng và với Al Gore, kẻ mà thiếu chút nữa thì cũng đã đắc cử Tổng Thống mất rồi.

Pauline Kanchanalak — y thị chuyên quyên tiền, tay đề cao Tàu cộng

Pauline Kanchanalak, nguyên có quốc tịch Thái – chớ không hề là một công dân Hoa Kỳ, là viên chức lãnh đạo của tồ hợp Charoen Pokphand ( CP) Group. Nhóm này là một tập đoàn ngoại quốc  Thái – Tàu đầu tư đơn chiết lớn nhất ở Trung Hoa lục địa. Dhanin Chearavanont,  tay đầu tư gốc Tàu đã cầm đầu cái Tập đoàn CP này tại Trung hoa lục địa và chuyên sản xuất “tất cả mọi thứ, từ xe gắn máy cho tới cả gà mái tơ”.

Vào năm 1994, John Huang đã giúp cho Kanchanalak được Tổng thống Clinton phê duyệt cái Hội đồng Thương Mãi Mỹ – Thái mà y thị vừa thành lập. Sau đó thì Kanchanalak đã được mời tham dự đến 26 buổi lể được tổ chức tại Tòa Bạch Ốc. Theo đó thì Clinton đã có mặt tại 10 lần và Al Gore thì 2 lần. (Một cách bất hợp pháp) Y thị đã trở thành một hội viên của Hội đồng Giám đốc của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ, đã liên hoan ăn mừng tại tiệc sinh nhật lần thứ 50 của Tổng thống Clinton, và Tòa Bạch Ốc thì cũng đề nghị cho y thị tham gia một ủy ban cố vấn về chính sách giao thương. Chức vụ này đòi hỏi đương sự phải được bạch hóa về vấn đề an ninh và phải có quốc tịch Mỹ, nhưng y thị thì vẫn chỉ là một công dân Thái mà thôi.

Cả hai sự kiện về hoạt động gây quỹ và được bạch hóa về tiê chuẩn an ninh đều đúng đã vi phạm  luật pháp Hoa Kỳ. Nhưng bộ sậu Clinton thì cũng không hề ‘ke’. Chúng chỉ cần tiền và miển làm sao mà có được tiền mà thôi.

Kanchanalak đã gặp Sandy Kristoff, một chuyên gia về châu Á trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Tòa Bạch Ốc, ít nhất là ba lần. Các cuộc họp này quả đã phá tan mong muốn của vị cố vấn Anthony Lake thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia hầu được bổ nhiệm chỉ huy cơ quan CIA. Ủy ban Chuẩn nhận của Thượng viện về việc Lake được đề cử đã yêu cầu được biết lý do vì sao lúc đầu thì Hội đồng An ninh Quốc gia chống đối nhưng rồi sau đó thì lại chịu ủng hộ cho Clinton họp với Hội đồng Thương Mãi Mỹ – Thái do Kanchanalak thành lập.

“[Các] cuộc trao đổi của y thị với Hội đồng An ninh Quốc gia đã đặt ra nhiều nghi vấn cho tôi”, Thượng nghị sĩ Richard Shelby (Cộng Hòa – Alabama) đã từng tuyên bố như vậy. “Ông Lake dường như đã không giải thích được tại sao nhân viên của ông đã cần phải gặp Pauline Kanchanalak … “.

Vào đầu tháng 6 năm 1996, Kanchanalak đã tháp tùng ba tay chóp bu của nhóm Charoen Pokphand (CP) Group tới thưởng thức cà phê với Clinton tại Tòa Bạch Ốc trong mục đích cổ võ cho một chính sách thuế thuận lợi nhằm nâng đở các mặt hàng mà Tàu cộng muốn xuất cảng qua Mỹ.

Cũng chính ngay cùng ngày đó thì Kanchanalak và một thân nhân đã góp tặng 135.000 Mỹ kim cho Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ. Đồng thời thì Tổ hợp Charoen Pokphand (CP) cũng đã chuyển ngân 100.000 Mỹ kim cho tên Trie và 50.000 Mỹ kim cho y thị Kanchanalak. Jeb Kanchanalak, tay cố vấn của Tổ hợp Charoen Pokphand (CP), cũng có chuyển ngân 475.000 Mỹ kim cho vợ y tên là Pauline, cùng các thân nhân khác trong gia đình. Một thời gian ngắn sau đó thì bọn Kanchanalak đã có chuyển ngân trực tiếp là 450.000 Mỹ kim đến Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ, cùng bốn tổ chức tiểu bang khác cũng thuộc đảng Dân chủ.

Ủy Ban Thompson biết được tin Tàu cộng đã từng đóng góp tiền nên bèn xúc các  phiên điều trần và điều tra vào giữa năm 1997. Kanchanalak thì luôn luôn đứng đầu trong mọi danh sách cần phải điều tra. Khi một cuộc điều tra bắt đầu thì luôn luôn Kanchanalak bèn đem giấu các tài liệu của công ty, rữa sạch nội dung các đĩa cứng của các máy điện toán, rồi đóng cữa văn phòng tại Mỹ và bỏ trốn về Bangkok.

Sau đó, y thị quyết định trở lại, giao nộp sổ thông hành và phải chịu đóng một số tiền tại ngoại trị giá tới cả ½ triệu Mỹ kim. Kanchanalak và em (hay chị) dâu là Duangnet Kronenberg, Đã cam kết hợp tác với lực lượng đặc nhiệm về tài chánh trong các vụ vận động bầu cử của Bộ Tư pháp. Một lực lượng đặc nhiệm của Bộ Tư pháp và đại bồi thẩm đoàn đã có điều tra xem xét hơn một nửa tá thùng hồ sơ của Hội đồng Thương Mãi Mỹ – Thái.

Sau khi kết luận là đã từng có một âm mưu (tháng 9 năm 1992 đến tháng 10 năm 1996), lực lượng đặc nhiệm về tài chánh trong các vụ vận động bầu cử của Bộ Tư pháp đã quyết định khởi tố ra trước tòa và tòa án đã tuyên phạt về 24 tội danh trong tháng 7 năm 1998 đối với Kanchanalak và người em (hay chị) dâu tên Kronenberg.

Nhưng rồi Chánh Án Tòa án Quận Paul L. Friedman, một người do chính Clinton chỉ định, đã hủy bỏ toàn vụ truy tố, nhưng để rồi một lần nữa, lại bị các tòa án cấp cao hơn bác bỏ sau đó.

Y thị bèn chịu nhận tội vào tháng 6 năm 2000. Luật sư của y thị là Reid H. Weingarten có cho biết là các công tố viên đã hăm dọa sẽ truy tố thân chủ của mình về tội rửa tiền có tính cách quốc tế quy mô nếu không chịu nhận cái tội nhẹ hơn là chỉ sai phạm về gây quỹ vận động bầu cử thôi. Các công tố viên đã yêu cầu từ 6 tháng đến một năm tù ở. Vào tháng 4 năm 2001 thì Thẩm phán Friedman mới chịu tuyên phán là mình nay ghi nhận là đã có hành vi mưu đồ và cố ý cản trở công lý của bị can Kanchanalak.

Ấy vậy, ông ta vẫn tuyên phạt y thị một bản án mà nhiều người đã cho là “còn nhẹ hơn là một cái bong bóng bọt xà phòng”. Kanchanalak chỉ bị phạt có sáu tháng quản chế tại gia và phải “mang một chiếc vòng tay điện tử để bị theo dõi kiểm soát”, cộng với ba năm tù treo và 3.000 Mỹ kim phạt vạ mà thôi. Không có hình phạt nào về tội từng man khai, từng cản trở công ly và từng âm mưu phá hoại hệ thống bầu cử của chúng ta để nhằm phục vụ những lợi ích của một cường quốc nước ngoài. 161

*** 

Thượng nghị sĩ Orrin Hatch (Cộng Hòa – Utah) đã chất vấn liệu chăng Chánh Án Tòa Cấp Quận Holloway Norma Johnson có đã cố tình chỉ định loại thẩm phán như là Friedman, với khuynh hướng chấp nhận những “thương lượng thật là hời”.  Thượng nghị sĩ Hatch tuyên bố, “Có vẻ như họ đang cố tình bao che những vụ này … Thật vậy, có vẻ như là các thương lượng đó giống như những trả giá về bản án qua việc thu xếp, và … các thẩm phán thì đều đã được lựa chọn trước … [để] cung cấp cho những thương lượng hời hợt này một tính cách khã tín mà thôi”.

Chánh Án Tòa cấp Quận Paul L. Friedman không chỉ đã tuyên phạt quá ư là nhẹ cho Kanchanalak mà còn luôn cả cho hai bị can Maria Hsia và Charlie Trie.

Stanley Ho — một nghi can không ai nào ngờ

Tên Stanley Ho, kẻ từng đóng góp tiền bạc cho Clinton, mà tên cha sinh mẹ đẻ là Hồ Hùng Sơn, nguyên từng cộng tác làm ăn với tên tỷ phú mà Bắc Kinh rất ư là ưa thích, tên Li Ka-Shing. Y đã từng đầu tư với các công ty Hutchinson Whampoa, COSCO và Norinco, một công ty chuyên sản xuất vũ khí tự động của Quân đội Nhân dân Trung quốc. Cảnh sát Hoàng Gia Gia-nã-đại đã xếp tên Hồ như là một đảng trưởng về băng đảng hình tội Tàu có tổ chức quy mô, cái bang hội Kung Lok.

Nhưng tên Stanley Ho thì chưa hề bao giờ đã từng là đối tượng của bất kỳ cuộc điều tra nào mà đã được biết đến tại cái nước Mỹ này.

 Các Chính Phạm — CLINTON và GORE

Bill Clinton — từng bị thu hình quả tang

Trong những cuộn băng thu ‘video’ được công bố trong tháng 10 năm 1997, người ta đã thấy được Clinton đang giao tiếp một cách rất ư là thân thiện với tên Huang, tên Trie, y thị Kanchanalak, tên James Riady và tên Chung. Các băng này đã cho thấy Clinton công khai đón chào quan khách ngoại quốc tại một buổi gây quỹ – tức đúng là những kẻ đóng góp tiền bạc bất hợp pháp. Tại một buổi khác vào ngày 19 tháng 2 năm 1996, ở Hay-Adams, thì Clinton đã từng uyên bố, “người bạn tốt của tôi là John Huang,” và nói rằng, “Tôi đã quen John Huang từ rất lâu, lâu lắm rồi”.

Nhân một bữa tiệc tối vào ngày 13 tháng 5 thì đích thân Clinton đã ngỏ lời tri ân hai tên  Huang và Trie, tên sau này thì được thu xếp ngồi sát ngay bên cạnh, “Đã 20 năm qua, kể từ  lần đấu tiên tôi được cùng ăn chung với Charlie Trie …”. Trong cuộn băng thu được thì Clinton cũng có đề cập đến tên Chung.

Còn trong cuộn băng thu vào ngày 10 tháng 9 năm 1994, thì đã cho thấy có một cuộc thảo luận kéo dài rất lâu nhưng những đoạn trao đổi giữa Clinton, Riady và Huang thì lại không được rỏ tiếng.

Nhân một lần lên tiếng trên một đài phát thanh vào ngày 24 tháng 6 năm 1994, Riady đã được giới thiệu cho Tổng thống. Hai tay ngoại quốc Riady và tỷ phú Đài Loan về bảo hiểm là Eugene Wu đã từng tham dự một buổi quyên góp tiền vào ngày 30 tháng 7 năm 1996, tại Khách sạn Jefferson ở Washington.  Clinton đã nói về quyết định mình gởi các hàng không mẩu hạm vô eo biển Đài Loan sau khi Bắc Kinh đã phóng nhiều hỏa tiễn gần kề Đài Loan.

***

Clinton đã từng bổ nhiệm John Huang làm việc tại Bộ Thương mại và tại Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ.

Còn Charlie Trie thì Clinton bổ nhiệm vào Uỷ ban Giao Thương Hoa Kỳ – Thái Bình Dương (Commission on United States – Pacific Trade).

Clinton đã cho phép tên Johnny Chung được đặc quyền tự do ra vô Tòa Bạch Ốc.

Clinton cũng đã bổ nhiệm Kanchanalak vô ghế thành viên của Hội đồng Quản trị Tài chính của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ và còn tìm cách bổ nhiệm y thị vô ngồi trong một ủy ban cố vấn về chính sách thương mại, bất kể luật liên hệ bắt buộc đương sự phải được bạch hóa về phương diện an ninh mà cũng phải mang quốc tịch Mỹ.

Clinton đã giúp hai công ty Loral và Hughes Aircraft được đặc miễn về các luật lệ xuất cảng nhằm kiễm soát những kỹ thuật bí mật về hỏa tiễn, để cho hai công ty này có thể phóng vệ tinh chung với công ty Tàu cộng cùng hợp tác là China Aerospace.

* **

Dân biểu Gerald Solomon (Cộng Hòa – New York) đã từng lên tiếng hỏi, “Có phải chăng đây là những gì Trung Quốc đang được hậu tạ nhờ các số tiền đóng góp to lớn cho Clinton và cho các tủ sắt tiền để lo vận động bầu cử của Uỷ ban Quốc gia đảng Dân chủ?”

Albert Gore

Albert Gore, ứng cử viên do đảng Dân chủ đề cử cho chức vụ Tổng thống, *  nguyên là một bạn thân của Maria Hsia, kẻ mà chiếu theo Bản Báo cáo Thompson, đã là một gián điệp của chính phủ Tàu cộng. Bản Báo cáo Thompson cũng từng mô tả sự kiện Al Gore đã từng tiếp xúc với các giới chức của China Resources, một mặt trận mà ai cũng biết là của giới tình báo Tàu cộng và đại diện cho Tàu cộng tại Panama, cũng như với tay làm ăn buôn bán rất ư là hào phóng tên Riady.

Cũng chiếu theo Bản Báo cáo Thompson, “Nếu các tường trình tình báo quả đúng, thì  mối liên hệ lâu dài [được biết] giữa Hsia và vị phó tổng thống của Hoa Kỳ sẽ phải đặt ra nhiều nghi vấn mới rất nghiêm trọng về tầm mức mà các hoạt động tình báo của Trung Quốc đã có thể ảnh hưởng đến chính trường Mỹ dưới thời chính quyền Clinton”. Còn báo Investor’s Business Daily thì cũng điều tra và khám phá ra là Phó Tổng thống Al Gore đã từng dính líu lâu năm rồi với Maria Hsia.

Al Gore đã bắt đầu nuôi dưỡng quan hệ của mình với Maria Hsia khá sớm vào năm 1989, nhân một chuyến đi có mục đích thương mại tới Đài Loan, Indonesia và Hồng Kông. Cùng tháp tùng chung chuyến phi cơ thì đã có John Huang, lúc đó đang làm việc cho Ngân hàng Lippo, nguyên là những gián điệp Indonesia của Tàu cộng.  162

Trong tháng 3 năm 2000, bộ sậu Clinton-Gore cho phổ biến một văn kiện đã được kiểm duyệt kỷ càng trước, dài 434 trang, gọi là phúc trình về “Các trở ngại về giao thương từ ngoại quốc”, nói về đề tài những cản trở gây khó khăn cho các doanh nghiệp Mỹ. Tàu cộng, từng là trung tâm điểm của những lời chỉ trích nặng nề nhất của họ trong các báo cáo trước, thì nay chỉ chiếm có ít oi là 17 trang mà thôi trong cái ấn bản năm 2000 này; ít hơn cả 4% của toàn bản tường trình.

Một “viên chức về giao thương” đã phủ nhận là “Chính phủ đã bớt chỉ trích Trung Quốc … để giành những lá phiếu bầu tại Quốc hội … [và] cho rằng, nếu Quốc hội chịu biểu quyết chấp thuận cho quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Trung Quốc, thì vấn đề thương mại sẽ được giải quyết xong ngay”.

 ***

Mọi diễn viên gốc Tàu trong các màn kịch bê bối về gây quỹ từng bị gọi là Chinagate thì đều bị kết án. Trong khi đó thì bọn đắc lợi Tàu cộng cùng bộ sậu Clinton-Gore thì vẫn không hề bị sứt mẻ chút gì cả.

Đám công ty phe đảng  — những tên ngu đần nhưng lại mang lợi

Trùng hợp với sự khởi đầu của chiến dịch tung tiền của Tàu cộng cùng với của các công ty, chính quyền Clinton bèn miễn trừ toàn bộ các biện pháp luật định nhằm kiểm soát về xuất cảng mà lâu nay đã từng giúp kềm giữ cho Liên Xô phải vẫn ở trong vị trí một nước với kỹ thuật học khá ư là lạc hậu.

Toàn thể, suốt từ cái Toà Bạch Ốc của Clinton-Gore xuống tận dưới các Bộ Thương mại, Ngoại Giao, Quốc phòng và Năng lượng, cái bọn ‘Clintonistas’ đều hoàn toàn bất chấp mọi luật lệ, nguyên tắc và quy định liên quan đến nhân quyền, đến hiểm nguy phổ biến vũ khí nguyên tử, hóa học và sinh học cũng như là về kiểm soát xuất cảng.

  • Nhân một chuyến đi Bắc Kinh vào tháng 10 năm 1994, Bộ trưởng Quốc phòng William Perry có hứa cung cấp cho Tướng Ding Henggao, kẻ đứng đầu COSTIND (The Commission of Science, Technology, and Industry for National Defense ~ Ủy Ban Khoa Học, Kỹ Thuật và Kỹ Nghệ về Quốc Phòng), một “máy điện toán loại Cray để được dùng … giúp thiết họa các loại vũ khí nguyên tử mới hơn và an toàn hơn”. 164
  • Trước đây, Chính phủ Mỹ đã từng nêu tên công ty Great Wall Industries thuộc quyền sở hữu của Quân đội Tàu cộng như đã có bán hỏa tiễn cho Pakistan và Iran. Ấy vậy, nay Tổng thống Clinton đã tỉnh bơ ký phép đặc miễn về quân sự để công ty Loral có thể bán các vệ tinh cho chúng. Đương sự cũng đã ký để cấp các đặc miển đó cho công ty Tandem hầu được phép bán các máy siêu điện toán cho cái công ty nổi tiến chuyên phổ biến vũ khí nguyên tử Great Wall Industries đó. Vào tháng 8 năm 1994, hãng Tandem đã từng ký kết một hợp đồng xuất khẩu trị giá đến cả 100 triệu Mỹ kim về máy điện toán qua cho công ty Great Wall Industries của cái Quân đội tàu cộng nhân một chuyến thăm viếng của phái đoàn thương mại của Ron Brown.
  • Chiếu theo một bản ghi nhớ ‘memo’ bí mật ngày 12 tháng 3 năm 1998, soạn thảo do Gary Samore, một phụ tá của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thuộc Tòa Bạch Ốc, thì Clinton cũng đã dự định sẽ ký kết thêm nhiều giao kèo thuận lợi hơn nhiều cho bọn Cộng sản. Để đổi lại [cho một lời hứa khác] của Tàu cộng nhằm [lại] ngưng cung cấp các kỹ thuật về hỏa tiễn cho Iran, Libya và Pakistan – mà đều chỉ là những lời cam kết vô tội vạ của các tên sở trường chuyên viên nói láo – Clinton đã sẵn sàng, thực sự nếu không nói là háo hức, để “đẩy nhanh … tiến trình xuất cảng [hỏa tiển] Mỹ qua cho Trung Quốc “.

“… CÁC CÔNG TY [MỸ] … ĐÃ BIẾN THÀNH

NHỮNG TAY VẬN ĐỘNG HÀNH LANG CHO BỌN TRUNG QUỐC”

— Bình luận gia Georgie Anne Geyer

Hãng McDonnell Douglas — loại vũ khí tàng hình

Trong năm 1994, một nhân viên cao cấp đặc trách về kiểm soát dịch vụ xuất cảng thuộc Bộ Quốc phòng tên là Peter Leitner, đã quyết định bác bỏ đơn xin của hãng McDonnell Douglas nhằm bán máy móc về làm sản phẫm (machine tools). Các máy này được cung cấp bởi một hãng xưởng chuyên làm loại Phóng pháo cơ B-1 ở Columbus, Ohio. Các máy này đều sẽ được gởi đền cho công ty CATIC, một công ty của chính phủ Tàu cộng.

Cho dù nếu bán thì sẽ giúp Tàu cộng phát triển các loại vũ khí tàng hình, kể cả hỏa tiễn diệt chiến hạm Silkworm’, Leitner vẫn được lệnh phải thay đổi phúc trình về đề nghị bác bỏ của mình. Ông đã từ chối, nhưng chính quyền Clinton thì vẫn đã cứ tỉnh bơ cho phép bán mà thôi.

Trong mùa hè năm 1999, nhân trong những buổi điều trần trước Quốc hội, Peter Leitner cũng đã miễn cưỡng tiết lộ ra các hành vi trả đũa chống lại mìnhsau đó: không còn được đề nghị thăng chức, cũng không được thưởng tiền như các đồng nghiệp nhu nhược hơn từng nhắm mắt chịu nghe lệnh trên.

Ngày 19 tháng 10 năm 1999, Quan Thuế Hoa Kỳ đã thành công hoàn tất thủ tục truy tố cái công ty sản xuất phi cơ đó, cùng bọn tà-lọt Tàu và đám nhân viên của chúng.

Ngày 11 tháng 5 năm 2001, CATIC đã chấp thuận trả phạt vạ 1 triệu 3 Mỹ kim – chỉ có tám ngày sau khi Bộ Thương Mại phát động kiểm tra một công ty tại Orlando đang chuyên bán loại “radiation hardened integrated chips ~ loại ‘chip’ liên hợp được chuyển cứng bằng phóng xạ” của công ty CATIC, chuyên dành cho hỏa tiễn.

Lockheed Martin — động cơ “kích hoạt” hỏa tiễn

Trong khi đang có ba tên thương gia chuyên bán mặt hàng quốc phòng đang mãi ăn nhậu với đại sứ Mỹ lúc đó ở Bắc Kinh là Đô đốc Joseph Prueher, nguyên thuộc Hải Quân Mỹ (nay đã về hưu), thì Bộ Ngoại giao đã quyết định phải khởi tố hãng Lockheed Martin vì đã hỗ trợ cho các công ty Asiasat và Great Wall Industries, các hãng chuyên sản xuất hỏa tiễn của Tàu cộng, hoàn thiện việc sản xuất các động cơ “kích hoạt” hỏa tiễn mà lâu nay chúng vẫn cứ bị thất bại không làm được. Henry Sokolski, một cựu viên chức của Tòa Bạch Ốc, đã cho biết là các động cơ “kích hoạt” sẽ cho phép Tàu cộng có thể đánh phá riêng rẻ từng mục tiêu khi dùng các đầu đạn chung của chỉ một hỏa tiễn thôi. Bộ Tư pháp Mỹ của Clinton thì lại bác bỏ không chịu truy tố về hình sự hành vi này. Hãng này thì vẫn có thể bị phạt vạ dân sự cho tới cả 1 triệu 5 Mỹ kim (cho toàn thể 30 vi phạm) và bị cấm xuất cảng sản phẫm trong vòng ba năm.  164

Thượng nghị sĩ Bob Smith (Cộng Hòa – New Hampshire) có cho biết, “Sự kiện này quả thật cho thấy một việc quá ư là vô lý … đi ăn nhậu với hai tay thầu khoán đang bị chính phủ liên bang điều tra về tội cung cấp các bí mật quân sự cho một nước thù nghịch”.

Tuy cứ cương quyết không nhận tội, trong tháng 6 năm 2000, hãng Lockheed Martin vẫn đã chịu đóng phạt vạ số tiền 13 triệu Mỹ kim và đã phải cam kết với Tòa sẽ chi tới 5 triệu Mỹ kim hầu để theo dõi kiểm soát các hợp đồng sẽ ký kết với ngoại quốc của họ. Đó đã là món tiền phạt vạ lớn nhất mà đã từng được tuyên án chiếu theo Đạo luật Arms Control Export Act (Kiểm soát về Vũ khí được quyền Xuất cảng).

Các công ty Loral Corporation và Hughes Aircraft Company — kỹ thuật hướng dẫn hỏa tiễn

Cả hai tay Giám đốc Điều hành CEO của các công ty Loral và Hughes đều đã có quan hệ chính trị thân mật với Clinton và cũng đang bị điều tra từ cả ba năm qua trước, khi chúng bỏ thì giờ ra “ăn nhậu” với vị đại sứ và các công ty Tàu cộng chuyên sản xuất hỏa tiễn cùng các hệ thống bảo mật thông tin liên lạc .

Tại vùng thung lũng Silicon Valley, tay Giám đốc điều hành Michael Hughes Armstrong, một kẻ từng đóng góp tiến bạc cho Clinton, đã vẫn từng dẫn đầu các cuộc phản đối về những luật lệ nhằm kiểm soát những mặt hàng nào mới được quyền xuất cảng. Y đã vẫn cứ “tự biên tự diễn giải thích về các quy tắc” hầu giúp có thể cho phép chia sẻ các kỹ thuật học với bọn Tàu cộng.

Theo bản Báo cáo Cox thì, “Trong hai năm 1993 và 1995, Hughes đã không hề nạp đơn xin phép xuất cảng  … với Bộ Ngoại Giao … vì Hughes đã biết trước là Bộ … sẽ không chấp thuận  …

“Để lòn léo qua ràng buộc này, Hughes bèn xin một giới chức thường … tại Bộ Thương mại để chấp thuận cho y … và rồi lớn tiếng tuyên bố đã sự chấp thuận của một … viên chức phụ trách về kiểm tra tại Bộ Quốc phòng … dù Hughes biết rỏ là, chiếu theo luật định, cả hai đều không hề được quyến ký các giấy phép bắt buộc “.

Bộ Thương mại đã từng cho phép Hughes giúp đở tiến trình phóng hỏa tiễn dùm cho bọn Tàu cộng vào năm 1995 trong thời gian mà tên Giám đốc Điều Hành Hughes Armstrong đứng đầu Hội đồng cố vấn về xuất cảng của Clinton. Theo tờ The New York Times thì “thời kỳ đó là giao đoạn nới lỏng cực kỳ trầm trọng nhất trong việc kiểm soát hạn chế xuất cảng trong lịch sử của toàn nước Mỹ”.

Năm 1996, chính quyền Clinton đã chuẩn phê cho hãng Hughes thiết lập cho tới cả 522 trạm dưới đất với khả năng đón nhận những liên lạc tín hiệu đã được mã hóa từ các vệ tinh chuyển xuống cho các lực lượng bộ binh, hỏa tiễn và không quân Tàu cộng.

Trong khi đó thì Chủ tịch hãng Loral là Bernard Schwartz bèn viết một chi phiếu 100.000 Mỹ kim trong tháng 6 năm 1994 gởi cho Ủy ban Quốc gia Đảng Dân Chủ. Rồi sau đó thì Schwartz đã được phép gia nhập phái đoàn giao thương do Bộ trưởng Thương mại Ron Brown dẫn đầu.

Theo Charles Smith thì, “Tổng thống Clinton đã đích thân sắp xếp cho Chủ tịch hãng Loral là Bernard Schwartz để tiếp xúc được với tay Phó Bộ trưởng Tàu cộng đặc trách về ủy ban Commission for Science, Technology and Industry for National Defense ~ COSTIND (Ủy ban Khoa Học, Kỹ Thuật và Kỹ Nghệ Quốc Phòng) là tay Tướng Shen Rou-jun”. Năm 1994, tên Tướng Shen đã hoàn thành ký kết các hợp đồng với tên Schwartz của hãng Loral để có thể cung cấp cái dịch vụ phóng hỏa tiễn rẻ tiền của Tàu cộng cho các vệ tinh mà đã rất ư là tốn kém để sản xuất của Mỹ.

Tổng thống Clinton còn đặc miển thêm những hạn chế về xuất cảng cho hãng Loral trong tháng 2 năm 1998, và như vậy, đã cho phép xúc tiến các vụ phóng vệ tinh, ngược lại với ý kiến cố vấn của các giới chức phụ trách về việc kiểm soát xuất cảng tại Tòa Bạch Ốc. Nhưng khả năng phóng vệ tinh của hãng Loral rồi thì cũng đã phải ngưng lại một lần nữa, sau khi Quốc hội đã ra luật hũy các quyền đăng bộ về vệ tinh mà từ lâu nay vẫn thuộc một Bộ Thương mại rất ư là thờ ơ, nếu không nói thậm chí còn là thù địch, với nền an ninh quốc gia.

Quyết định đặc miễn từ Clinton, rồi vụ ăn nhậu của vị  Đại sứ vào năm 2000 đã thực sự phá hoại cuộc truy tố về hình sự của Bộ Tư pháp đối với các vụ xuất cảng hỏa tiễn cùng các kỹ thuật nhạy cảm khác.

Điều thật là rõ ràng, món quà tặng về những khả năng kỹ thuật hướng dẫn hỏa tiễn từ hai hãng Loral và Hughes đã rất ư là hữu ích cho Tàu cộng. Thật vậy, theo Bộ Quốc phòng, các công trình của hai hãng Hughes và Loral để nghiên cứu phân tích và so sánh về trình độ kỹ thuật của các lần phóng bị “thất bại” của Tàu cộng trong tháng Giêng năm 1995 và trong tháng 2 năm 1996, đã có kết quả là mức độ chính xác của hệ thống hướng dẫn hoả tiễn của Tàu cộng đã được cải tiến thật là triệt để. (Dạo 1992 thì một Ngũ-giác-đài cứng rắn hơn của TT Bush, chớ không phải là cái Bộ Thương mại, đã vẫn hạn chế việc chia sẻ thông tin kỹ thuật, nhân sau một lần Tàu cộng cũng đã từng thất bại khi ráng phóng hỏa tiễn của chúng).

Các quyết định đặc miễn của Clinton và thái độ bất cần đã cho phép hai hãng Loral và Hughes  165  xuất cảng được kỹ thuật phóng vệ tinh đã được cải thiện qua cho bọn Tàu cộng. Sau khi được cải thiện thì khả năng phóng hỏa tiễn của Tàu cộng đã được cải tiến rất nhiều  – với khả năng chính xác đạt được là chỉ trong vòng vài ‘yard’ khi bắn vào tới cả 49 tiểu bang của Mỹ.

Bản Báo cáo Cox bèn kết luận, “Nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ đã bị thua thiệt”. Các công ty Loral và Hughes đã cải tiến giúp dùm “hệ thống điều chỉnh hướng dẫn loại hỏa tiễn Trường Chinh ~ Long March của Trung Quốc”.

Tình trạng như vậy cũng từng xẩy ra với vụ đặc miễn của Clinton cho hãng Motorola về kỹ thuật giúp đưa vào quỹ đạo các vệ tinh. Các kỹ thuật của công ty Motorola khiến tăng gấp đôi khả năng phát hỏa các đầu đạn. Chúng cũng cho phép điều khiển riêng rẻ độc lập mổi đầu đạn hạch tâm hầu giúp đánh “xuyên thủng hệ thống phòng thủ của đối phương”.

Rồi bất chấp là đã từng có một cuộc điều tra kéo dài cả ba năm đối với các hãng Loral và Hughes về tội chuyển giao kỹ thuật học quốc cấm về phóng và điều khiển hỏa tiễn cho Tàu cộng, một sự kiện đầy tính tái diễn lại đã vẫn cứ xẩy ra, khi vị đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh là Đô đốc về hưu Joseph Prueher lại đã vẫn cứ tiếp xúc với các công ty chuyên sản xuất vệ tinh của Tàu cộng vào ngày 16 tháng 3 năm 2000.

Các hãng Loral và Hughes đã cung cấp loại dữ liệu về hỏa tiễn giúp cho hỏa tiễn của Tàu cộng trở nên chính xác, còn Đại sứ Prueher  thì lại đứng ra tổ chức một dạ tiệc để giúp các đại diện của mấy hãng Loral, Hughes và Lockheed Martin tiếp xúc với tay Tàu cộng chủ tịch công ty China Aerospace Science & Technology Corp. ~ CASC (Công ty Khoa Học và Kỹ Thuật Không Gian Trung Hoa).

Công ty CASC đặc trách chương trình hỏa tiễn của Tàu cộng. CASC cũng đã từng có đóng góp tiền bạc một cách bất hợp pjáp cho bộ sậu Clinton-Gore trong năm 1996. Trong lần tiếp xúc này thì cũng có tay đại diện của hãng China Telecommunications Broadcast Satellite Corp. (ChinaSat) của Tàu cộng.  Theo Defense Intelligence Agency ~ DIA (Cơ quan Tình báo Quốc phòng), ChinaSat đã từng phóng những vệ tinh quân sự dùng cho một hệ thống mới nhằm chỉ huy, kiểm soát, truyền tin và thu thập tình báo cho Quân đội Nhân dân Giải phóng Tàu.

Thượng nghị sĩ Bob Smith đã từng lên tiếng phản đối mọi lần mời mọc ăn nhậu này đối với các công ty đó.

Ngũ-giác-đài cũng có quan điểm là các vụ xuất cảng đó đã thật sự rỏ ràng giúp cải thiện mực độ chính xác của các hỏa tiễn nguyên tử của Tàu cộng. Nếu sẽ bị xét ra là có tội, các công ty Loral và Hughes sẽ bị tuyên phạt về hình và Lockheed Martin thì sẽ bị phạt vạ về dân sự.

Việc “tối tân hóa” các lực lượng hỏa tiễn nguyên tử của Tàu cộng chính lại đã được giúp đở bởi các kỹ thuật hiện đại nhất của Mỹ mà Tàu cộng đã đánh cắp được nhờ đám gián điệp, mà cũng chính nhờ những vụ xuất cảng kỹ thuật học từng được Clinton cho phép. Những loại kỹ thuật đó của Mỹ đã giúp cho những hỏa tiễn của chúng sẽ có khả năng tấn công chính xác hơn nhiều để đánh vào các mục tiêu tại Mỹ như chưa từng bao giờ đã có được. Nhờ chính sách tự nguyện cung cấp khả năng hướng dẫn về hỏa tiễn này của cái đám từng đóng góp tiền bạc giúp Clinton tại các hãng Hughes và Loral, Tàu cộng rồi đã sẽ tăng gấp ba những lần phóng vệ tinh của chúng, chỉ trong vòng có 5 năm mà thôi.

Chiếu theo Trung Tâm về Chính Sách An Ninh (Center for Security Policy) thì Bắc Kinh “có thể trở thành, trong vòng 15 năm tới, một mối đe dọa hàng đầu cho các kế hoặch không gian của Mỹ”. “Trung Quốc [đang] … đầu tư về các xe thăm dò được phóng lên bằng hỏa tiễn và hệ thống nghiên cứu vũ trụ có người điều khiển” và “Trung Quốc … đang phát triển nhanh chóng … các … phương tiện cùng khả năng để thách thức … sự thống trị của Mỹ”. 166 Tay bạn bè của Anh quốc là Li Ka-Shing thì lại đang tài trợ cho các hợp đồng về vệ tinh giữa hãng Hughes và hãng ChinaSat, cái công ty do Quân đội Nhân dân Tàu cộng làm chủ.  167

Được trang bị nhờ các kỹ thuật hướng dẫn hỏa tiễn cùng đầu đạn từng đã đánh cắp được của Mỹ, thế hệ mới về hỏa tiễn tầm xa của Tàu cộng gần như đã sẵn sàng để được triển khai.

Cả tới bốn lần, Tàu cộng đã thử nghiệm thành công loại hỏa tiễn DF-31, có khả năng lưu động trên đường bộ và sử dụng được loại nhiên liệu đông cứng với tầm hữu hiệu trong phạm vi 5.000 ‘mile’. Đúng ra thì Hỏa tiễn DF-31 sẽ chỉ mang một đầu đạn, và chính yếu là được thiết bị dưới hầm. Chúng rồi sẽ sớm được triển khai mà thôi. Một kiểu tương tự khác, dành để phóng từ tàu ngầm gọi là JL-2, đã được thử nghiệm thành công, và hiện đang là mối đe dọa cho toàn vùng bờ biển phía Tây của Mỹ.

Bill Gertz có viết trên tờ The Washington Times vào ngày 22 tháng chạp năm 2000, là “DF-31 là hệ thống chiến lược đầu tiên của Trung Quốc mà đã phối hợp được các kỹ thuật về hỏa tiễn và đầu đạn của Mỹ từng được đánh cắp tại Hoa Kỳ nhờ các điệp vụ gián điệp, cũng như là nhờ những nỗ lực thu mua kỹ thuật khác, theo lời các giới chức tình báo Mỹ”. 168

Trong số công ty từng thu lợi được qua các vụ bán kỹ thuật tiên tiến tân kỳ cho Tàu cộng thì cũng đã có những cá nhân chạy hàng, chuyên làm trung gian cho Tàu cộng với đám cộng tác viên tham lam ngay của chúng. Đám này nguyên là bọn chuyên gia có học vấn cao, vẫn từng huynh hoang lớn tiến nào là Tàu cộng không thể nào là một mối đe dọa. Thật sự ra thì chúng cũng chỉ là đám điệp viên tâm lý chiến của Tàu cộng  thôi. Một số thì rỏ ràng đang làm việc ăn lương của Tàu cộng trong tư cách “cố vấn viên”. Cũng như các tên Armand Hammer, IF Stone, Harrison Salisbury cùng đồng bọn, chúng quả thật sự đã chỉ phục vụ giúp Cộng sản mà thôi.

 ĐIỆP VIÊN TÂM LÝ CHIẾN — BỌN GIÁN ĐIỆP KHÔNG ĐĂNG KÝ/

CHUYÊN VIÊN VẬN ĐỘNG HÀNH LANG CHO TÀU CỘNG

BỌN ĐIỆP VIÊN TÂM LÝ CHIẾN

Một quan sát viên đã trao đổi với báo Insight on the News, “Đại sứ Trung Quốc tại Washington, Lý Triệu Tinh, quả đã quá ư là tự mãn. Ông ta đã tổ chức một buổi họp mặt cho khoảng 50 nhân viên của Quốc hội và của các nhóm vận động hành lang. Vị  đàn ông rất là hạnh phúc đó bèn tuyên bố: “Chúng tôi đã không hề cần phải vận động để có được quy chế Đối tác Giao thương Bình thường Vĩnh viễn (Permanent Normal Trade Relations  ~ PNTR). Giới doanh nghiệp Mỹ hiện đang phải đãm lo việc này cho chúng tôi”. Và thì, “Mọi người lặng câm”. Đúng vậy. Sau đó thì Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu 85 chống 15 để thông qua quy chế PNTR cho bọn Tàu cộng.

Sandy Berger, tay cố vấn an ninh quốc gia của Clinton, nguyên là một luật sư chuyên về luật giao thương. Tổ hợp luật sư trước đó mà Berger hành nghề, Hogan và Hartson, đã từng êm xuôi công khai nhiệm cách cả cho Tàu cộng lẫn Uỷ ban Quốc gia đảng Dân chủ. Berger và các đồng bọn thương gia đều cùng, hoặc là không đếm xỉa gì tới tiêu chuẩn an ninh quốc gia, hoặc là đã từng tin chỉ tiến trình giao thương cũng sẽ đủ để mang lại tự do cho Trung Hoa lục địa.

Nhưng  không phải chỉ một mình Berger chủ trương như vậy đâu. Gần như tất cả mọi cựu Bộ trưởng Ngoại giao, cựu cố vấn về an ninh quốc gia và các cụu Phó Bộ trưởng chủ chốt thì cũng đều đã “hưởng lợi” nhân việc giao thương với Tàu cộng. Chỉ có điều la họ đã tránh không chịu công bố công khai các mối quan hệ với Tàu cộng của họ mà thôi. Tầng lớp ưu tú của Mỹ thì cũng chỉ xử sự y như những tên tài phiệt Tàu ở ngoại quốc. Sau một thời kỳ ráng tài trợ phong trào dân chủ đối lập tại Trung Hoa lục địa CS trước khi vụ thảm sát Thiên An Môn xẩy ra, các tên tài phiệt Tàu ở ngoại quốc đã chấm dứt giúp đở các nhà bất đồng chính kiến. Để thay vào đó, Đặng Tiểu Bình đã dụ dỗ được chúng bằng cách nhữ mồi ra với những mối lợi đầu tư đáng kể trong lục địa. Theo nhà báo Anh với 20 năm kinh nghiệm về Tàu là Jasper Becker trên tờ The Chinese thì, “Việc đầu tư đã biến họ thành những con tin ngay chính của Bắc Kinh và nay thì chính họ lại là trong số lớn tiếng nhất hô hào là phải cần có một chính sách hòa hoãn với Trung Quốc”. 169

Đã từng có nhiều hơn là 30.000 tín đồ giáo phái Pháp Luân Công bị bỏ tù. Dịch vụ buôn bán các bộ phận cơ thể của tử tù thì cứ càng ngày càng bành trướng. Ấy vậy, đám cộng tác Mỹ hùa theo tại Bắc kinh thì đã không hề thèm để ý đến những việc này. Thường thì các thương gia rất ư là am tường tình hình, nhưng cứ mãi lo buôn bán kiếm lời thôi thì cũng không có gì là lạ đối với họ thôi. Đóng vai trò những tên điệp viên tâm lý chiến dĩ nhiên mang lợi lại hơn nhiều mà. Tiêu chuẩn đạo đức đúng là không tốt cho việc kinh doanh đâu.

Quyền lợi mâu thuẩn thật là lộ liễu, những khi các cựu Bộ trưởng Ngoại giao từng ủng hộ Táu cộng thì nay lại đâm đi làm việc có ăn lương cho Tàu và cho/hay cho các công ty chuyên vận động hành lang ở Quốc hội để cổ võ cho việc giao thương với Tàu cộng.

Trên nguyên tắc thì không có gì là bất hợp pháp để đại diện cho khách hàng hay để thay mặt vận động cho các quyền lợi của bất kỳ ai, dù ngoại quốc hay không. Luật định chỉ là phải công bố công khai. Nhưng khác với tổ chức vận động cho Đài Loan dạo cũ, đã không hề có bất cứ ai trong số các cựu giới chức Mỹ nào đã chịu khó làm thủ tục đăng bộ như là làm đại diện cho Tàu cộng. Không một hãng truyền tin chính thống nào mà đã từng có nêu lên sự kiện là những kẻ được gọi là có khả năng chuyên môn đó thì cũng đã từng có thể kiếm tiền ngay cho chính họ, nhân những lần phát biểu ý kiến “có tính cách chuyên gia” của họ về vấn đề giao thương với Tàu cộng. Chỉ có một vài người can đảm đã dám nêu lên những vụ quyền lợi mâu thuẩn: Richard Bernstein và Ross Munro, đồng tác giả của tác phẫm Coming Conflict with China; Joe Farah của tờ WorldNetDaily; Michael Waller và những người khác trong báo Insight on the News; Gene Crocker, McAlvany với Mindszenty Report.

Một bài trên Mindszenty Report từng cho biết, “các cựu Bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger, George Shultz, Alexander Haig, Lawrence Eagleburger và Cyrus Vance … mỗi người … đều cùng đã từng được trả tới hàng chục ngàn Mỹ kim bởi các công ty Mỹ đang làm ăn ở Trung Hoa lục địa”.

Richard Bernstein và Ross Munro đã từng tường thuật diển tiến của một vụ kiếm tiền tại Bắc Kinh là ra sao. “Tay chuyên gia cố vấn thì cũng đã quen biết trước các tên lãnh đạo Tàu cộng, cái công ty Mỹ bèn được cho phép mở một cuộc họp … tay chuyên gia cố vấn bèn được, cũng cái công ty đó thưởng tiền, và … để củng cố thêm của uy tín mình … trong khả năng môi giới với giới chức quyền lực Tàu cộng, y bèn có những lần công khai tuyên bố ủng hộ mọi chính sách mà Bắc Kinh mong muốn”.

Sáu cựu Bộ trưởng Ngoại giao từng đã công khai ủng hộ quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Tàu cộng – tức là miễn cho bọn Tàu cộng hàng năm không bị Quốc hội kiểm tra.

Và chúng là:

Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Mỹ, đã từng đóng vai chuyên viên tổ chức cho tổ chức Business Coalition for U.S.-China Trade (Liên minh Kinh doanh cho Giao thương Hoa Kỳ-Trung Quốc). Còn cái tổ hợp  trị giá đến cả 26 tỷ Mỹ kim tên là American International Group, thì cũng đã từng là một thân chủ chính của Kissinger và có đặt văn phòng tại Thượng Hải, cũng như nguyên là một tổ chức lãnh đạo phong trào vận động hành lang tốn kém đến cả hàng triệu Mỹ kim để dành cho Tàu cộng cái quy chế Permanent Normal Trade Relations ~ PNTR (Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn). Tại Trung hoa lục địa, từ năm 1992, hãng AIG có báo cáo tiền lời cho tới cả 200 triệu Mỹ kim riêng chỉ trong năm 1999. Dĩ nhiên thì Kissinger cũng có chấm mút trong số tiền đó mà thôi.

David Rothkopf, tay xếp cũ của John Huang tại Bộ Thương mại thời Clinton, thì cũng quay đi làm việc cho Kissinger Associates trong tư cách giám đốc điều hành.

Các khách hàng khác của công ty Kissinger Associates từng kinh doanh với Tàu cộng thì có ngân hàng Chase Manhattan Bank, các công ty Coca-Cola, American Express, Continental Grain, H.J. Heinz, Atlantic Richfield, ngân hàng Midland Bank và S.G. Warburg.

McAlvany đã viết là, “Bình thường thì lệ phí cố vấn hàng năm vẫn trị giá tới mức cả 6 hay 7 con số. Để trở thành một công ty khách hàng của Kissinger, thì trước tiên, cứ phải trả một khoản lệ phí chết là 200,000 Mỹ kim. Trong một số vụ thì ngay chính Kissinger cũng sẽ chịu ngồi chung trong hội đồng quản trị của công ty”.

Bernstein và Munro ghi nhận, “Ngay trong ngày xẩy ra vụ thảm sát Thiên An Môn, trong mục bình luận trên báo, Kissinger đã gọi Đặng Tiểu Bình là “một trong những nhà cải cách vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc”. Y đã tuyên bố Đặng là một người  “từng đã chọn một tiến trình nhân đạo hơn và ít hỗn loạn hơn cho Trung Quốc”.

Gene Crocker cho biết, “Kissinger từng nổi tiếng đã chinh phục rồi ru ngủ được [Lãnh tụ Đa số Hạ viện] Newt Gingrich vào năm 1995, và thuyết phục được ông ta không còn ràng buộc điều kiện ‘nhân quyền’ trong việc biều quyết về giao thương …”.

Mike Waller thì đã từng thăm dò chỉ trích Kissinger bằng cách nêu lên vấn đề quyền lợi mâu thuẩn. Kissinger bèn “dạy dổ” Waller bằng cách la lớn lên, “Ông nghỉ điều gì đã cho phép ông đặt một câu hỏi đầy xúc phạm như vậy?”. Kissinger cũng nói với Insight on the News là mình không có từng nhận tiền gì cả từ phía Tàu cộng. Dĩ nhiên, các khách hàng của công ty ông ta thì mới có bổn phận trả lương cho Kissinger mà thôi, với chính tiền của họ mà thôi, chớ đâu có ai khác dính líu vô đâu mà.

Như đã nêu ở trên, Alexander Haig, cựu tư lệnh Lực Lượng NATO, cựu Bộ trưởng Ngoại giao và cựu Tổng Tham Mưu Trưởng, cũng đã từng là một “cố vấn quốc nội lẫn quốc ngoại danh dự cấp cao” có ăn lương của công ty China Overseas Shipping Company ~ COSCO (Công ty Hải vận Xuyên Đại dương Trung quốc).

Haig đã từng vận động để giao Trạm hải quân Naval Station ở Long Beach cho bọn Tàu cộng. Haig nguyên là chủ nhân của Associates Worldwide, cũng từng cố vấn cho hãng United Technologies, chuyên về sản xuất động cơ phi cơ phản lực, về máy điều hòa không khí và về thang máy. Công ty này đã kiếm được cả hàng tỉ Mỹ kim qua 17 hợp đồng liên doanh ở Trung Hoa lục địa. Các mối quan hệ với khách hàng của Haig khiến ta nhớ lại vụ các đặc quyền thương mà Armand Hammer đã dành được ở Liên Xô về viết chì, về chất ‘asbestos’, về hóa chất, về sản phẫm nghệ thuật, về ngân hàng, về thuốc men và về xăng dầu.

Hành vi ủng hộ giao thương với Tàu cộng của Haig, cũng giống như Kissinger, còn bao gồm luôn cả việc hạ bút viết những cột báo và đi diễn thuyết bình luận trong tư cách một chuyên gia trên vô tuyến truyền hình. Tờ McAlvany Intelligence từng tường thuật, “Haig đã tỏ ra … khá hiếu chiến trong việc binh vực bọn đồ tể Tàu cộng … thậm chí còn binh vực bọn lãnh đạo Tàu cộng, chỉ ngay có một vài tháng sau khi chúng từng ra tay tàn sát hàng ngàn sinh viên của chúng khi họ xuống đường biểu tình vào năm 1989.

Khi (vào đầu năm 96) Tàu cộng phong tỏa eo biển Đài Loan và phóng những hỏa tiễn với đầu đạn khả năng nguyên tử … ở ngoài khơi bờ biển của Đài Loan … và đe dọa sẽ đánh bom nguyên tử cả Los Angeles nếu Mỹ dám cả gan đến giúp Đài Loan, Haig bèn điên cuồng gọi điện thoại cho các dân biểu và nghị sĩ trong Quốc hội, để binh vực Tàu cộng cùng và đôn đốc [Quốc hội] đừng áp đặt các lệnh trừng phạt về thương mại … “.

Bernstein và Monroe đã từng không hề tiếc lời chỉ trích: “. Kissinger và Haig là hai tay cố tình rỏ ràng tham dự trong mối thương vụ đầy tham nhũng này, và cũng là những kẻ tán tận lương tâm nhất nhằm phục vụ cho đường lối của cái đảng ở Bắc Kinh”. Theo nhiều nguồn tin khác nhau thì hoặc là Kissinger, hay hoặc là chính Haig đã khiến Ross Munro bị đuổi khỏi Viện Nghiên cứu Chính sách (Foreign Policy Research Institute) ở Philadelphia. Nếu đúng vậy, thì quả tư cách tham nhũng của chúng đã trở nên quá ư là gian tà ác độc. Cũng tốt thôi, khi chỉ có một mình y là Alexander Haig mới dám tự cho phép là nay mình lên “cầm quyền” khi Tổng thống Reagan đang thập tử nhất sinh vì viên đạn của tên sát thủ.

George Shultz, cựu Ngoại trưởng mà vào năm 1984 đã từng ủng hộ việc Hồng Kông phải bị trả về cho TC, từng tham dự hội đồng quản trị của China International Trust and Investment Corporation ~ CITIC (Công ty Tài khoản và Đầu tư Quốc tế Trung quốc), cái cánh tay nối dài để đầu tư của Tàu cộng với tài khoản hơn cả  20 tỷ Mỹ kim của Hội đồng Nhà nước Cộng sản Tàu cộng. CITIC đã luôn luôn đúng là một người bạn rất tốt của cái đảng Cộng sản và Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

James A. Baker III, cựu Trưởng Phòng Nhân Viên của Tổng Thống (1981-1985) và cựu Bộ trưởng Ngoại giao (1989-1992), là một thành viên cấp cao trong tổ hợp luật sư Baker, Baker & Botts, một tổ hợp gia đình với hơn 500 luật sư và có thân chủ trên khắp toàn thế giới. Tổ hợp chuyên cố vấn họ về những luật lệ kiểm soát các loại kỹ thuật tiên tiến và về vấn đề phổ biến vũ khí, trong số rất nhiều đề tài khác nữa. Trang trên Liên mạng của tổ hợp thì đầy tin tức mới nhất từ Trung hoa lục địa.

Người cựu bộ trưởng này cũng đã là một cố vấn cao cấp của nhóm The Carlyle Group từ năm 1993. Carlyle Group là một công ty đầu tư tư nhân toàn cầu với các văn phòng  trên toàn khắp thế giới, kể cả Hồng Kông, chuyên về khoa học hàng không, quốc phòng, kỹ nghệ truyền tin và viễn thông, trong số rất là nhiều đề tài khác. Văn phòng  Hồng Kông của họ thuộc loại quan trọng và có đầy đủ mổi loại nhân sự khi cần.

Vào cuối năm 1999, Tập đoàn kinh tài Carlyle Asia đã quyết định dành ra tới 750 triệu Mỹ kim mà họ sẽ dùng để đầu tư vào Trung hoa lục địa và các nơi khác ở vùng Thái Bình Dương. Cựu Tổng thống George Bush có phục vụ trong ban cố vấn của họ. Chủ tịch Hội đồng là Frank C. Carlucci và một cố vấn cao cấp khác là Richard G. Darman. Carlucci cũng là chủ tịch của U.S.- ROC/Taiwan Business Council (Hội đồng Kinh doanh Mỹ-Trung Hoa Dân Quốc/ Đài Loan), một hiệp hội được hình thành vào năm 1976 nhằm thúc đẩy giao thương với Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan.

Tổ hợp luật sư Baker, Baker & Botts và Carlyle Group cũng có thể tốt nhất được xem như là có tính cách thực tế, và hoàn toàn không để bị ràng buộc bởi các đạo lý căn bản. Vào đầu năm 1996 thì James Baker III cũng đã từng tuyên bố là, “các mối liên kết về kinh tế đang gia tăng giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài, đặc biệt . . . là đầu tư ngoại quốc  … tượng trưng  … mối bảo đảm tốt nhất là Trung Quốc sẽ là một động lực cho tình trạng ổn định …”.

Rồi, y còn phụ thêm nữa, “Chúng ta cần phải cân bằng . . . các . . . quyền lợi của chúng ta với việc cải thiện nhân quyền trong tiến trình cộng tác giao thương mà phải công nhận là mục tiêu kiếm lời thì cũng không kém phần quan trọng”.

Lợi ích thương mại (tiền lời) thì cũng “không kém phần hấp dẫn” hơn là các nhân quyền cùng nền an ninh quốc gia, đó là theo quan điểm của Baker. Tuy nhiên việc phản đối chế độ nô lệ, chính sách bắt buộc phá thai cùng buôn bán nội tạng con người thì cần phải có tính cách “bắt buộc hơn” hơn là giao thương. Ngăn chặn được chiến tranh hạt nhân bằng ngay sức mạnh của Mỹ chắc chắn phải có tính cách “lợi ích” về mặt đạo đức hơn nhiều, nếu so với các lợi lộc về giao thương cùng kinh doanh.

Ronald Reagan thì cũng đúng là phải khôn hơn là tay James Baker này nhiều.

Reagan đã từng chối bỏ khái niệm “tương đương về đạo đức”, đã từng kêu gọi Gorbachev nên “phá bỏ cái bức tường đó đi” và đã từng cam kết sẽ khuất phục được cái “đế chế ác quỷ” đó.

Lawrence Eagleburger, Bộ trưởng Ngoại giao trong năm 1992 và 1993, là một cựu chủ tịch của tổ hợp Kissinger Associates. Từ năm 1993, ông ta đã là cố vấn cao cấp về chính sách ngoại giao tại tổ hợp luật sư ở Memphis  tên là Baker, Donelson, Bearman and Caldwell.

Cựu lãnh đạo khối đa số tại Thượng nghị viện và Trưởng ban Nhân viên Tòa Bạch Ốc Howard Baker phụ trách điều hành văn phòng của tổ hợp tại Washington. Cuối năm 1998, tạp chí Fortune có xếp hạng Public Policy Group (Nhóm Chính sách Công) của tổ hợp như là một trong 10 tổ chức vận động hành lang hàng đầu tại thủ đô. Tổ hợp chuyên về luật thương mại quốc tế, về viễn thông và về quốc phòng, mà đều là những mối quan tâm lớn của Tàu cộng.

Nguồn lợi tức sinh sống của Warren Christopher là từ tổ hợp luật với sinh hoạt ưu tiên liên quan đến những hợp đồng nhượng độc quyền khai thác đặc biệt tại Trung Hoa lục địa. Christopher đã từng là Ngoại trưởng của bộ sậu Clinton-Gore từ 1993 đến 1996 và cũng là cựu chủ tịch và cộng tác viên cao cấp của một tổ hợp lớn về luật quốc tế tên là  O’Melveny & Myers, với các văn phòng đặt tại Hồng Kông và Thượng Hải.

Các thân chủ của tổ hợp gồm cả các hãng Lockheed Martin và Occidental Oil. Lockheed Martin thì đã từng bị truy tố, giống như hai công ty Loral và Hughes, vì đã từng giúp đở cho Tàu cộng cải thiện mực độ chính xác của hỏa tiền và đại pháo. Hãng Lockheed Martin thì đã từng phải đóng phạt vạ tới cả 13 triệu Mỹ kim.

Văn phòng Hồng Kông của tổ hợp O’Melveny & Myers đã được khai trương vào năm 1994. Tới năm 1998 thì tổ hợp O’Melveny đã trở thành một trong những tổ hợp Mỹ đầu tiên được cấp giấy phép hành nghề về luật tại Hồng Kông. Năm 1996 thì O’Melveny cũng đã là một trong những tổ hợp luật ngoại quốc đầu tiên, và liền sau đó, cũng là lớn nhất, được phép hoạt động tại Thượng Hải. Từ Thượng Hải, Trung Hoa lục địa, tổ hợp đã đóng vai trò cố vấn cho nhiều thân chủ đa quốc gia về các dự án trên khắp toàn Trung Hoa lục địa.

Tổ hợp của Christopher đã khá thành công tại Trung Hoa lục địa trong suốt nhiệm kỳ Christopher còn làm với bộ sậu Clinton-Gore. Trong vị thế Ngoại trưởng của Clinton-Gore, Christopher đã tìm cách bằng mọi giá, duy trì cho đưọc một chính sách cộng tác. Cho dù là về phổ biến vũ khí hạt nhân, hay các mối đe dọa đối với Đài Loan hay vi phạm nhân quyền, thì Christopher vẫn luôn luôn bám chặt với chủ trương “giao tiếp ~ engaging” và luôn luôn cố gắng không làm mất Tàu cộng! Lập trường ủng hộ của y cho một chính sách chỉ  “Một Trung Quốc” thì, nói ra cũng không khác gì với “Một Hàn Quốc,” hay “Một Việt Nam” thôi.  Một thứ chính sách mà đã phải trả giá với cả 100.000 nhân mạng Mỹ trong suốt cả hai cuộc chiến tranh.

***

Vấn đề ở đây không phải là liệu có nên giao thương với Tàu cộng hay không. Vấn đề là những gì mới giới hạn và kiểm soát được loại kỹ thuật quân sự “lưỡng dụng” phải bị cấm và loại nào thì có thể xuất cảng được. Những kiểm soát đó chỉ nhằm bảo vệ nền an ninh quốc gia của chúng ta cùng các giá trị trân quý khác của Mỹ.

Rất là nhiều tên trong số các tay gọi là gián điệp về tâm lý chiến đóng vai đại diện để phổ biến ảnh hưởng cho Tàu cộng được mô tả ở trên, đã đi xa hơn nhiều, thay vì chỉ là vận động cho giao thương mà thôi. Chúng đã tích cực giúp đở cho Tàu cộng có thể hiện đại hóa về quân sự mà bất cần đến nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Dù chúng cũng đã từng cứ phủ nhận nhưng các bằng chứng thì đều khác xa với sự la lối tự biện hộ mình là vô tội của chúng.

Tiến sĩ Mike Waller, phụ trách chuyên mục cho tờ Insight, có viết trong số báo tháng 4 năm 2000 của báo, “… các cựu lãnh tụ về an ninh quốc gia mà đã trực tiếp cộng tác trên phương diện cá nhân với các giới chức cộng sản thì đều cũng đã chuyển từ cái vị trí đơn giản chỉ đẩy mạnh chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc để trở thành, trên thực tế, những gián điệp tâm lý chiến cho cái chế độ ở Bắc Kinh mà thôi.

“Công ty Boeing và các công ty khác mà đang tìm cách tiêu thụ các sản phẩm dân dụng lẫn đa dụng cho Tàu cộng thì đều bị nằm trong thế bí, vì tính cách mâu thuẫn giữa việc phải bán để kiếm lời với phần hành của các bộ phận của công ty mà chỉ chuyên phục vụ cho mục tiêu bảo vệ nền an ninh quốc phòng của Hoa Kỳ – một lĩnh vực mà đã từng tài trợ rất là nhiều các công ty nghiên cứu ‘thinh tank’ với các nhóm phụ trách về chính sách quốc phòng cùng an ninh quốc gia ở Washington và trên toàn quốc. Và những nhóm nào mà không phục tùng theo [chủ trương nên giao thương với Tàu cộng] thì đều phải gánh chịu hậu quả.

“Không như Đài Loan mà đã từng chuyên lo đầu tư và chỉ dùng những công ty giao tế công cộng để vận động hành lang tại Quốc hội, cũng như vẫn đã luôn luôn đăng bộ với Bộ Tư pháp chiếu theo đòi hỏi của Đạo Luật Foreign Agents Registration Act ~ FARA, Bắc Kinh thì lại né luật và cố tránh tiết lộ việc các công ty, các chính khách cao cấp, các học giả và những người Mỹ khác nào mà đã lien hệ từng đấu thầu với chúng …

Đúng vậy, “FARA cốt nhằm bắt buộc hoạt động vận động hành lang do ngoại quốc tài trợ như vậy phải được đăng bộ với Bộ Tư pháp để cho Quốc hội và các nhà chuẩn phê chính sách khác sẽ biết được rỏ ràng nguồn gốc của hoạt động chính trị đó …

“Nhưng Bộ Tư pháp thì lại rất ít khi theo dõi các vụ như vậy. ‘Đạo luật Fara nguyên đã chứa quá ư là nhiều các kẻ hở và đã chứng tỏ không thể là một đạo luật nghiêm túc hầu giúp cho FBI  điều tra hay muốn truy tố ai cả’, và đó là một quan điểm từ cơ quan FBI tiết lộ ra cho tờ Insight“.

“… [Quý] vị rồi sẽ là thằng khùng mất đi nếu mà không chịu theo phe Bắc Kinh. Quý vị sẽ bị cô lập không ai thèm nhìn tới cả”, đó đã là nhận xét của một chuyên gia về châu Á làm việc cho một công ty nghiên cứu ‘think tank’ tại Washington.

“Một giới chức khác thuộc một tổ chức chuyên về quốc phòng thì cũng có từng ghi nhận, “Chính cũng những công ty đó rồi sẽ chấm dứt giao tiếp với quý vị nếu mà quý vị đã lở dại viết một chút xíu gì đó mà chính phủ Trung Quốc chỉ cần là không đồng ý mà thôi”, và ông ta còn thêm là đó chính là ngay từ chính kinh nghiệm bản thân của ông ta. Áp lực của Tàu cộng có hậu quả là xiết cổ các công ty và rồi, các công ty đó lại quay qua xiết cổ các công ty nghiên cứu ‘think tank’ mà thôi.

Như Tiến sĩ Waller đã từng nói: “Trong một tuyệt chiêu ‘jujitsu’ về chính trị, Trung cộng nay lại quay qua sử dụng ảnh hưởng và quyền lực của ngay các hãng xưởng Mỹ – kể cả một số các nhà thầu quốc phòng lớn nhất trong nước – để đẩy mạnh chính các mục tiêu quân sự và an ninh riêng của mình … [Đại] tài phiệt … đã cùng nhau chung sức gây ảnh hưởng và tạo áp lực đối với các đạo luật lâu nay từng nhằm củng cố cho bền chắc các mối quan hệ về an ninh đã có giữa Mỹ với Cộng hòa Trung Hoa tại Đài Loan”.

“Tháng 10 năm ngoái [1999], khi House International Relations Committee (Ủy ban Quan hệ quốc tế) của Hạ viện đã biểu quyết một cách áp đảo với kết quả 32 chống 6 cho Taiwan Security Enhancement Act ~ TSEA (Đạo luật Tăng cường Bảo vệ Đài Loan), thì đám vận động hành lang về thương mại … đặc trách về  … các đề tài giao thương với Trung Quốc bèn nhảy vào phản đối. Chúng đã áp lực giới lãnh đạo Hạ viện Cộng hòa phải thu hồi lại đạo luật đó, hay ít ra thì cũng phải để toàn Hạ viện biểu quyết, hay ít ra thì cũng đình hoãn lại việc biểu quyết. Rồi thì, lãnh đạo đảng Cộng Hòa sợ quá và bèn quyết định tuân theo lệnh này”.

NGOÀI VIỆC GÂY ÁP LỰC

THÌ CÒN CÓ VỤ ĐÓNG GÓP TIỀN VẬN ĐỘNG TRANH CỬ

Tiền mặt do bọn vận động hành lang cho Tàu cộng cung cấp

Nhóm Fortune 500 về những công ty lợi lộc nhất thì nay cũng đã gia nhập vào đội ngũ tụi Cộng sản mất rồi.

Vào cuối tháng 3 năm 1997, báo The Washington Times đã in một phần danh sách các công ty phe Tàu cộng mà đã từng đóng góp trong các cuộc vận động bầu cử năm 1996. Đám vận động hành lang của Tàu cộng đã tặng hơn ca 20 triệu Mỹ kim cho các ủy ban Political Action Committee PAC phụ trách về tiền quyên được của các thành viên tại Hạ viện và Thượng viện.

Tương tự như vậy, vào năm 1997, chi nhánh Washington của báo Knight-Ridder đã mở cuộc phân tích các tường trình từng được đệ nạp cho Ủy ban Bầu cử Liên bang (Federal Elections Commission). Họ xác nhận là, “các công ty thuộc Hội đồng Thương Mãi Mỹ-Trung Quốc (U.S-China Business Council) đã đóng góp hơn 55 triệu Mỹ kim cho các cuộc vận động chính trị trong năm 1995 và 1996, khiến họ trở thành một nhóm vận động hành lang quan trọng trong mụcđích khuyến khích một chính sách thuận lợi của Mỹ đối với Trung Quốc”.

Năm công ty đứng đầu về việc đóng góp tiền là Phillip Morris, AT & T, Federal Express, BellSouth và Atlantic Richfield.

Sách này đặc biệt lưu ý tới những công ty thương mãi như là: về Liên lạc Viễn thông ~ Communications (GTE, AT & T, Ameritech, BellSouth và SBC Comm., Inc), vê Không gian Vũ Trụ ~ Aerospace (Lockheed Martin, Textron, Inc., Northrop Grumman, United Tech. và Boeing Co.), về Dịch vụ Ngân hàng / Tài chính ~ Banking/financial services (Arthur Andersen, Morgan Stanley, Price Waterhouse, Coopers Lybrand và American Express) và về Hàng Tiêu thụ ~ Consumer goods (GE).

Đến năm 2000 thì các tập đoàn từng ủng hộ nên giao thương với Tàu cộng đã cố gắng và đã chi tiêu để vận động hành lang, rồi nào là quảng cáo và tài trợ cho các cuộc vận động bầu cử. Để chuẩn bị cho cuộc biểu quyết về giao thương với Tàu ở Quốc hội, nhiều giới doanh thương Mỹ đã tài trợ vận động cho việc tự do hóa giao thương với Tàu cộng tới cả 113 triệu Mỹ kim để vận động, quảng cáo và đóng góp về chính trị. 170

Họ cũng có những mục tiêu quyền lợi khác, nhưng đề tài giao thương với Tàu cộng vẫn  là ưu tiên nhất đối với họ trước Quốc hội.

Nhưng thật là mâu thuẩn, quyền lợi của các công ty thương mãi thì lại ngược với quyền lợi tối thượng của quốc gia chúng ta. Đã có nhiều hãng xưởng từng chủ trương ưu tiên của họ phải là vấn đề buôn bán với Tàu cộng vào năm 2000. Tệ hơn nữa, nhiều công ty khác lại còn đã tích cực hỗ trợ chương trình nghị sự không những chỉ để thỏa mãn phục vụ bọn Tàu cộng mà lại còn đành lòng ủng hộ việc chống lại chính sách dùng hỏa tiễn để phòng ngự  bảo vệ cho Đài Loan, chống lại việc cần phải bảo vệ nhân quyền và chống luôn chính sách nhằm ngăn việc phổ biến hạch tâm với các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Sự kiện đảng Cộng Hòa rút lui không còn ủng hộ Đạo luật Tăng cường An ninh cho Đài Loan (Taiwan Security Enhancement Act) dưới áp lực của giới doanh thương quả thật là một điềm xấu báo hiệu cho những gì rồi cũng sẽ sắp xẩy ra mà thôi.

Mặc dù tầm mứcgiao thương với Tàu cộng, cũng như với dạo Liên Xô cũ, cũng khá nhỏ, nhưng Phòng Thương Mại Hoa Kỳ tin là nó sẽ tăng vọt một cách kinh khủng, một khi quy chế Permanent Normal Trade Relations PNTR (Thông thương Bình thường Vĩnh viễn) sẽ đuợc thông qua, và Tàu cộng sẽ được gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Ảo tưởng này, mà tình trạng đã có tới cả hàng triệu thùng chứa hàng ‘container’  trống rỗng cứ đã bị xuất cảng trả về lại cho Tàu cộng đã đánh đổ đi, thì lại đang  có vẻ hấp dẫn hơn nhiều, nếu so với các kỳ vọng không tưởng thời đế chế ác quỷ Liên Xô dạo củ.

***

Phó Tổng thống Dick Cheney đã nắm chức Giám đốc điều hành CEO của hãng Halliburton, Inc., một công ty chuyên về dầu khí, trong năm 1995. Dưới sự dẫn dắt của Cheney, hãng này đã lớn lên để trở thành công ty dẫn đầu vô địch về dịch vụ dầu khí của Mỹ, mà cũng là nhà thầu về quân sự lớn vào hàng thứ 5, cũng như là có một lực lượng công nhân lớn nhất không từng hề chịu gia nhập vô nghiệp đoàn trên toàn cả nước  Mỹ.

Một công ty thuộc tổ hợp Halliburton tên Landmark Graphics, đã cung cấp nhu liệu để thiết lập bản đồ cho cả một vùng mỏ dầu với chu vi 100 cây số vuông của khối Zhao Dong Block ở Vịnh Bột Hải, Trung Quốc, dùm cho Tổng công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc.

Ngày 1 tháng 3 năm 2001, một công ty thuộc tổ hợp Halliburton là Kellogg Brown & Root, đã công bố là Tổng công ty Quốc gia Dầu khí Ngoài khơi Trung Quốc đã chọn họ để xây cất một nhà máy làm phân bón ở đảo Hải Nam. “Nhà máy sản xuất chất ‘ammonia’ sẽ là nhà máy lớn nhất từng được xây cất ở Trung hoa lục địa. Còn nhà máy sản xuất chất phân đạm thì cũng sẽ là là nhà máy lớn nhất ở Trung hoa lục địa và luôn cả toàn Á châu … Và cái nhà máy mới của Tổng công ty cũng sẽ là nhà máy sản xuất ‘ammonia’ lớn vào hàng thứ 20 ở Trung hoa lục địa mà đang sử dụng kỹ thuật KBR”. 171

Nay thì Cheney không còn quản trị tổ hợp Halliburton nữa và có lẽ bây giờ sẽ cẩn thận một chút hơn khi giao dịch với bọn Tàu cộng.

***

“[Đã] có một sự khác biệt giữa hành vi bán đi thực phẩm với bán đi loại kỹ thuật mà rồi sẽ có thể được sử dụng để tấn công lại Mỹ và các đồng minh của chúng ta. Khả năng quân sự ngày càng đang gia tăng của Tàu cộng hiện đang là thách thức rất ư là nghiêm trọng … Bản Báo cáo Cox đáng lý đã phải đưa đến quyết định phải tái xét đầy đủ và nghiêm túc về đề tài kiểm soát các mặt hàng xuất cảng, để bảo đãm chắc chắn là nền kỹ nghệ cùng với kỹ thuật tiên tiến của Mỹ sẽ không bị dùng để giúp bọn Tàu cộng canh tân vũ khí của chúng”.  172

Cheney vẫn đã từng là người chủ trương tự do kinh doanh và phản đối các lệnh trừng phạt về xuất cảng sang cả cho Iran và Libya, bởi vì công ty cung cấp dịch vụ dầu khí của ông ta đã đang tìm cách buôn bán ở đó. Và đúng vậy, vào ngày 25 tháng 7 năm 1995, Bộ Thương mại đã tuyên phạt vạ tới 2 triệu 61 Mỹ kim đối với tập đoàn Halliburton. Đó đã là số tiền phạt vạ lớn nhất mà Bộ đã từng tuyên phạt về tội vi phạm xuất cảng mãi cho tới ngày hôm nay. Đã có hai công ty chi nhánh của tập đoàn Halliburton từng xuất cảng loại thiết bị dùng để khai thác dầu, nào là sáu máy phát điện dùng kỹ thuật trung –hòa-tử giao động (pulse neutron generators), cũng như là những phụ tùng cho Libya từ năm 1987 tới năm 1991, và luôn cả ba máy phát điện đến cho  Kuwait hay Yemen thời dạo 1988-1989. Một thẩm phán Tòa án Quận vùng phía Nam của Texas đã chấp nhận quyết định nhận tội của tập đoàn Halliburton với Văn phòng Công tố Mỹ và đã rồi chỉ tuyên phạt vạ số tiền 1 triệu 2 Mỹ kim đối với ba tội phạm đó mà thôi.

ĐẦU NÃO MÊ TÀU THỜI CHÍNH QUYỀN BUSH

Andrew H. Card, Jr., Trưởng Phòng Nhân Sự

Andrew H. Card, Jr., 53 tuổi đời, Trưởng Phòng Nhân Sự của Tổng thống George W. Bush, nguyên đã là một kỹ sư chào đời tại Massachusetts và cũng là cựu dân biểu của tiểu bang, từng phục vụ trong vòng 8 năm ở Tòa Bạch Ốc dưới triều Reagan và Bush Cha, mà cũng đã từng là Bộ Trưởng Bộ Giao thông Vận tải thời 1992-93. Sau đó, với tư cách là Chủ tịch của Hiệp hội các Nhà Sản xuất Xe hơi Mỹ (American Automobile Manufacturers Association ~ AAMA), vào ngày 4 tháng 6 năm 1998, Card đã tuyên bố, “Các công ty xe hơi của Mỹ ủng hộ mạnh mẽ việc tiếp tục … quy chế tối huệ quốc (Most Favored Nation ~ MFN) … Nếu nay mà không chuẩn phê quy chế MFN cho Trung Quốc thì rồi thì sẽ gây ra những khó khăn cho những quyết định … trong tương lai mà thôi…”. Tới ngày 22 tháng 7, Card lại đã tuyên bố,” việc bác bỏ quy chế MFN đã chưa bao giờ chứng minh được cho đó là một hành vi hiệu quả để khuyến khích những  đổi thay về chính trị thật sự tích cực ở Trung Quốc”.

Condoleezza Rice, Cố Vấn Anh Ninh Quốc Gia

Condoleezza Rice, 46 tuổi, đã chào đời ở Alabama và tốt nghiệp cử nhân về chính trị học và quốc tế học tại Đại học Notre Dame và Đại học Denver. Chuyên nghành của bà ta là Liên Xô. Dưới sự dìu dắt của Brent Scowcroft, tay trưởng ban nghi lể cho Bush sau vụ thảm sát Thiên An Môn, bà ta đã phục vụ như là cố vấn chuyên về chính sách đối với Liên Xô của Tổng thống Bush trong Hội đồng An ninh Quốc gia ở Tòa Bạch Ốc. Sau đó, thì bà Rice đã là một thành viên cao cấp tại Viện bảo thủ Hoover Institution và cũng là một Phụ tá Khoa trưởng ‘provost’ tại Đại học Stanford.

Rice đã từng gọi điện thoại nhờ Robert Blackwill cố vấn làm sao để tổ chức lại cái Hội Đồng An ninh Quốc gia NSC. Blackwill là người từng tham gia cái chương trình trao đổi của đại học Harvard với bọn sĩ quan Tàu cộng. Blackwill đã bị ai đó quyết định loại bỏ ra khỏi danh sách ủy ban cương lĩnh đảng năm 2000 vì đã từng từng viết những bài có nội dung khá thần phục bọn Tàu cộng. Việc Rice bổ nhiệm Torkel Patterson, một chuyên gia về Nhật Bản, vào trong Ùy ban An ninh Quốc gia ~ NSC để phụ trách về Á châu Vụ, đã từng bị mô tả như là một lựa chọn để “bỏ qua sự kiện đang có rạn nứt ngay trong Đảng Cộng hòa về đề tài Trung cộng”.

Elaine Chao, Bộ Trường Lao Động

Chao, 47 tuổi, đã đến Mỹ từ Đài Loan ở vào lúc tám tuổi và không hề nói được tiếng Anh. Y thị đã đậu được bằng Bachelor of Arts và Master of Business Administration tại các đại học Holyoke và Harvard, rồi đã kết hôn với Thượng nghị sĩ Mitch McConnell (Cộng Hòa – Kentucky). Chao đã từng tuyên bố mình vẫn vững tin vào cái giấc mơ Mỹ mà mình đã từng được trải qua.

Y thị đã có làm việc tại Federal Maritime Administration (Cục Quản lý Hàng hải Liên bang) và nguyên từng là Giám đốc của Peace Corp. Năm 1991, y thị được bầu là Nhân vật trong Năm của New York Foreign Freight Forwarders and Brokers Association (Hiệp hội các Tiền Hướng đạo viên và Môi giới viên về Hàng hải Ngoại quốc của Nữu Ước). Trong vị thế Chủ tịch của United Way, y thị cũng đã được cho là có công từng khôi phục lại lòng tin tưởng của công chúng (sau vụ biển thủ công quỷ của tay chủ tịch củ). Nhưng toàn cái câu chuyện đầy đặc tính cổ tích huyền thoại này thì lại cũng có một bề mặt đen tối khác – đó đã là những liên kết giao tiếp rất ư là mật thiết của y thị với Tàu cộng.

Y thị đã trở thành một thành viên lãnh lương tới cả 200.000 Mỹ kim với tổ chức Heritage Foundation vào năm 1996 khi loại đi được viên Cố vấn An ninh Quốc gia của Reagan là Richard V. Allen, người đang đứng đầu hội đồng Asian Studies Center Advisory Council (Hội đồng Cố vấn của Trung tâm Nghiên cứu về Á châu). Y thị chỉ là một chuyên viên quyên tiền chứ không hề từng là một chuyên gia về chính sách đối với Tàu cộng. Nhưng y thị lại đã có nhiều quan điểm luôn luôn ủng hộ mạnh mẽ chúng thôi.

Qua việc Do Chao xúi dục, nhân vật trong vụ Chinagate là John Huang đã có đóng góp 2.000 Mỹ cho chồng của y thị là Thượng nghị sĩ McConnell. Những vụ đóng góp tiền bạc một cách bất hợp pháp cho Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ thì rồi cũng khiến cho ông xếp của y là tay James Riady cùng cái tập đoàn Lippo của y từng rất ư là ‘phe’ Tàu cộng mất tới cả 86 triệu Mỹ kim về tiền phạt vạ trong năm 2001. Áy vậy, tới năm 1997, Elaine Chao lại đã vẫn phản đối vụ điều tra của Ủy ban Thompson Committee Chinagate về những vụ đóng góp tiền bạc của Tàu cộng cho Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ. Y thị lại cũng đã tuyên bố, “Giới truyền tin đã đặc biệt chọn tấn công những người Mỹ gốc Á … Đó quả là một sự nhục nhã … bất công …”. 173

Dù Huang tuyên bố là đã từng gặp Chao tới cả bốn lần, nhưng y thị thì lại chối từ không có bao giờ gặp y ta cả. Vào cuối tháng giêng năm 2001, Thượng nghị sĩ McConnell, một người rất nổi tiếng về khả năng gây quỹ cho các cuộc vận động bầu cử, với một gương mặt lạnh như tiền, đã tuyên bố là mình chỉ mới được nghe là các đóng góp tiền bạc của cái ông tên Huang đều là bất hợp pháp. Ông ta cũng bèn hoàn trả lại 2.000 Mỹ kim.

Ông Harry Wu, một người Tàu sinh sống tại Mỹ từng chuyên hoạt động ủng hộ nhân quyền cho Trung Hoa lục địa, đã có tường trình về các trại tù ‘gulag’ của Tàu cộng, vẫn bị gọi là các ‘Laogai’, và luôn về tình trạng buôn bán các bộ phận nội tạng của những tử tù tại Tàu. Ông Wu có tuyên bố với tờ WorldNetDaily, “Tôi rất ư là quan ngại về mối quan hệ buôn bán giữa Elaine Chao với cộng sản Tàu. Người phụ nữ này có một doanh nghiệp vận tải rất quan trọng do người cha đứng tên”. Cha bà ta là James S.C. Chao, sở hữu chủ của một công ty môi giới về hải vận quốc tế có tên là Foremost Marine Corp. Các tàu của ông ta vẫn phục vụ giao thương với Tàu cộng. Thật vậy, hãng  Foremost Maritime Pte. Ltd. của Chao đã từng mua lại hai tàu chở dầu với trọng tải 64.000 DWT tên là Hsing MayYu May của Tàu cộng. Cái công ty Tàu cộng có tên là State Shipbuilding Trading Co., Ltd., (CSTC) của Bắc Kinh, thì lại đã sở hữu một đơn vị chuyên phụ trách về chiến hạm. CSTC “đã phát triển và trong nhiều năm, đã từng đóng cho Hải quân Tàu cộng nào là tàu ngầm nguyên tử, tàu ngầm cổ điển, khu trục hạm có trang bị hỏa tiễn, chiến hạm nhỏ có trang bị hỏa tiễn cùng tàu nhỏ với khả năng tấn công chớp nhoáng bằng hỏa tiễn”.  174

Như Paul Sperry có viết trên tờ WorldNetDaily, cha của Elaine Chao là James Chao, đã vẫn cứ liên lạc thường xuyên với tay bạn học thân của thời còn tại Đại học Jiao Tong ở Thượng Hải, tại Trung Hoa lục địa, và là viên Chủ tịch Tàu cộng Giang Trạch Dân. Vào năm 1994 thì Elaine Chao, cha y thị và Thượng nghị sĩ McConnell đã có một cuộc họp riêng với Giang, tay lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tàu và Quân đội Tàu cộng. Với đứa con gái là Elaine đừng bên cạnh, James Chao đã được trao và nhận một chứng chỉ giáo sư danh dự và khoa trưởng của đại học Shanghai Maritime College trong năm 1995. Tới năm 1997 thì Giang đã tiếp Chao khi y thị  đi chung với người chồng Thượng nghị sĩ, trong một cuộc họp riêng tư nhân một bữa dạ tiệc do Clinton tổ chức tại Tòa Bạch Ốc.

James Chao thì lại nằm trong Hội đồng Quản trị mà cũng còn đã sở hữu tới cả 7.000 cổ phần của công ty CRC Protective Life Corp. CRC thì lại bị đồng sở hữu bởi cái Tập đoàn Lippo thân Bắc Kinh của tên James Riady và tên cộng tác về kinh doanh là Li Ka-shing của China Resources. Đó nguyên là công ty mặt nổi đề nhằm thu thập tin tình báo cho quân đội Tàu cộng. 175

Elaine Chao đã quả từng có được một khả năng rất ư là đáng lo ngại để loại ra được mọi thành viên nào mà dám có một quan điểm tiêu cực đối với Tàu cộng. Khi được bổ nhiệm thì y thị đã đẩy đi mất tiêu được vị giám đốc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia NSC của Reagan là Richard Allen. Chao và chồng đã miệt mài vận động cho quy chế Permanent Normal Trade Relations ~ PNTR (Quy chế Giao Thương Bình Thường) dành cho Tàu cộng. Họ cùng phản công đối đáp lại các bài viết của các thành viên thuộc Hiệp Hội Heritage Foundation từng viết về mối đe dọa quân sự của Tàu cộng. Hiệp Hội đã từng sa thải phân tích gia về an ninh và cộng tác viên của bản Cox Report là Richard Fisher, Jr. Chao “… đã đẩy được ông ta phải ra đi … chỉ bởi vì ông từng đã nêu lên những lo ngại về an ninh quốc gia đới với bọn Tàu cộng”, theo lời một phụ tá tại Quốc hội đã từngt làm việc với Fisher.

Vào đầu tháng 2 năm 2001, những người am tường tại Washington đã cáo buộc là chính Elaine Chao mới  là người phản đối việc bổ nhiệm vô tổ chức Heritage Foundation ông Notra Trulock, nguyên là chuyên viên phản tình báo thuộc Bộ Năng lượng, người  chịu trách nhiệm chính cho việc hoàn thành bản Báo cáo Cox từng đem ra ánh sáng tên gián điệp  Wen Ho Lee và luôn cả hệ thống gián điệp về nguyên tử của Tàu cộng tại Hoa Kỳ.

Tình trạng bịnh hoạn về giao thương này đã khiến phần nào đó của chính quyền Bush bị dơ dáy và đã cống hiến cho Tàu cộng những tên gián điệp ngây thơ cụ đi làm tâm lý chiến phục vụ chúng mà thôi.

 An Ninh Quốc Phòng Hoa Kỳ

Cần Phải Được Phục Hồi Chiếu Theo Hiến Pháp

Hoa Kỳ nay cần phải áp dụng những biện pháp nhằm phục hồi nền an ninh quốc phòng. Nếu không thì nào là các tàu bè, các hải cảng và các thành phố đều sẽ dể bị tấn công, không những chỉ bởi các nhóm khủng bố, mà còn luôn cả bởi cái chiến dịch của Tàu cộng đang triển khai đưa vô Mỹ các lực lượng điệp viên, tình báo và hải quân tiềm ẩn qua trung gian bọn đại lý của chúng.  Với sự đồng lõa tích cực của chính quyền Clinton-Gore, và lại được sự góp tay bởi đám thương gia Tàu đầy ảo tưởng, Tàu cộng nay đã thành công gài được bọn bộ đội, hải quân, du học sinh, khoa học gia cùng điệp viên của chúng vào mọi hải cảng, đại học, trung tâm nghiên cứu và hãng xưởng với kỹ thuật tiên tiến trên khắp nước Mỹ.

Tổng thống Bush và cả Quốc hội đã phải đối mặt với hai nhiệm vụ cực kỳ khó khăn: phải chỉnh đốn lại nền an ninh quốc gia, mà đồng thời cũng phải tôn trọng bảo vệ các quyền tự do căn bản của người dân. Quốc hội ít ra, cũng cần phải có can đảm để dám đứng ra xúc tiến thủ tục ‘impeachment’ nhằm điều tra truy tố mọi giới chức cao cấp, cũng như là nhân những lần biểu quyết về giao thương với bọn Tàu cộng. Cần phải đứng lên bảo vệ tự do chống lại độc tài. Tổng thống Bush và Quốc hội cần phải thi hành cho trọn vẹn và đúng đắn các nhiệm vụ hiến định của họ, nếu không rồi thì sẽ cũng chỉ đi theo cái vết chân nhục nhã của bộ sậu Clinton-Gore mà thôi.

Dù sao thì hiện nay vẫn còn hy vọng. Hai năm sau khi công bố bản Báo cáo Thompson, John Zogby, người từng nổi tiếng nhân vụ thăm dò về bầu cử trong năm 2000, cũng đã thực hiện một cuộc thăm dò khác và đã khám phá ra là hiện có tới cả hai phần ba người dân Mỹ vẫn muốn mở một cuộc điều tra về việc khả dĩ đã từng xẩy ra một cuộc trao đổi nhằm đóng góp tiền vận động bầu cử để đánh đổi lấy các bí mật quân sự. Và còn có tới cả 3 phần 4 người dân Mỹ thì đã vẫn chống lại quyết định chấp nhận cho Tàu cộng gia nhập tổ chức World Trade Organization ~ WTO, vì chính các hoạt động gián điệp, vì chính cái chính sách phổ biến vũ khí cũng như là tình trạng áp chế trong quốc nội của bọn Tàu cộng.  176

Ấy vậy, Quốc hội lại vẫn đã cứ tiếp tục hỗ trợ cho Tàu cộng để chúng gia nhập một cách vô điều kiện vào WTO. Rỏ ràng là một Quốc hội kế tiếp sau này thì cũng chỉ có thể khá hơn mà thôi.

Quốc hội nay cần phải tạo một liên minh ái quốc lưỡng đảng, hầu đứng lên để tranh đấu kịch liệt nhằm khôi phục lại nền an ninh quốc gia của chúng ta. Là một quốc gia có chủ quyền, Hoa Kỳ có khả năng đứng ở vị trí độc lập trước mọi tổ chức quốc tế và mọi chủ trương của các cường quốc khác. Chuyện gì cần phải làm thì đều có thể làm được thôi. Chỉ cần khôi phục lại Hiến pháp Hoa Kỳ, khôi phục lại luật lệ quốc gia và thi hành đúng đắn mọi luật lệ thông thường về bảo mật mà thôi.

Việc  tôn trọng cùng quyết chí áo dụng rất nhiều các luật lệ hiện hành cũng sẽ cần  một thời gian rất dài để có thể giúp giảm thiểu được các hiểm nguy hiện tại đối với nền an ninh quốc gia, mà vẫn không ảnh hưởng trầm trọng đến các quyền tự do dân sự của mọi người công dân Mỹ.

Chiếu theo các luật lệ về gián điệp hiện hành thì ngay đã sẽ là phạm một hình tội khi công bố tin tức về quốc phòng với ý định hoặc trợ giúp một thế lực ngoại quốc  hoặc để gây thiệt hại cho Hoa Kỳ. Cũng sẽ đã phải là một hành vi phạm pháp khi đi cung cấp loại tin tức nhạy cảm như là tên tuổi của các điệp viên và gián điệp Mỹ, cũng như là các mật mã và tin tức về những công tác nhằm chận nghe tin tình báo. Đạo Luật Economic Espionage Act of 1996 (Gián điệp về kinh tế năm 1996) đã từng nâng cao định mức phạt  tiền cùng phạt tù về tội đánh cắp các bí mật thiết tử về kỹ nghệ, cũng như là về các hành vi bất hợp pháp nhằm can thiệp vào các chính sách của Mỹ. Các tuyên phạt về tội hình đúng ra đã từng phải được áp dụng trong một số trường hợp nào đó rồi mà thôi.

Tuy là những mọi hiểm nguy đối với nền cho an ninh quốc gia của chúng ta hiện rất ư là trầm trọng, chúng ta cũng cần phải nhận thức ra cho được cái mối nguy hại đối với Bản Hiến pháp của chúng ta, mà đã xuất phát từ một chủ trương nông cạn mà lại nông cạn về tiêu chuẩn an ninh quốc gia. Tổng thống và Quốc hội không được quyền trở thành những đồng lõa trong việc lạm dụng lòng tin của người công dân Hoa Kỳ, như đã được chứng minh qua hành vi lạm dụng hệ thống Echelon của Cơ quan Anh ninh Quốc gia NSA hầu ngăn chặn mọi liên lạc viễn thông tư nhân tại Mỹ hay là chận nghe mà không xin lệnh Tòa trước đó bằng hệ thống điện toán có tên gọi là Carnivore của FBI.

Nhiều Chỉ thị Hành pháp về đề tài khủng bố và an ninh hạ tầng cơ sở của Tổng Thống Clinton nay quả cần phải bị cứu xét để duyệt lại hay cũng để hủy bỏ toàn vẹn đi mà thôi.

Thật vậy, trong năm 2000, Quốc hội đã phải vội vàng ban hành cái đạo luật tương đương như của người Anh, nhưng lại rất đầy cái đặc tính không phải là của người Mỹ, “Official  Secrets Act ~ Luật về Những Bí mật của Chính quyền”, mà sẽ được dùng để truy tố ra tòa những vụ tiết lộ bất kỳ tài liệu nào của chính quyền mà từng đã được phân loại, không cần biết hành vi đó có ảnh hưởng gì đến nền an ninh quốc gia hay không.

Việc ủng hộ nhằm kiểm tra hữu hiệu hơn lý lịch quá khứ của những người xin nhập cư là một chuyện, mà một Luật Miển trừ Người Tàu (Chinese Exclusion Act ) hay một đạo luật về Người Ngoại quốc và Phản loạn (Aliens and Sedition Act ) thì lại là một chuyện khác thôi.

Dĩ nhiên, một nước Tàu cộng ngang nhiên tự tại thì quả đúng là một mối đe dọa tiềm tàng đối với các quyền hiến định của người công dân Mỹ, như là quyền tự do ngôn luận, quyền mang vũ khí, quyền không phải bị khám xét và tịch thu đồ đạt không có lý do và phải được bồi thường khi bị truất hữu tài sản riêng tư của mình.

Các nguyên tắc về an ninh quốc gia

Những nguyên tắc sau đây cần phải được áp dụng trong tiến trình cải thiện nền an ninh quốc gia.

  • Luôn luôn đặt quyền lợi của quốc gia về tiêu chuẩn an ninh trước mọi lợi ích tư riêng qua việc bán các kỹ thuật học quân sự lẫn lưỡng dụng cho các quốc gia đang đối nghịch với Mỹ trên thế giới (chính sách thả lỏng chỉ áp dụng cho những đối tượng xứng đáng mà thôi).
  • Duy trì các quyền tự do dân sự của người công dân Mỹ (hầu không bị khám xét hay bị tạm giữ, không bị tịch thu tài sản, không bị điều tra như là một hành vi trả đũa mà không hề có lý do chính đáng).
  • Tôn trọng mọi biện pháp an ninh thường xuyên từng đã được chứng minh là an toàn cho một xã hội tự do.
  • Triệt để thi hành pháp các luật lệ hiện hành về hoạt động gián điệp và về kiểm soát dịch vụ xuất cảng.

Phục hồi lại các định chế phản gián.

  • Ban hành các tiêu chuẩn chuyên nghiệp về an ninh tại các hải cảng biển, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các đại học và các xí nghiệp Mỹ.
  • Hạn chế sự thăm viếng của tình báo và nhân viên quân sự ngoại quốc đến các trung tâm nghiên cứu, cùng cấm phổ biến cho chúng các chiến lược và chiến thuật của Mỹ.

Quốc hội cần, hay nói đúng hơn là phải, ban hành và trình bày cho người dân Mỹ và giới truyền tin độc lập các hướng dẫn về chính sách, các phát giác của Quốc hội, các tường trình cùng luật lệ từng đã được Quốc hội biểu quyết, trong mục đích để bảo vệ quyền của người dân phải được có thể sống, có thể được tự do và tài sản được bảo vệ trước các mối đe dọa từ Tàu cộng và đám điệp viên của chúng. Những việc này gồm có:

  • Thúc giục Tổng thống Bush nên đưa vấn đề an ninh quốc gia của Mỹ lên ưu tiên hàng đầu trong quan hệ giữa Hoa Kỳ với Tàu cộng, ưu tiên hơn cả việc giao thương và quan hệ văn hóa.
  • Đòi hỏi Tổng thống Bush phải tuân thủ đúng theo các tu chính án Smith / DeLay nhằm hạn chế các trao đổi quân sự Mỹ-Tàu cộng, mà có thể tiết lộ các chiến lược và chiến thuật của Mỹ cho một đối tượng có tiềm năng sẽ là thù địch trong tương lai.
  • Yêu cầu Tổng thống Bush phải đánh giá lại quy chế “Strategic Partnership ~ Đối tác Chiến lược” mà bộ sậu Clinton-Gore đã dành cho Tàu cộng và phải báo cáo cho người dân Mỹ về sự thiệt hại mà việc đó đã từng gây ra cho nền an ninh quốc gia của họ.
  • Đề nghị Tổng thống Bush phải tôn trọng sự cam kết của Hoa Kỳ nhằm bảo vệ Đài Loan trong vòng 5 thập niên, trước mọi cuộc vũ trang tấn công và luôn cả cho toàn nền an ninh của khu vực châu Á và Thái Bình Dương.
  • Khuyến khích Tổng thống Bush tích cực thực thi các thỏa thuận nhằm ngăn ngừa phổ biến vũ khí đã từng ký kết trước đây.
  • Bắt buộc Tổng thống Bush phải đáp trả các hoạt động gián điệp của Tàu cộng mà đã từng được biết đến cũng như từng bị nghi ngờ, đặc biệt là đối với các công ty mặt nổi và các đại lý của chúng, mà đã chuyên chú tập trung vào điệp vụ tình báo về kỹ nghệ tiên tiến và quân sự của Mỹ.
  • Đòi hỏi Tổng thống Bush phải cho điều tra thêm về sự hiện diện ở khắp mọi nơi trên đất Mỹ của các đại lý có tiềm năng làm gián điệp cho Tàu cộng – nào là bộ đội, lính biển, sinh viên, khoa học gia lẫn điệp viên – và cũng phải thi hành triệt để luật lệ hiện hành đòi hỏi phải tiết lộ cho công chúng biết tên tuổi lý lịch của những kẻ đã từng góp tiền để vận động tranh cử, của các đại lý, của các kẻ vận động hành lang tại Quốc hội, của các luật sư và các công ty mặt nổi mà đã từng bị nhận dạng ra rồi.
  • Cương quyết đòi Tổng thống Bush phải triệt để thực thi đạo luật Economic Espionage Act of 1996 (Luật về Hoạt động Gián điệp Kinh tế năm 1996), hầu ngăn chặn các nỗ lực của những tổ chức ngoại quốc nhằm đánh cắp các bí mật kỹ nghệ quan yếu hay nhằm gây ảnh hưởng đến các chính sách của Mỹ, và cũng phải phải điều tra các cá thể (kể cả các công ty Mỹ), cũng như cũng phải quyết định truy tố về hình sự bọn nào mà quả đã từng có phạm pháp – thật sự cho đúng với định nghĩa về việc cần phải bảo mật các nguồn tin, cùng các phương pháp của tình báo Mỹ, và cũng đòi hỏi các bản án tòa về phạt vạ phải lên đến 500.000 Mỹ kim cùng 15 năm tù ở, như đã được quy định chiếu theo luật hiện hành.
  • Thúc đẩy Tổng thống Bush nên triển khai các hệ thống phòng thủ chiến thuật tầm trung và tầm xa với khả năng xuyên lục địa, nhằm chống trả các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn của địch có thể sẽ xẩy ra trong tương lai.
  • Thúc giục Tổng thống Bush nên khôi phục lại, tại Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, các biện pháp để có thể kiểm soát triệt để hơn về tiêu chuẩn xuất cảng những mặt hàng kỹ thuật quân sự quý giá, và cũng phải cam kết thực thi mọi biện pháp luật định cứng rắn hơn, để kiểm soát và ngăn chặn việc bán, phổ biến hay thậm chí cho không, các kỹ thuật quân sự quý giá đó.
  • Thúc giục Tổng thống Bush cần kiểm tra lại các biện pháp phòng ngừa về an ninh đối với mọi sĩ quan, khoa học gia và sinh viên nào mà sẽ đến Mỷ trong tư cách ‘tham quan’, mà sẽ có khả năng đánh cắp các bí mật quân sự tại các nha sở và các nhà thầu quốc phòng của Mỹ.
  • Cho phép Tổng thống Bush được quyền kiểm tra về an ninh đối với mọi công chức mà sẽ được giao phó những phần hành có biết được về các loại bí mật thiết yếu cho nền an ninh quốc gia của chúng ta, và cũng sẽ được quyền truy tố những tên nào mà đã từng phản bội ngay đồng hương của chính chúng.

Các sáng kiến và các cuộc điều tra của Quốc Hội

Riêng Quốc Hội thì họ cần phải phát động một cuộc điều tra cặn kẻ thấu đáo về các hệ quả do sự hiện diện lộ liễu ở khắp mọi nơi trên đất Mỹ của các đại lý đầy tiềm năng để làm gián điệp cho Tàu cộng. Mọi tàu thuyền, mọi thủy thủ, mọi bộ đội và mọi khoa học gia đều cần phải bị xem như có thể sẽ là công cụ trong một nghiệp vụ gián điệp nào đó.

Bản Báo cáo Cox có cho biết: “FBI đã từng không có được đủ phương tiện và khả năng, trước làn sóng muôn trùng của số du khách, sinh viên, nhân viên ngoại giao, đại diện thương mại và mọi người khác, mà sẽ rất có thể rồi tham gia vào các hoạt động tình báo để đánh cắp kỹ thuật quân sự của Hoa Kỳ”.

Về đề tài các điểm chận thiết tử tại các hải cảng trên đất Mỹ, Quốc hội cần phải tổ chức những phiên thuyết trình về tiềm năng đe dọa đến nền an ninh quốc gia qua sự hiện diện của tập đoàn China Ocean Shipping Company (COSCO), cánh tay hải thương nối dài của Quân đội Giải phóng Nhân dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Quốc hội cần phải ban hành luật lệ nhằm:

  • Làm sáng tỏ những cấm đoán hiện hữu về vấn đề đóng góp tiền bạc của ngoại quốc trong tiến trình bầu cử Mỹ, và cũng để tăng gia các hình phạt đối với mọi hành vi bất hợp pháp của ngoại quốc nào để nhằm ảnh hưởng vào các cuộc bầu cử.
  • Chuẩn phê và phân bổ đúng đáng các kinh phí bổ sung cho CIA, NSC, NSA, Quan Thuế, Cảnh sát Ven Bờ Biển ‘Coast Guard’, FBI cùng mọi cơ quan khác, hầu ngăn chặn những vụ xuất cảng có tính cách khả dụng về quân sự, mà sẽ rất nguy hiểm cho sự sống còn của đất nước chúng ta, và đặc biệt, phải cung cấp cho Quan Thuế Mỹ những phương tiện cần thiết để chu toàn nhiệm vụ kiểm soát về xuất cảng, và cho FBI đủ tài nguyên cùng phương tiện, để có thể mở rộng các hoạt động phản gián của họ.
  • Cải thiện việc chia sẻ tin tức nhạy cảm giữa các cơ quan cùng chịu trách nhiệm thuộc Hành Pháp, bằng cách chỉ thị cho Bộ Tư Pháp phải cung cấp tin tức về an ninh quốc gia cho các Bộ, Sở và cơ quan hành pháp nào mà có quyền và cần phải biết đến loại tin tức đó. 177
  • Tu chính Đạo luật Sản xuất Quốc phòng năm 1950 (Defense Production Act of 1950) để bắt buộc các cơ quan và các công ty Mỹ phải báo cáo với Ủy ban Đầu tư Ngoại quốc tại Hoa Kỳ (Committee on Foreign Investment in the United States ~ CFIUS) về mổi khi họ đứng ra mua lại một công ty Mỹ nào mà có dính líu tới nền an ninh quốc gia.
  • Ra lệnh cho các cơ quan tình báo Mỹ phải xúc tiến điều tra toàn bộ mọi cố gắng của Tàu cộng nào để có được các kỹ thuật của Mỹ, cũng như là để thâm nhập vào các hãng xưởng, các định chế giáo dục, xã hội và chính trị Mỹ, và cũng phải phúc trình về các tài nguyên cùng các ưu tiên mà các cơ quan hành pháp đã từng có sử dụng trong công tác phản gián.
  • Yêu cầu Tổng thống Bush phải thực thi các khuyến nghị chính yếu của bản Báo cáo Cox như là:

* Báo cáo bán niên về hoạt động gián điệp của Tàu cộng và các biện pháp chống đở của  Bộ Năng lượng và Quốc phòng, của FBI và CIA, để đáp ứng với tình trạng gián điệp về nguyên tử cùng các kỹ thuật quốc phòng. 178

* Các Thanh Tra Toàn quyền thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Năng lượng, Tổng Chưởng lý Liên bang và Giám đốc CIA, phải ra lệnh cho nhân viên để nghiên cứu về những hiểm nguy đối với nền an ninh quốc gia qua các chương trình trao đổi khoa học quốc tế với Tàu cộng ngay chính tại các phòng thí nghiệm nguyên tử.

* Tái đánh giá toàn diện về phản gián đối với mối đe dọa của Tàu cộng nhắm vào các định chế công cộng lẫn tư nhân của Hoa Kỳ.

  • Bắt buộc các thân chủ ngoại quốc của các nhóm vận động hành lang tại Quốc Hội

và của các luật sư, phải được công bố lý lịch cho mọi người biết, và ấn định những mức phạt tiền đủ cao, nếu họ vi phạm không chịu đăng bộ cái quy chế làm đại diện cho ngoại quốc, và cũng phải báo cáo đầy đủ cho Federal Elections Commission (Ủy ban Bầu cử Liên bang) về những lợi lộc kinh tế mà nhân đó, họ đã có được, kể cả những người đại diện cho những công ty khách hàng tư nhân đang kinh doanh tại Trung hoa lục địa.

  • Đòi hỏi phải công bố cho mọi người biết được các công ty do Tàu cộng sở hữu, và luôn cả các công ty từng đứng ra làm bình phong cho bọn Quân đội Tàu cộng, và luôn cả cái đám công ty với đa số vốn là do dân Tàu cộng đầu tư mà cũng rất ư là thân thiện với chúng.
  • Gia tăng hình phạt về mọi vi phạm đối với các quy định nhằm kiểm soát xuất cảng liên quan đến kỹ thuật tối yếu cho nền an ninh quốc gia, chẳng hạn như Đạo Luật S1715 tại Thượng viện của Thượng nghị sĩ Phil Gramm (Cộng hòa -Texas) mà đã ấn định tiền phạt tới mức cả 1 triệu Mỹ kim, còn hình phạt hình sự thì lên đến mức tù chung thân đối với những trường hợp gia trọng, và cũng đặt ra một giải để thưởng cho người ái quốc đến 250.000 Mỹ kim, khi họ cung cấp được tin tức khả dĩ đưa được đến một phán quyết về hình sự hay dù chỉ phạt vạ tiền mà thôi.
  • Quy định chặt chẻ về các giới hạn trong việc trao đổi quân sự với Tàu cộng và luôn cả về những chuyến thăm của các sĩ quan thuộc mọi binh chũng, cũng như là của tình báo Tàu cộng đến Mỹ hầu quan sát các vụ tập trận, các phòng thí nghiệm nguyên tử và các kỹ nghệ quốc phòng.
  • Đòi hỏi Sở Di Trú và Nhập Tịch phải hợp tác với các cơ quan có trách nhiệm để phải thực thi pháp luật hiệb hành của Mỹ, và với các cơ quan tình báo, hầu giám sát chặt chẽ hơn những đương sự đã được cấp chiếu khán loại H- 1B và các loại khác nhằm để qua hành nghề hay để học hỏi về các ngành kỹ nghệ tiên tiến và quốc phòng tại Mỹ.
  • Thiết lập và tài trợ các biện pháp an ninh hầu bảo vệ các hải cảng đang rất dễ bị tấn công, cũng như là các cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng và hệ thống sông hồ khác của chúng ta.

***

 Nếu đem so với bao là hiểm nguy đang tiềm tàng thì ở đây, chỉ thật sự là những đề nghị rất ư là khiêm tốn nhưng thận trọng, cho phù hợp với công việc bảo vệ các quyền tự do công dân.

TÁI  BÚT

Sau Vụ 11 Tháng 9 Năm 2011

Quả thực Tàu cộng muốn gì?

Trong tác phẫm Hegemon: The Chinese Plan to Dominate Asia and the World (Bá Quyền: Kế hoạch của Trung Quốc để thống chế châu Á và thế giới), Steven W. Mosher có viết là Tàu cộng đang ở trong “một cuộc thi đua trên toàn cầu đối với Mỹ nhằm thay thế hiện trạng Pax Americana (Hòa bình Thế giới theo Quan niệm Mỹ) bằng với một Pax Sinica (Hòa bình Thế giới theo Quan niệm Tàu)“. Tàu cộng đang muốn trở thành siêu cường duy nhất để kế tiếp. Trong nhiều thế kỷ, Trung Hoa đã từng thống trị thế giới và vẫn thường tự phong cho mình là bá chủ toàn cầu mà không hề có ai dám thách thức. Đó đã chính là Middle Kingdom ~  Trung Quốc mà tất cả mọi nước khác đã đều từng phải tôn kính và triều cống.

Tương tự như vậy, trong tác phẫm The Chinese (Người Tàu), phóng viên Jasper Becker, với kinh nghiệm trên cả 20 năm về đề tài Trung Hoa, mô tả “lãnh tụ tối cao Giang Trạch Dân” đã khai trưong một tân niên 2000 trong vị thế của một hoàng đế trong một triều đại mới, “với một sứ mệnh thiêng liêng nhằm ‘Rejuvenate ~ Hồi sinh’ chủng tộc Tàu … để phục hận cho những mối nhục đã từng phải trải qua … [và] để khôi phục lại vinh quang của cái đế quốc cũ”. Tiến trình phục hồi đế chế này gồm cả việc phải đặt cho được số từ 30 tới 40 triệu người Tàu ở nước ngoài dưới sự kiểm soát của Trung Hoa lục địa, phải mở rộng sự hiện diện quân sự của Trung Quốc ra xa đến cả 1.000 dặm từ đất liền và cũng phải nghiền nát tan chính thể dân chủ Trung Hoa duy nhất hiện nay đang ở Đài Loan.

Tiếng chuông đánh thức nhằm cảnh tỉnh

Máu của những người vô tội  từng đổ vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã thực sự gióng lên tiến chuộng đánh thức nước Mỹ và cảnh cáo là hiện nay, thế giới quả thật là một nơi rất ư là nguy hiểm để sinh sống. Nhưng việc đánh thức và cảnh cáo này lại vẫn chưa bao gồm luôn mối hiểm họa Tàu cộng.

Đúng vậy, đã lại có những mối quan tâm mới về vũ khí hạch tâm, sinh học và hóa học. Đã cũng có một số nhận thức về tình trạng bất an ninh tại các hải cảng, hay là đối với các chiến hạm của Hải quân Mỹ, hay về các công trình dẫn thủy, cầu cống, đường hầm, nhà máy điện, các đường dây truyền tin, các máy điện toán, hệ thống liên lạc viễn thông và còn nhiều, nhiều hơn nữa. Quả đã có một sự tăng gia nhận thức về các hậu quả có thể xẩy ra về an ninh quốc phòng vì tình trạng lỏng lẻo tại biên giới Mỹ, về thủ tục phê duyệt nhập cư cẩu thả và hệ thống hành chánh lượm thượm quan liêu mổi khi thực thi pháp luật.

Ngoài ra cũng đã có được vài ghi nhận về sự nguy hiểm của cả hàng triệu thùng hàng ‘container’ dài cả 20 ‘foot’ mà đều bị niêm kín nhưng không hề được kiểm tra trước đó. Những loại thùng chứa ‘container’ chính đã là những phương tiện để chuyển lậu người, để buôn lậu hàng hóa và chuyển lậu đủ mọi loại vũ khí, từ súng tới loại chất nổ dùng để phóng các hỏa tiễn được trang bị đầu đạn có khả năng hủy diệt hàng loạt. Vào ngày 8 tháng  chạp, Bộ trưởng Thương mại Norm Mineta đã có lặp lại lời cảnh cáo trước đây mà ngay chính tác giả đã từng nêu lên trong tác phẫm Stealth Invasion về loại thùng chứa ‘container’. Nhận xét của Tổng thống Bush với các thủy thủ ở Norfolk vào đầu năm 2001 thì lại quả thật là đã đánh trúng vào ngay trọng tâm của vấn đề:

“ . . . [Chúng] ta phải đối diện với các mối đe dọa đang đến trong một thùng hàng ‘container’ hay trong một va-ly áo quần”. – Tổng Thống George W. Bush, 13 tháng 2 năm 2001, Norfolk, VA.

“ Một thùng hàng ‘container’ xuống bến ngày nay tại một hải cảng Mỹ thì có thể rồi sẽ được chuyển đi khắp mọi nơi trên lục địa Hoa Kỳ, bằng xe vận tải hay xe lữa ngay ngày hôm sau đó”. – Norm Mineta, Bộ Trưởng Giao Thông  179

Dù vậy, tuy Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang là nguồn gốc xuất phát của cái dịch vụ hải vận duy nhất mà cũng là lớn nhất của số thùng hàng ‘container’ không hề bị khám xét đó mà từng bị nhập vào Bắc Mỹ, thì Tàu cộng vẫn không hề từng đã bị nêu tên hay là từng đã bị truy tố trên cương vị là một mối đe dọa chính yếu.

Lòng thật thà của Mỹ đã từng bị lợi dụng khiến máu phải đổ, nên nay ai cũng đề cao cảnh giác.

Ấy vậy, Tàu cộng thì không hề có ai thấy được là đang ở đâu cả. Và cứ thế, Tàu cộng vẫn cứ tiếp tục đánh cắp các bí mật và các kỹ thuật của Mỹ. Chúng vẫn cứ tiếp tục cung cấp vũ khí (kể cả những bộ phận cho loại vũ khí hủy diệt hàng loạt) cho đám “trục ma quỷ” – những quốc gia từng chuyên chứa chấp bảo trợ bọn khủng bố.

Đám ngựa gổ Thành Troy của Tàu cộng thì lại đang được mừng vui chào đón  ngay tại các bãi biển Mỹ quốc

Cho dù vụ 11 tháng 9 có là khủng khiếp đến mức nào thì đám quốc gia đang lệ thuộc vào Tàu cộng, đám hàng trăm công ty mặt nổi, và cả hàng ngàn điệp viên tâm lý chiến lẫn gián điệp của chúng vẫn còn hiện diện trên mảnh đất mẹ của chúng ta. Đám ngựa gổ Thành Troy của Tàu cộng thì lại vẫn đang được chào đón mừng vui ngay trên rất ư là nhiều bãi biển Mỹ quốc

Đám ngựa gổ Thành Troy của Tàu cộng quả thật sự lại còn là những mối hiểm nguy vẫn chưa hề được nhận thức ra, mà còn có tính cách nghiêm trọng hơn cả cho đất nước của chúng ta, nếu chúng ta đem chúng mà so sánh với các hành vi đơn lẻ của một số ít tên điên khùng và tội phạm từng có. Tàu cộng đang có được những gì mà bọn côn đồ khủng bố cầu mong có được – loại vũ khí hủy diệt hàng loạt và khả năng nhân sự cùng phương tiện kỹ thuật để sử dụng chúng (hay chỉ để dùng mà hăm dọa thôi) hầu đạt được mục tiêu của chúng ở Đài Loan, ở Thái-bình-dương hay tại bất kỳ thời điểm và địa điểm nào khác mà chúng muốn.

Dù chúng ta đã từng thành công ‘gởi’ bọn khủng bố lên thiên đàng cũng như đuổi được chúng về núp váy mẹ, thì Tàu cộng lại vẫn cứ tiếp tục đe dọa Mỹ trên nhiều phương diện khác.

Trong tác phẩm Unrestricted Warfare ~ Chiến Tranh Không Hạn Chế xuất bản vào năm 1999, đã có hai tên đại tá trong quân đội Tàu cộng lên tiếng thúc giục chính phủ chúng nên thi hành chiến thuật khủng bố, nên sử dụng các ‘virus’ máy điện toán và mọi phương tiện thuộc loại ‘dirty war ~ chiến tranh bần tiện’. Một tên, Qiao Liang, chỉ sau vụ 9/11 có vài tuần, đã lớn tiếng: “Quy luật tiên khởi của chiến tranh không hạn chế chính là không có cái quy luật nào cả – không có hành vi nào là nên bị cấm cả”. Chúng đã viết xuống giấy trắng mực đen rất ư là rỏ ràng. “Trên thế giới ngày nay thì không có gì mà không thể dùng làm vũ khí được”.  180

Chính sách này cũng đã đề nghị ra nhiều thứ có tiềm năng để dung làm vũ khí cho Tàu cộng, mà cũng có thể là những mối đe dọa có tiềm năng để tấn công các mục tiêu tương xứng của Mỹ.

Chì có một ngày thôi trong tháng 9 năm 2001, chỉ có mười chín tên khủng bố từng chiếm và kiểm soát được có bốn phi cơ thương mãi dân sự, chỉ trong một vài giờ thôi.

Trong khi đó, hàng ngày, Tàu cộng thì lại sở hữu và kiểm soát cả hàng trăm thương thuyền hải vận của chúng qua cái tập đoàn China Ocean Shipping Company ~ COSCO. Mỗi ngày, đang có cả hàng triệu thùng hàng ‘container’ của Tàu cộng được chất đống giữa thanh thiên bạch nhật tại các hải cảng, trên xe lửa, trên xe vận tải và bến tàu gần như tại mọi thành phố và thị trấn của Mỹ.

Tại hải cảng Gioia của Ý, vào ngày 18 tháng 10 năm 2001, tên Ai Cập Rigk Amid đã từng bị bắt quả tang đang trốn trong một thùng ‘container’ được trang bị sẳn với đầy đủ tiện nghi, đang trực chỉ Gia-nã-đại, với mưu đồ rồi sẽ đi đánh cướp phi cơ trong vùng Nữu-ước. 181

Tới ngày 12 tháng 3 năm 2002, thông tấn xã UPI cho biết các nguồn tin của Ý đã thông báo cho Tòa Bạch Ốc là họ đang có những “báo cáo đáng tin” là đang có ba tàu “không rõ nguồn gốc” có vũ khí nguyên tử trên tàu đang trực chỉ Hoa Kỳ. Nếu báo cáo này là đúng thật, thì vấn đề đã là phải làm sao phát hiện được chúng. Vào đầu tháng 5 năm 2002, Coast Guard (Cảnh sát Biên phòng) đã báo cáo là chiếu theo tin tình báo thì đã có tới 25 tên khủng bố thực sự đã vào được Mỹ nhờ trốn trong các thùng hàng ‘container’ mà đúng ra là chỉ để chứa hàng hóa mà thôi.

Cứ vậy, năm này rồi qua năm khác, từ bờ biển này đến đến bờ biển kia của chúng ta, các báo địa phương vẫn thỉnh thoảng tiết lộ những lần tường trình về các vụ người Tàu trốn lén nhập cư lậu từng bị phát giác núp trong các thùng hàng ‘container. Thật vậy, Coast Guard (Cảnh sát Bờ Biển) Mỹ đã từng lặng lẽ kín đáo bắt giữ tới cả 5.549 người phạm tội nhập cư lậu từ cái nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong dạo thập niên 1991-2001. 182

Hàng ngàn người khác vẫn ở lại Mỹ, dù thông hành du lịch, sinh viên hay nhân viên hãng xưởng của họ đã đáo hạn. Đến năm 2000, thì U.S. Census (Kiểm Tra Hoa Kỳ) thuộc chính quyền đã phát giác và ghi nhận được tới cả 200.000 người Tàu lục địa vẫn đang sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ. Mà cũng có thể còn có nhiều hơn con số đó nữa.

Mỗi năm, con số cả hàng triệu thùng hàng ‘container’ thuộc quyền kiểm soát của Tàu cộng đã biến Hoa Kỳ thành một con mồi ngon trước những thương thuyền to lớn chuyên chở ‘container’ –  loại tàu với kích thước cũng tương đương như là kích thước của các thiết giáp hạm hay hàng không mẫu hạm. Mỗi chiếc đều chuyên chở được đến cà hàng ngàn ‘container’.  Một ngày nào đó, rồi thì một chiếc có thể sẽ chở theo một loại hàng dấu kỹ mà cũng chết người thôi.

***

Để nhắc lại với độc giả, chúng tôi xin tóm lược ở đây những địa điểm tại Mỹ mà đang có trữ các thùng hàng ‘container’ của tập đoàn COSCO và của đám đồng bọn là anh em họ Tùng với tên Li Ka-Shing.

Hải Cảng Long Beach — Các Bến (Berth) 232-234, 243-249, 262, 264 tại Cầu Tàu (Pier) J

COSCO sắp sẽ an toàn sở hữu một hải cảng rộng tới 300 mẫu Anh, với tiềm năng dể biến thành một bãi đổ quân hữu hiệu ngay trên đất Mỹ của chúng ta.

Tập đoàn này rốt cuộc đã thành công thực hiện được cái mục tiêu từng bị trở ngại trong việc tiếp nhận cái Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ, hay một diện tích tương đương tại Long Beach.

Vào ngày 11 tháng chạp năm 2001, một đơn vị của COSCO là Pacific Maritime Services đã ký một giao kèo hầu có thể mở rộng sang đến cả các bến 267-270, ngay sau khi công ty Đan Mạch là Maersk dọn đi khỏi vào năm 2003. 183

Hơn nữa, tay Giám đốc Điều hành của công ty Oriental Overseas Container Line là tên  C.C. Tùng, mà tên em trai tên Chee Hwa đã từng đến cả hai lần được chọn làm người cai trị đất Hồng Kong  bởi Bắc Kinh, 184 thì lại nằm trong các hội đồng cố vấn cho tập đoàn COSCO và cho công ty kênh đào Panama Canal. Cái công ty Oriental Overseas Container Line phe phái của Bắc Kinh của tên Tùng, cũng sở hữu bến tàu Long Beach Container Terminal, gồm toàn các bến số 6 đến số 10 tại Cầu Tàu Pier F ở Long Beach.

Hải Cảng Oakland — Bến Howard Terminal

Hải cảng này đang được mở rộng để phục vụ tập đoàn COSCO và cũng có thể sẽ phát triển thêm nhiều tiện nghi tại căn cứ củ của Hải quân là U.S. Naval Air Station ở phía bên kia con kinh, trên đảo Alameda Island.

Hải Cảng Seattle — Bến Harbor Island’s Terminal 18

Bên ngoài vịnh Elliott Bay, tập đoàn COSCO đang sử dụng chung nhiều tiện nghi với công ty OOCL và nhóm China Shipping Group. Bến cảng số 18 đang được cải tiến để gia tăng gấp đôi khả năng.

Ngay tại Seattle, Tàu cộng (nếu muốn) cũng đang có rất nhiều là mục tiêu hấp dẫn hơn cả ngay cho bọn khủng bố, mà từng đã thành công tấn kích chiến hạm USS Cole ở Aden, Yemen. Các tàu thuyền của COSCO thì đang cứ trà trộn với các chiến hạm của Hải quân Mỹ, mà đang cùng dùng bến mẹ cho tới cả chín tàu ngầm nguyên tử ngay tại Căn cứ Naval Submarine Base ở Bangor, rồi nào là hàng không mẫu hạm Carl Vinson với cả sáu tàu yễm trợ tại xưởng Hải quân Puget Sound Naval Yard ở Bremerton, rồi cũng như nào là hàng không mẫu hạm Abraham Lincoln, với sáu khu trục hạm / chiến hạm nhỏ loại ‘frigate’ tại Căn cứ Hải quân Everett.

Hải Cảng Vancouver, B.C. — Vanterm tại eo biển Burrard Inlet

Ngoài ra, tay cố vấn C.C. Tung của tập đoàn COSCO cũng đang là chủ nhân ông của công ty OOCL, mà đang sử dụng hải cảng Deltaport với luôn cả các tiện nghi của tập đoàn COSCO ở các bến Vanterm trên đường Stewart St. và Roberts Bank.

Li Ka Shing, chủ nhân ông của công ty có tầm vóc thế giới là Hutchison Whampoa, thì lại cũng là chủ nhân ông của các bến cảng Surrey Fraser. Cảnh Sát Quốc tế Interpol có cho biết là hải cảng Vancouver cần nên “quyết định tái xét lại … hợp đồng [với] Cosco” bằng cách thành lập một “ủy ban chuyên biệt tại quốc hội … để cứu xét về các tổ chức tội phạm”. 185

Hải Cảng Houston — Bến Barbours Cut Container Terminal

Tiện nghi do tập đoàn COSCO đang sử dụng ở chổ cửa vịnh Galveston Bay đổ ra Gulf of  Mexico hiện đang bị tận dụng quá khả năng của nó mất rồi.

Hải cảng Houston dự định sẽ xây một bến cảng chuyên dùng cho loại thùng hàng ‘container’ tại Bayport, với diện tích gấp cả ba lần chu vi 250 mẫu Anh hiện đang có tại Barbours Cut.

Hải Cảng New Orleans — Đại lộ Napolean Ave.

Hải cảng này được canh tân để nâng cấp các bến nhưng vẫn lại đang kỳ vọng nhắm vào một tân cảng Thiên niên kỷ mới (Millennium Port) trên các con kinh nước sâu hơn của dòng sông Mississippi.

Hải Cảng Charleston — Bến Columbus Street Terminal

Tập đoàn COSCO đang ráng tăng gia các tiện nghi mà chúng đang được quyền sử dụng, bằng cách tìm đẩy cho được các công ty khác để phải dời về các bến xưa nguyên của căn cứ hải quân củ là Charleston Naval Station.

Các lệnh lạc từ căn cứ Naval Weapons Station thì đều cùng phải được chuyển đi dọc  hải trình dài 13 dặm của dòng sông Cooper – đôi chổ chỉ đi cách có vài ‘foot’ các bến của tập đoàn COSCO. Các vụ như là các kho đạn từng nổ một cách kinh khủng tại hải cảng Chicago trong Thế chiến II, hay ở xưởng hỏa xa Roseville thời  chiến cuộc Việt Nam, đúng ra đã phải là tấm gương dể soi sáng cho tình trạng hiểm nguy hiện đang có về các sơ hở trong công tác chuyên vận đạn dược  dọc theo thượng lưu sông Cooper tại Charleston.

Hải cảng này hiện đang có kế hoạch dể tăng gấp ba khả năng cất dở thùng hàng ‘container’ tại bán đảo Daniel Island, phía con sông Cooper.

Hải cảng Charleston vào năm 1999, cũng đã “đang tích cực nghiên cứu …  để cộng tác cùng với một số công ty kinh doanh về nghiệp vụ bến cảng quốc tế”.  186 Liệu  rối thì sẽ có ai mà tin được là đám chuyên khai thác hải cảng như là cái hãng luôn luôn được Bắc Kinh ưu đãi của tên Li Ka-Shing là Hutchison Whampoa, hay cái công ty OOCL của tên họ Tùng mà lại không dính líu gì tới vụ này hay không?

Hải Cảng Norfolk, Hampton Roads — Các bến Norfolk International Terminals và Trung Tâm N Center

Cũng như tại Puget Sound trên bờ Thái Bình Dương ở Norfolk, bọn COSCO cũng đang hiện diện ngay trong chu vi thuộc thẩm quyền của Hạm đội Đại Tây Dương Hải quân Mỹ. Thật vậy, vào ngày 12 tháng 10 năm 2000, hãng thông tấn ABC News đã thử thuê một chiếc thuyền và đã có thể di chuyển được dọc kèm sát theo một khu trục hạm có trang bị hỏa tiễn tại Norfolk, chỉ ở độ cách xa có 10 ‘foot’ mà thôi.  187

Cho tới cả một phần ba chiến hạm của Hải quân Mỹ đều đã đặt bến mẹ tại hải cảng Norfolk. Trong số đó, có cả hàng không mẫu hạm Enterprise; 5 trong số 8 hàng không mẫu hạm loại Nimitz; 7 trong số 27 tuần dương hạm; 14 trong số 29 khu trục hạm loại  Arleigh Burke hiện đại; 9 trong số 24 khu trục hạm loại Spruance; và 11 trong số 51 tàu ngầm loại Los Angeles. 188

Hải Cảng New York và New Jersey — Bến Elizabeth Marine Terminal

Văn phòng toàn quốc trung ương của tập đoàn COSCO thì lại nằm chỉ cách có sáu dặm Anh phía trên thượng lưu của vịnh Newark Bay. Còn đám OOCL thì lại đang sử dụng bến Global Terminal ở New Jersey, cũng như là bến Howland Hook trên đảo Staten.

Vào tháng 9 năm 2000, hãng ABC News đã trắc nghiệm dùng một chiếc thuyền nhỏ tới sát kề một tàu đang chuyên chở vũ khí ở vịnh Sandy Hook Bay, và trong một lần khác, đã cũng dùng được thuyền nhỏ để di chuyền đến gần với các tàu ngầm nguyên tử bên ngoài khơi Groton, Connecticut. 189

Hải cảng này thì cũng lại đang khuếch trương cái bến Elizabeth Marine Terminal và các tiện nghi tại Howland Hook của họ. Ngoài ta thì hải cảng cũng đang mở rộng cái căn cứ quân sự củ U.S. Military Ocean Terminal tại Bayonne và Jersey City.

Hải Cảng Halifax, Nova Scotia — Bến Fairview Container Terminal

Hải cảng Halifax thì cũng sẽ có một tầm chiến lược cực kỳ thiết yếu đối với việc hải vận tại Bắc Đại Tây Dương trong thời chiến.

Các Hải Cảng Khác

Và cũng có thể vì thiếu tiện nghi cần thiết, hay vì ít có cơ hội kinh doanh hơn, hay cũng có thể vì lý do ít quan trọng về chiến lược hơn, tàu của tập đoàn COSCO đã phải cập bến một cách không thường xuyên tại một số hải cảng. Chẳng hạn như là hải cảng Los Angeles, mà cũng tiện lợi ngang hàng, với các tiện nghi về thủy lộ, về đường hỏa xa cùng đường bộ cho xe vận tải nằm tiếp giáp với hải cảng Long Beach. Do đó, bọn COSCO cũng đã ít sử dụng các tiện nghi ở đó hơn là tại Long Beach.

Cũng vậy, đám COSCO cũng có cập bến vài lần tại các hải cảng như là Portland, Tacoma, Miami, Boston, v. v. . .  Đặc biệt, Miami chính yếu là một hải cảng chuyên về các chuyến tàu du lịch đi ‘cruise’. Bọn COSCO thì hoàn toàn không hề có tàu mà cũng không tiện nghi bến tại Miami.

Rồi cũng giống vậy, cái tân dịch vụ mà tập đoàn COSCO khoe khoan thì cũng chỉ có một chuyến hàng tuần mà thôi, để tới cái hải cảng Boston do chúng đang nắm đầu. Mà chuyến tàu này thì cũng chỉ chở thật là èo uột có 100 thùng hàng ‘container’ mà thôi. 190

Còn hải cảng Baltimore thì bọn COSCO đã bỏ rơi hẳn hoi rồi từ lâu nay mất rồi.

***

Nhưng công ty Hutchison Whampoa của tên Li Ka-Shing vẫn cương quyết phải hoàn tất cho xong cái thương vụ về hải cảng ở Mỹ. Chúng nằm gần đó, tại Vancouver và cũng đang có một dịch vụ tàu du lịch nhỏ ở Ensenada, Mexico. Chúng hiện đang thương lượng tại Newport, Tampa,Charleston, Savannah nhưng cho tới tháng 6 năm 2002 thì vẫn chưa thành công. 191

Cho đến nay, phản ứng đối với các mối đe dọa nhắm vào các hải cảng vẫn thật sự không thỏa đáng chút nào. Đã có 11 tỷ Mỹ kim trong số 18 tỷ Mỹ kim trong ngân sách phòng vệ quốc nội từng được Quốc hội thông qua, sẽ được dùng để tân trang cho  Cảnh sát Ven Biển (Cost Guard), cho Quan Thuế và cho Immigration and Naturalization Service ~ INS. 192  Độ 139 triệu Mỹ kim sẽ được dùng cho việc bảo vệ an ninh tại các hồ chứa nước, các nút khóa đập và các đập nước vào năm 2002.

Ấy vậy chỉ có một món tiền nhỏ nhoi không xá chi là 93 triệu 3 Mỹ kim sẽ được dùng cho việc tân trang tăng cường an ninh hải cảng tại các địa phương, nơi mà cả hàng tỷ Mỹ kim và cả hàng triệu nhân mạng đang bị đe dọa.

Các hải cảng thì đều đang xin thêm đến cả 2 tỷ Mỹ kim và đang được hậu thuẫn bởi các Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ như là Dianne Feinstein của California và Charles Schumer của New York. Ngoài ra thì Thượng viện cũng đang nghiên cứu để chuẩn chi 35 tỷ Mỹ kim, nhằm canh tân các công trình thủy lợi, mà một phần thì sẽ là dành cho việc bảo vệ an ninh ở những nơi đó.

Một cách rất ư là tội lổi, các phòng thí nghiệm chuyên nghiên cứu về nguyên tử và sinh vật học thì lại rất là lơ là về tiêu chuẩn an ninh và cũng đã từng bị đánh cắp các vật liệu về sinh vật học và nguyên tử, cũng như là các bí mật của chính họ. Bây giờ thì các phòng thí nghiệm đó mới bắt đầu nghiên cứu về các kỹ thuật ‘gamma, neutron và Xray’ để dùng cho việc kiểm tra bằng kỹ thuật ‘quét qua’ các thùng hàng loại ‘container’ về tiêu chuẩn nguyên tử, sinh vật học và hóa học lẫn loại hàng hóa có tính cách vũ khí.  193

Các kỹ thuật quét qua để phát hiện mới đây đúng là rất thiết yếu trong việc kiểm tra các thùng hàng ‘container’. Thật vậy, các nhân viên Quan thuế thì nay đều đang được trang bị với các máy dò với kích thước chỉ cở túi áo nhằm dùng tia phóng xạ để kiểm tra.

Gần đây thì cái “Đường Hầm ~ Channel” nối liền Anh và Pháp cũng đã từng bị đóng cửa nhiều ngày, để tìm kiếm các người nhập cư lậu ẩn trốn ngay trong các thùng hàng ‘container’ đó .

Hiện nay, nếu muốn kiểm tra được tất cả các thùng hàng ‘container’ tại các hải cảng Mỹ thì sẽ phải tạm thời đóng cửa mọi hải cảng trong cả bốn tháng trời – xin lặp lại là – cả bốn tháng ròng rã. Việc đến mức phải làm tê liệt toàn bộ nền kinh tế Mỹ thì sẽ còn tồi tệ hơn cả cái căn bịnh mà chúng ta đang muốn diệt trừ thôi. Chỉ có tình báo và kỹ thuật học thì mới có thể làm giảm bớt được mâu thuẫn giữa hai tiêu chuẩn thương mãi và an ninh tại các hải cảng cũng như là tại mọi nơi khác.

***

Tên Li Ka-Shing, con đẻ và chuyên viên khai thác hải cảng của Tàu cộng, từ lâu nay cũng đã đầu tư về các cơ sở hạ tầng sản xuất nguồn năng lượng thiết yếu, về nguồn nước và về viễn thông, xuyên qua các công ty Asia Global Crossing và Hutchison Global Crossing. Y cũng đã từng đề nghị mua với cái giá quá ư là rẻ mạt cái công ty Global Crossing, chỉ với 250 triệu Mỹ kim, cái công ty sở hữu toàn cầu trên biển lẫn trên bộ của các hệ thống ‘fiberoptic’ bị phá sản có trị giá vốn liếng tới cả 25 tỷ rưỡi Mỹ kim.

Nếu tên Li mà đạt được ý nguyện thì Tàu cộng rồi sẽ nắm được cả toàn bộ một hệ thống thông tin liên lạc toàn thế giới, hầu tha hồ mà thu thập tin tình báo, cái hệ thống kết nối tới cả 220 thành phố ở tại cả 27 quốc gia. Đúng vậy, trong năm 1994, hai tên Tướng Tàu cộng là Ding Henggao và Huai Guomo đã đứng ra thành lập cái công ty Galaxy New Technologies, để có thể mua lại được cả toàn bộ hệ thống điện quang dùng để mã hóa tin tức liên lạc cho Quân đội Giải phóng Nhân dân của chúng. Sự kiện cái tay Li Ka-Shing nếu mua lại được công ty Global Crossing thì cũng là chỉ để cung cấp cho quân đội Tàu cộng khả năng toàn cầu. 194

Vào mùa hè năm 2001, chính quyền Bush đã quyết định hủy bỏ một hợp đồng liên bang của thời Clinton tên gọi là Global Crossing hợp nhằm liên kết đến cả 6.000 khoa học gia về quốc phòng. Ấy vậy mà giới Wall Street thì vẫn đã không hề quan tâm coi Li là ai cả. Tính đến đầu tháng 6 thì các chủ nợ của Global Crossing cũng đã bác bỏ mối đấu thầu của Li, nhưng rồi y lại vẫn có thể sẽ tham gia đấu giá vào tháng 7 năm 2002.

***

“Bọn điệp viên Tàu đang tràn lan khắp nước Mỹ . . . FBI và CIA đều biết rỏ điều này. Đó chỉ là một bí mật đã bị bật mí”. Harry Wu, nhà hoạt động về nhân quyền người Trung Hoa, trên WorldNetDaily, 28 tháng chạp năm 2001

Bọn điệp viên Tàu cộng đang trà trộn ngay trong chính chúng ta

Tàu cộng đang cố gắng tuyển dụng các người gốc Trung Hoa để làm điệp viên cho chúng. Các cơ hội cho chúng thì lại là muôn trùng và tỷ lệ thành công của chúng thì lại quá ư là rộng lớn. Tuy là Tàu cộng chắc chắn đang nhắm vào số 2 triệu 7 công dân Mỹ gốc Tàu – cứ mỗi 1 trong số 100 người Mỹ – thì chúng cũng cố khai thác số hàng triệu công dân ngay của chúng mà đang sinh sống ở Mỹ, vì sẽ dể hơn, mà theo đó thì đang có:

  • Chiếu theo thống kê “U.S. Census of 2000”, thì vào năm 2000, đang có 1.391.000 cư dân tại Hoa Kỳ từng được sinh ra tại Trung Hoa lục địa.
  • Cũng theo thống kê này thì đã có tới cả 200.306 cư dân Tàu bất hợp pháp – mà rất nhiều từng đã được chở lậu trên các tàu của tập đoàn COSCO hay là có chiếu khán đã đáo hạn.
  • Theo Bộ Ngoại giao thì chỉ trong năm 2000, đã có tới 315.536 chiếu khán tạm thời về du lịch và kinh doanh đã được cấp cho công dân Tàu cộng. Con số này cực kỳ quá ư là thấp, nếu so với cái mức trung bình thật kinh khủng là số 782.000 chiếu khán kinh doanh và du lịch từng được cấp cho công dân Tàu cộng từ 1988 đến 1994 dưới thời chính quyền Clinton. 195 Và rồi cũng không ai biết được là đã có bao nhiêu người trong số khách này mà dù chiếu khán đã mãn hạn nhưng vẫn ở lại và gia nhập vào số dân cư ngoại quốc đang sống  bất hợp pháp ở tại Mỹ?
  • Rất ư là tiêu biểu, đã có tới 54.466 sinh viên chỉ cho một niên học 1999-2000 đã được thị thực chiếu khán nhập cảnh chiếu theo tài liệu của Institute of International Education (Viện Giáo dục Quốc tế).
  • Có tới 12.665 dân Tàu lục địa đã được cấp loại chiếu khán H- 1B, cũng như là các loại chiếu khán khác cho phép họ làm việc / nghiên cứu vào năm 1998, để rồi đã có thể hành nghề, hay được huấn luyện hay được phép nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu và các công ty tiên tiến về nguyên tử và quốc phòng, cũng như về sinh học của Mỹ. 196
  • Cũng đã có tới cả 25.000 trong số 250.000 người làm việc trong lãnh vực khoa học và kỹ thuật ở Thung lũng Silicon tại vùng San Francisco-San Jose Bay vào năm 1998 mà nguyên là những người nhập cư thẳng từ Trung Hoa lục địa.
  • Thật vậy, 17% của các công ty tiên tiến tại thung lũng Silicon Valley đều có Giám đốc Điều hành CEO từng chào đời ở Tàu. Trong số này thì:

– 79% đã đi du học ở Mỹ và ở lại không về,

– 44% có về lại Trung Hoa lục địa ít nhất mỗi năm một lần,

– 56% có quan hệ kinh doanh ở Trung Hoa lục địa (59% là trong nghành kỹ nghệ tiên tiến),

– 35% đã từng giao tiếp với các giới chức thuộc chính phủ ở Trung Hoa lục địa, và

– 45% đã trở thành công dân Mỹ, nhưng 43% dự trù sẽ trở về Trung Quốc vĩnh viễn. 197

Rõ ràng là Tàu cộng đang có đầy đủ mọi cơ hội. Ngay cả nếu cho là xác suất về khả năng tuyển dụng điệp viên được từ cái số lượng lớn lao đầy tiềm năng được liệt kê ở trên là có thấp đi nữa, thì Tàu cộng chắc chắn cũng có thể đã có được cả trăm, nếu không nói là cả hàng ngàn, những cá nhân, hoặc là có thiện cảm với chúng, hoặc là đang sẳn sàng ham tiền mặt, hay là đang đầy cái ‘tôi’ tổ bự, hay mang mặc cảm tự hào dân tộc, và còn nào là các quan niệm về uy tín, về quan hệ trai gái, v. v. . .

Theo Dõi Tàu Cộng — hậu 11 Tháng 9 Năm 2001

Kể từ ngày 11 tháng 9, quả cũng đã có những giai thoại và các bằng chứng của việc người dân đã bắt đầu nhận thức ra được mối đe dọa Tàu cộng.

  • Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh đang khước từ nhiều hơn các đơn xin thị thực chiếu khán nhập cảnh của mọi loại.
  • Quan Thuế Mỹ bắt đầu kiểm tra kỷ càng hơn các hành khách phi cơ từ Trung Hoa lục địa đến 198 và cũng bắt đầu kiểm soát các thùng hàng ‘container’ tại Halifax và Vancouver, nơi mà tập đoàn COSCO đang hiện diện. 199
  • Cảnh Sát Bờ Biển (Cost Guard) cũng bắt đầu lên kiểm tra nhiều tàu thuyền Tàu hơn. Từ tình trạng đã chỉ dành có 2% mà thôi tài nguyên dành cho an ninh tại các hải cảng – chính những nơi mà Tàu cộng đang tung hoành – vào đầu năm 2002, Cảnh Sát Bờ Biển (Cost Guard) đã sử dụng tới cả 21% khả năng về nhân sự lẫn tài chánh cho an ninh các hải cảng, 200 – một tỷ lệ tăng lên cả gấp mười lần hơn trước kia.
  • Chính quyền Bush cũng đã thực sự xử phạt một số công ty mặt nổi của Tàu cộng mà đã từng vi phạm quá ư là nhiều lần, sau một thời kỳ bê trễ không chịu phạt ai cả, mà nếu phạt thì cũng chỉ có tính cách tuợng trưng mà thôi của cái triều Clinton.

Bush đã nhận chân ra được chính sách cố ý bành trướng loại vũ khí có khả năng hủy diệt hàng loạt của Tàu Cộng

Vào lúc sắp chấm dứt nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Clinton bèn quyết định ngưng thực thi các hiệp định cam kết về không phổ biến vũ khí giết người hàng loạt từng đã ký kết trước đó, chỉ để đổi lấy vài lời hứa suông của bọn Tàu cộng là chúng sẽ tôn trọng những gì đã từng ký sẽ cam kết. Trước các vụ tấn công của bọn khủng bố – và cũng kể từ đó – Tàu cộng đã cứ tiếp tục võ trang cái đám quốc gia hiếu chiến mà đã từng công khai viện trợ và giúp đở bọn khủng bố.

Vào đầu năm 2002, CIA một lần nữa cũng đã xác nhận từng đã có những vụ xuất cảng gần đây về những phụ tùng hỏa tiễn qua cho Iran và Bắc Hàn.

Phó Ngoại Trưởng Lisa Bronson, vào ngày 17 tháng giêng năm 2002, đã cho biết, “Trung Quốc vẫn tiếp tục cứ là một trong những nguồn cung cấp chính trên thế giới về loại hỏa tiễn và vũ khí có khả năng hủy diệt hàng loạt, ngay cả cho số các quốc gia chuyên ủng hộ bọn khủng bố”, và cũng đã đích danh nêu tên Iran, Iraq, Syria, Libya và Bắc Hàn. 201

Vị đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là Clark Randt, cũng đã từng đích thân tận tay chuyển thông điệp này cho bọn Tàu cộng tại Bắc Kinh.  202

Tàu cộng đã lên tiếng phản đối lời tố cáo “trục ma quỷ” nhắm vào số khách hàng mua vũ khí của chúng và tuyên bố là mình không hề xuất cảng loại vũ khí bị cấm,để rồi vẫn cứ tiếp tục làm đúng y bon việc đó – kể cả đã từng giao cho Iran các hỏa tiễn phòng không ngay trong tháng Giêng năm 2002.

Không như Clinton, Tổng thống Bush đã đẩy mạnh đề tài phổ biến vũ khí ngay vào cuối tháng 2 năm 2002 tại Bắc kinh.  203  Ấy vậy, trước các hăm dọa sẽ có các biện pháp trừng phạt, Tàu cộng thì vẫn cứ điềm nhiên tiếp tục vi phạm các thỏa thuận chúng đã từng ký kết trước đó mà thôi.

Trong diễn văn State of the Union vào tháng giêng năm 2002, Bush đã tuyên bố, “Hợp-chũng-quốc Hoa Kỳ sẽ không cho phép các chế độ nguy hiểm nhất trên thế giới lại có thể đe dọa chúng ta với các loại vũ khí tận diệt nhất trên thế giới”.

Quan Thuế Mỹ hiện đang triển khai các dụng cụ để phát hiện, được trang bị bằng kỹ thuật phát hiện dùng loại tia ‘gamma và neutron’ tại các hải cảng Mỹ. 204  Những phương tiện này rất ư là tối yếu để có thể bảo vệ được nước Mỹ trước cái bọn Tàu cộng, cũng như đám đệ tử của chúng mà thôi.

“… Các tổ chức khủng bố … luôn luôn sẵn sàng để giết hàng ngàn

người dân vô tội, rồi sẽ có thể có được các loại vũ khí [có thể] …

hũy diệt được … cả hàng trăm ngàn sinh linh”.

 Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld   205

Nay thì quả thật, đang có một cơn gió mới mát mẻ thổi tới, khi chúng ta không còn phải bị nghe cái đám nhân viên ngoại giao của Clinton thường xuyên tỉnh bơ tuyên bố có “tiến bộ” sau những lần ký kết các thỏa thuận mà rốt cuộc thì chỉ có giá trị như những miếng giấy lộn đối với bọn Tàu cộng mà thôi. Với những biện pháp trừng phạt về thương mại, cuối cùng mới được áp dụng với Tàu cộng vì chúng đã vi phạm cái cam kết không phổ biến thiết bị nhằm sản xuất vũ khí hóa học cho Iran, vào ngày 21 tháng 5 năm 1997, Bộ Ngoại giao của Clinton đã quyết định truy tố năm cá nhân, cùng ba công ty Tàu cộng, nhưng lại che chở và bỏ lơ qua cho cho cái chính phủ Tàu cộng. Các công dân Tàu đó có tên là Liao Minglong, Tian Yi, Chen Qingchang (bí danh QC Chen), Pan Yongming và Shao Xingsheng. Còn các công ty thì đã là Nanjing Chemical Industries Group (NCI), Jiangsu Yongli Chemical Engineering and Technology Import/Export Corp. và Cheong Yee Limited (một công ty tại Hồng Kông).

Vào ngày 22 tháng 5 năm 1997, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao là Nicholas Burns cho biết là bị cáo đã “cố ý và thật sự có cung cấp thiết bị cho chương trình vũ khí hóa học của Iran”. Burns còn tuyên bố:“Các biện pháp trừng phạt chỉ đối với các đương sự cùng các định chế, và không [chúng tôi lặp lại là KHÔNG] nhằm vào chính phủ Trung Quốc hay Hồng Kông. Chúng tôi đã không hề có bằng chứng gì để cho thấy các chính phủ Trung Quốc hay Hồng Kông đã có dính líu tới cả … Chúng tôi đã có nhấn mạnh với Trung Quốc về ước muốn chung là chúng ta cần ngăn chặn việc phổ biến CW [chemical warfare ~ chiến tranh hóa học] và đã khuyến khích Trung Quốc nên áp dụng những biện pháp kiểm soát về xuất cảng chặt chẽ hơn …. Chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố … là họ quyết cam kết và tuân thủ theo Chemical Weapons Convention (Công ước về Vũ khí Hóa học)  … Chính phủ Mỹ hy vọng … sẽ khuyến khích được Chính phủ Trung Quốc cải thiện thêm nữa các biện pháp kiểm soát về xuất cảng của họ, nhằm ngăn chặn được các tổ chức Tàu sẽ có thể yểm trợ cho chương trình về vũ khí hóa học của Iran trong tương lai”.

Trong cương vị một tên phụ trách về tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Tàu thì quả cũng đã không thể tuyên bố một cách lớp lang hơn được. Và đúng vậy, Tàu cộng rồi thì vẫn cứ tiếp tục láo khoét về những đề tài tương tự như vậy thôi. Và rồi giới truyền tin thì cũng chỉ nghiêm túc lo ghi chú y bon như vậy, để rồi cứ phổ biến trên báo chí mà thôi.

Chính phủ Bush đang theo dõi bọn gián điệp và công ty mặt nổi của Tàu cộng

Chính quyền Bush đã kết thúc được vài hồ sơ điều tra về bọn gián điệp, đám công ty mặt nổi của Tàu cộng, cùng số cộng tác viên người Mỹ của chúng mà đã từng bị chính quyền của  Clinton trì hoãn không chịu đụng tới chưn lông . Ngay chính Bush cũng đã phải đứng ra bắt đầu hành động, sau nhiều tháng vô vọng về ngoại giao của Ngoại trưởng Colin Powell.

Bush đã gia hạn thêm hai năm việc Quốc hội cấm xuất cảng các kỹ thuật khoa học tiến tiến về vệ tinh qua cho Tàu cộng, sau khi phát hiện ra các vi phạm trước đó của các công ty Loral, Hughes và Lockheed Martin. Những kỹ thuật khoa học này sẽ có khả năng giúp cải thiện đặc tính chính xác và mực độ khả tín của các hỏa tiễn liên lục địa của Tàu cộng. Nhưng cũng thật là không may, các diển tiến đang xẩy ra tại NASA và Bộ Ngoại giao thì lại là có mục tiêu tiến hành để mở cữa hợp tác với chúng về lãnh vực không gian – tức là lại một lần nữa, lien hệ về các vệ tinh do Mỹ làm ra mà thôi. Đứng đầu chương trình không gian của Tàu cộng nguyên là Tướng Cao Gangchuan, tay Giám đốc đang nắm toàn bộ các kế hoặch phát triển mọi loại vũ khí cho quân đội Tàu cộng, đó là theo lời của Richard Fisher, thuộc Viện Jamestown. Ngay cả Douglas Brown của Viện Hale Nathan thì cũng đã phải nêu lên câu thắc mắc, “Liệu rồi sẽ là gì? Cùng chung bay các phi vụ trinh sát chăng?”.

Sau bốn năm, kể từ khi mà Bộ Ngoại đã quyết định tạm ngưng truy tố (từ 21 tháng 5 năm 1997, nhưng lại đã không hề công bố) về việc truy phạt về thương mại đối với một công ty Tàu vào ngày 18 tháng 6 năm 2001, Bộ Ngoại giao của Bush bèn quyết định trừng phạt về giao thương hai công ty Tàu cộng. Cái công ty Jiangsu Yongli Chemicals Technology Import and Export Corporation đã từng xuất cảng (loại hàng cấm) có tính cách lưỡng dụng hầu giúp chế tạo vũ khí sinh học hay nguyên tử. Công ty này sẽ không được hoạt động ở Mỹ trong vòng hai năm. Bốn năm trước đó thì Bộ Ngoại giao của Clinton cũng đã từng phạt công ty đó với hiệu lực trong chỉ có một năm vào năm 1997 và cũng đã có tuyên bố là các hành vi của công ty Jiangsu thì thực sự không thể nào mà lại quy kết được cho cái chính phủ Tàu cộng.

Hu Boru, Yan Liren và Robert J. Hitt — Công ty TAL Industries, Inc., một công ty Tàu mặt nổi và cái công ty McDonnell Douglas, cái công ty về loại máy sản xuất bộ phận phi cơ từng hợp tác với Tàu cộng

Trong hai năm 1994 và 1995, hãng McDonnell Douglas đã từng bán các máy dùng để sản xuất bộ phận phi cơ tới Nam Xương, Trung Hoa lục địa, thông qua các tay đại lý của Tàu cộng và các công ty mặt nổi tại Mỹ. Công ty U.S. TAL, Industries, Inc., ở El Monte, California, nguyên là một công ty con hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tập đoàn China National Aero-Technology Import and Export Corporation, CATIC nằm tại Bắc Kinh. Từng bị dính líu đến các dịch vụ bất hợp pháp này đã là hai công dân Tàu làm việc cho CATIC tên là Hu Boru và Yan Liren, với cả Robert J. Hitt, Giám đốc Văn phòng China Program Office tại công ty Douglas Aircraft Company.

TAL, McDonnell Douglas / CATIC đã từng xuất cảng tới cả 13 máy loại chuyên dùng để sản xuất (machine tools), trong danh sách sản phẫm bị cấm xuất cảng, nguyên của một xưởng sản xuất phi cơ bị sập tiệm ở Columbus, Ohio qua cho bọn Tàu cộng. Sáu trong số 13 máy này rồi thì đã được chuyển qua cho công ty Nanchang Aircraft Manufacturing Company, một hãng chuyên sản xuất phi cơ quân sự.

Sáu năm sau, vào ngày 11 tháng 5 năm 2001, các lệnh trừng phạt đã được áp đặt lên TAL – một bản án về hình, gồm 1 triệu Mỹ kim cùng 5 năm bị quản chế. Ngoài ra, Bộ Thương mại cũng đã phạt về hộ số tiền vạ là 1.320.000 Mỹ kim và cấm TAL xuất cảng sản phẫm trong vòng 10 năm. Còn CATIC, CATIC USA, và CATIC Supply thì đều bị cấm xuất cảng sản phẫm trong vòng 5 năm, đi kèm với cam kết là sẽ không vi phạm luật pháp một lần nào nữa hết.

Theo Bộ Thương Mãi thì, “Tuyên bố nhận tội của công ty TAL đã đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà một định chế công ty, hoàn toàn do Trung Quốc sở hữu, đã không viện dẫn nguyên tắc miễn trừ về chủ quyền (sovereign immunity) và đã bị kết án về một hình tội tại Hoa Kỳ”.  206

Tới ngày 14 tháng 11 năm 2001, Bộ Thương mại Mỹ đã phạt vạ về dân sự 2 triệu 120 ngàn Mỹ kim đối với hãng McDonnell Douglas – và đây là cũng chính là hình phạt tối đa có thể thi hành cho một hành vi phạm pháp về xuất cảng hàng hóa theo luật Mỹ.

Phó Bộ trưởng Thương mại, Kenneth I. Juster đã có tuyên bố, “Giải pháp này đã kết thúc một cuộc điều tra kéo dài tới cả sáu năm trời, với số tiền phạt vạ lớn vào hàng thứ nhì mà Bộ Thương Mãi đã từng tuyên phạt trong một vụ kiểm tra về xuất cảng”.

Phụ tá Bộ trưởng Thương mại Michael J. Garcia thì đã cho biết, “Vụ này chứng tỏ là Bộ Thương mại sẽ rất ư là nghiêm túc trong việc bắt buộc các nhà xuất cảng hàng hóa sản phẫm là sẽ không được khai gian …”. 207

Eugene Hsu, David Yang và Charlston Ho — thiết bị mã hóa

Sau khi được Defense Security Service (Cơ quan An ninh Quốc phòng) báo động vào tháng 5 năm 2001, các Nhân viên Đặc vụ của Quan thuế Mỹ ở Baltimore bèn tiến hành điều tra tên Eugene Hsu vì đã y từng mưu toan mua kỹ thuật về mã hóa, hầu xuất cảng bất hợp pháp qua cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đó chính là hai thiết bị loại được gọi là ‘KIV-7HS units’, nhằm để mã hóa các thông tin liên lạc. Nếu mua lại và có được thì Tàu cộng sẽ có khả năng vô hiệu hóa được công tác chận kiểm mọi liên lạc viễn thông của Tàu cộng tại National Security Agency (Cơ quan An ninh Quốc gia). Tên Hsu này đã tiếp xúc với công ty Mykotronx, một nhà thầu tư nhân về quốc phòng có trụ sở tại Maryland, mà sau đó đã hợp tác với chính quyền trong một điệp vụ gài bẩy cái tay Hsu này. Tới ngày 24 tháng 8 năm 2001, một tên David Yang, nguyên quán Đài Loan ở tại Los Angeles, đã bàn với một nhân viên chìm quan thuế về một kế hoạch để chuyển bằng tàu thủy các thiết bị đó từ Los Angeles xuyên qua trạm Đài Bắc cho công ty Wei Soon Loong Private Ltd. đang ở tại Singapore. Từ Singapore, Charlston Hồ sẽ có bổn phận lại chuyển tiếp chúng về cho Trung Hoa lục địa.

Tới ngày 28 tháng 8 năm 2001 thì Hu và Yang đã cùng bị bắt giữ. Một án lệnh bắt giam khác cũng đã được ban ra đối với tên Charlston Hồ của Singapore mà lại đang đào tẩu. Hình phạt tối đa cho tội phạm buôn lậu kỹ thuật tiên tiến là 10 năm tù giam và 1 triệu Mỹ kim phạt vạ. Vụ xét xử đang được tiến hành.  208

China Metallurgical Equipment Corporation — bộ phận phụ tùng hỏa tiễn phi đạn

Trong tháng 7 năm 2001, Bộ trưởng Quốc phòng Powell đã lên tiếng thúc dục Tàu cộng phải tuân thủ các hiệp định cam kết là sẽ không phổ biến vũ khí mà chúng đã từng ký kết vào dạo tháng 11 năm 2000 với chính quyền Clinton. Tới cuối tháng 8 thì ngay cả việc chỉ thảo luận thôi về đề tài này cũng đã bị bọn Tàu cộng khuớc từ. Bộ Ngoại giao của Bush bèn quyết định tiến hành với các vụ đang xẩy ra, mà khả dĩ rồi sẽ có thể tiến tới việc trừng phạt được bọn phạm pháp. Trong tháng 9 năm 2001, chính quyền Bush đã xử phạt cái công ty do Tàu cộng làm chủ là China Metallurgical Equipment Corporation (Tổng công ty Thiết bị Luyện kim Trung Quốc) vì tội đã xuất cảng các bộ phận phụ tùng hỏa tiễn phi đạn cho Pakistan.Các giới chức Mỹ đã cho biết là “công ty này nguyên chỉ là một kinh doanh mặt nổi của chính phủ Bắc Kinh và đã không bao giờ dám làm bất cứ điều gì mà Bắc Kinh đã không chuẩn phê trước cả”.  209

Các kỹ thuật sinh học, hóa học và nguyên tử — Liang Chemical Equipment, China Machinery and Electric Import and Export Company, Q.C. Chen

Tới năm 1999, mấy công ty Liang Chemical Equipment, China Machinery and Electric Import and Export Company và Q.C. Chen cùng nhau bắt đầu cung cấp trang thiết bị và kỹ thuật để chế tạo vũ khí sinh học và hóa học cho Iran. Tới năm 2001  thì CIA bèn quyết định công bố các giao dịch với Iran này. Việc giao thương giữa Tàu cộng với cái xứ Iran vẫn cứ đở đầu cho bọn khủng bố lâu nay vẫn cứ tiếp diễn, bất chấp lời hứa của Tàu cộng là chúng sẽ hợp tác chống lại nạn khủng bố, và bất chấp luôn cả lời phán xét của Bush khi tuyên bố Iran đang là một thành phần trong cái “trục ma quỷ” của những nước chủ trương yểm trợ cho bọn khủng bố.

Cuối cùng, tới ngày 16 tháng giêng năm 2002 thì Bộ Ngoại giao đã ban hành những  biện pháp trừng phạt về kinh tế đối với hai công ty Tàu cùng tay đại lý Q.C. Chen. Trong tháng 5 năm 1997, cũng chính cái tay đại lý Q.C. Chen đó và mấy công ty liên hệ nêu trên đã tự thú chịu nhận tội đã xuất cảng bất hôp pháp qua cho Iran các hóa chất cần thiết cùng trang thiết bị để sản xuất vũ khí hóa học – chứ không hề là cho chính phủ Tàu cộng. Còn Tàu cộng thì dĩ nhiên vẫn cứ khư khư tuyên bố là không hề biết gì về mọi hành vi của cái tên Chen nào cả thôi.

Các biện pháp trừng phạt về thương mại trong năm 2002 thì cũng chỉ ngăn cấm giao thương thêm nữa với Mỹ trong vòng hai năm  mà thôi.  210

Các kỹ thuật sinh học, hóa học và nguyên tử — Liang Chemical Equipment, China Machinery and Electric Import and Export Company, Q.C. Chen, công ty

Zibo Chemical Equipment Plant (Chemet Global), công ty Wha Cheong Tai Co., công ty China Shipbuilding Trading Co., công ty China Precision Machinery Import/Export Corp., công ty China National Aerotechnology Import and Export Corp.

Trong tháng 5 năm 2002  thì chính phủ Bush lại tiếp tục áp đặt các biện pháp chế tài đối với các công ty và các đại lý chuyên đóng vai mặt nổi cho bọn Tàu cộng – trong đó có cả ba đối tượng từng đã bị nêu tên ra vào tháng Giêng, là Liang Chemical Equipment, China Machinery and Electric Import and Export Company và Q.C. Chen.

Ngoài ra (trong tháng Giêng và tháng 5), thì là các công ty Zibo Chemical Equipment Plant (Chemet Global), công ty Wha Cheong Tai Co., công ty China Shipbuilding Trading Co., công ty China Precision Machinery Import/Export Corp. và công ty China National Aerotechnology Import and Export Corp, về tội đã từng xuất cảng các kỹ thuật về sinh học, hóa học và nguyên tử cho Iran.  211

Chăc có lẻ mọi người cũng nên lưu ý là chính cái công ty China Shipbuilding Trading Co. đã chuyên nghiệp đóng chiến hạm cho Tàu Cộng. Nó cũng từng đóng để rồi giao hai tàu cho công ty kinh doanh thuộc gia đình của James và Elaine Chao, tức là hãng Foremost Marine. Mà Elaine Chao thì lại là Bộ trưởng Bộ Lao Động đang bị nhắc nhở là phải thực thi đúng đắn các đạo luật cấm nhập cảng mọi sản phẫm từng dùng sức lao động của trẻ em ở Trung Hoa lục địa.

Tàu cộng thì lại than phiền là việc cấm vận của Mỹ là “bất hợp lý” vì nó “kiểm soát quá chặt chẽ các mặt hàng xuất cảng”.  212

Hiện đang còn rất nhiều các công ty Tàu cộng cũng cần phải bị xử phạt, nhưng ít ra, thì đây cũng là một bước tiên khởi.

***

Viện Trợ của Tàu Cộng cho bọn Taliban ở Afghanistan

Trong năm 2000, giới chức tình báo Tàu cộng đã có đến thăm Kabul.

Sau đó thì công ty Huawei Technologies (mà trước đó cũng đã từng giúp Iraq cải thiện hệ thống phòng không của họ), đã ký một giao kèo để hoàn chỉnh các “điện thoại” của đám Taliban.

Tới ngày 11 tháng 9 thì chính nhà cầm quyền Tàu cộng cũng đã ký một thỏa thuận ngoại giao hầu mở rộng việc hợp tác về kinh tế và “kỹ thuật” với bọn Taliban ở Afghanistan. Đơn vị tình báo Ấn Độ có tên gọi là Core Intelligence Processing Unit, đã có báo cáo là Tàu cộng quả đã cung cấp cho bọn Taliban hỏa tiễn và vũ khí phòng không.  213

Một tuần sau vụ 9/11, bọn Taliban đã nhận được một lô hỏa tiễn SA-7, theo một nguồn tin từ Tòa Bạch Ốc mà phóng viên Bill Gertz đã viết theo trên tờ The Washington Times. 214  Một số người Tàu thì cũng đã từng bị bắt giữ được khi đang tham chiến chung với bọn Taliban.

Vào tháng chạp năm 2001, các viên chức Ngũ-giác-đài có cho biết là các hang núi Osama bin Laden dùng làm nơi trú ẩn ở vùng Tora Bora thì đều chứa đầy đạn dược do Tàu cộng sản xuất. 215

Cái Giá Phải Trả để cho Tàu Cộng chịu “hợp tác” trong Cuộc Chiến Chống Khủng Bố

Ngay hôm sau vụ 11/9, Chủ tịch của Tàu cộng là Giang Trạch Dân có nói với Tổng thống Bush là Trung Quốc sẽ cùng chống dẹp bọn khủng bố. Nhưng sự “hợp tác” này của Tàu cộng không thể nào lại phải bị mua đổi, bằng việc khước từ bảo vệ nền an ninh của Đài Loan, bằng việc hy sinh các tổ chức của những nhà bất đồng chính kiến ở Trung Hoa lục địa hay bằng việc chấp nhận chính sách tiếp tục phổ biến vũ khí của Tàu cộng được.

Trung Quốc đã luôn luôn xem ước muốn theo đuổi tự do như là một loại hoạt động “khủng bố”, kể luôn cả các khát vọng về một Trung Hoa Tự Do tại Đài Loan, kể luôn các khổ đau triền miên của các người yêu chuộng hòa bình ở Tây Tạng, và kể luôn của cả những người Hồi giáo Uighur ở Tây Giang. Vào năm 2000, Tàu cộng đã xử tử cho tới 480 người Uighur bị liệt kê là “chủ trưong tự trị” và “khủng bố”. Đúng vậy, mục đích của mối quan hệ giữa Tàu cộng và đám Taliban chỉ là nhằm loại bỏ những địa điểm mà những người Uighur chống đối Bắc kinh khả dĩ có thể dùng để tạm ẩn náu qua ngày mà thôi.  216

***

Đã có rất nhiều đề tài dể gây tranh cãi, mà chính tác giả và nhiều người khác cũng đã từng nêu lên, qua các ấn phẩm và bằng các cuộc vận động hơn suốt sáu năm qua, thì nay mới đã được đa số tạm chấp nhận.

  • Mỹ hiện rất dễ bị bất ngờ tấn công ở rất nhiều nơi và bằng đủ mọi cách.
  • Mỹ nay cần phải tăng cường phòng thủ quốc nội, triển khai ở châu Á và yểm trợ cho Đài Loan.
  • Tổng Thống và rất ư là nhiều viên chức tiểu bang lẫn địa phương phải thiết lập các biện pháp an ninh ở các vùng biên giới Mỹ, hải cảng, nhà máy làm điện, đường ống dẫn dầu và trên không gian mạng ‘cyberspace’.
  • Các nhóm khủng bố và các quốc gia thù địch sẽ cố tuyển dụng các du khách, sinh viên, khoa học gia, người lao động, thường trú nhân hợp pháp của nước chúng, và thậm chí luôn cả những công dân Mỹ để đóng vai đại lý trong mục đích gián điệp, khủng bố và chiến tranh của chúng.

Những dấu hiệu ban đầu thì cũng khá tốt:

  • Lực Lượng Bảo Vệ Bờ Biển (Coast Guard) đã tăng cường các công tác: lên thương thuyền để kiểm tra, trang bị vũ khí hầu bảo vệ các hải cảng và quy định những khu vực cấm đặc biệt để bảo vệ an ninh chung quanh các cầu tàu và thủy lộ. Nay họ đã được giới truyền tin ghi nhận là đang hiện diện và có ảnh hưởng tại đa số các hải cảng chính yếu.
  • Hải quân Mỹ đã di chuyển các chiến hạm rời khỏi các khu dể bị nguy hiểm tại những hải cảng của Mỹ, đã triển khai một số chiến hạm gần sát với đất nước của bọn khủng bố, cũng như cũng đang tuần tra dọc ven bờ biển nước Mỹ.
  • Không quân, Lực Lượng Bảo Vệ Quốc Nội National Guard cùng cảnh sát tiểu bang nay cùng phối hợp tuần tra trên không phận các thành phố và các thủy lộ quan yếu, các cơ sở hạ tầng về điện lẫn nguyên tử.
  • Chính quyền tiểu bang và địa phương đã cùng nâng cao biện pháp bảo vệ an ninh khắp toàn quốc các hải cảng, cầu xá, thủy lợi, nhà máy làm điện và hạn chế khả năng có thể thu lượm tin tức nhạy cảm qua máy điện toán.
  • Đề tài an ninh nay đã trở thành một thành phần quan trọng của một chính sách nhập cư mới đang thành hình, kể cả việc theo dõi các chiếu khán từng được thị thực cấp cho về kinh doanh, cho sinh viên và khách du lịch.

Các cơ quan phụ trách về an ninh nay đang chịu chia sẻ thông tin tình báo với nhau.

  • Những cá nhân đang buôn bán với bọn Tàu cộng, như Dân biểu Jane Harman (Dân chủ – California), mà quản hạt gồm luôn cả hải cảng Los Angeles, nay đồng ý là cần phải quan tâm hơn đến tình trạng các hải cảng. Thống đốc California Davis thì nay mới chịu ra lệnh là phải tuần tra các hải cảng của California. Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein (Dân chủ – California) – từng có người chồng tạo lên được cả toàn bộ tài sản chỉ nhờ giao thương với Tàu cộng – đã chịu bỏ phiếu chấp thuận để chi đến 2 tỷ Mỹ kim nhằm tăng cường an ninh cho các hải cảng.
  • Qua các chỉ thị hành pháp, chính quyền Bush đã kêu gọi các trường cao đẳng và đại học là không nên có chính sách “giáo dục và đào tạo trong các lĩnh vực nhạy cảm”. Phải chấm dứt đào tạo các công dân ngoại quốc về việc “phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Quả thật, không có gì là tốt nếu các đại học tham gia vào tiến trình “đào tạo những người ngoại quốc mà sẽ … tấn công gây thiệt hại cho nước Mỹ …”. 217 Có điều chắc chắn là các công dân Tàu thì đáng lý đã phải bị bao gồm trong số đó, nhưng họ đã không hề bị lưu ý đến chút nào cả.

Nhu Cầu Phải Báo Động Về Bọn Tàu Cộng

Hiện vẫn còn có tình trạng là mối đe dọa của Tàu cộng đang không được đánh giá đúng mức, cho dù Tàu cộng đã từng buộc được một phi cơ Mỹ chỉ đang bay trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông phải đáp xuống đất liền của chúng, cho dù Tàu cộng đã từng nắm giữ các con tin Mỹ vào tháng 4 năm 2001, cho dù đã có đầy đủ tài liệu chứng minh là Tàu cộng đang viện trợ quân sự cho các nước thường xuyên đang bảo trợ bọn khủng bố như là Iran, Iraq, Syria, Libya và Bắc Hàn.

Việc Tổng thống Bush vẫn ủng hộ giao thương với Tàu cộng mà không bắt phải tái xét hàng năm về đề tài nhân quyền của chúng thì quả thật là rất ư đáng thất vọng mà thôi. Thái độ của Tổng Thống nhằm nới lỏng việc kiểm soát các mặt hàng xuất cảng về máy siêu điện toán và các tin tức là chính phủ sẽ cho phép lại việc xuất cảng các kỹ thuật học về vệ tinh thì quả thật là rất đáng phải cho mọi người phảỉ lo ngại. Tuy có vẻ khá hơn cái thái độ và cái chính sách bỏ lơ của Clinton, các biện pháp chế tài của Bush đối với các công ty Tàu cộng về việc phổ biến các kỹ thuật học có tính cách nguy hiểm chết người thì đều thật quả là không được đầy đủ, cũng như là chỉ có tính cách nhỏ giọt mà thôi. Đang có tình trạng một số giới chức rất là quan liêu thì cứ vẫn tiếp tục chỉ làm việc một cách rât ư là thờ ơ và lạnh lùng.

Tuy nhiên dù sao thì Bush cũng đã có vũ trang cho Đài Loan. Bush cũng đang triển khai các lực lượng của Mỹ vào vùng Thái-Bình-Dương. Tổng Thống cũng có dùng mối hăm dọa về mối chiến lược nguyên tử của Mỹ đối với Tàu cộng, cũng như đã từng phản đối về những xúc phạm nhân quyền. Tổng Thống cũng đã hạn chế về các trao đổi quân sự. Ông cũng đã đích thân chất vấn về tình trạng phổ biến vũ khí với bọn lãnh đạo Tàu cộng trong chốn công khai, cũng như là ở chổ riêng tư. Tất cả những biến chuyển này thì cũng khá là khích lệ, hầu giúp cho nhân dân Mỹ chú ý được tới cái mối đe dọa của bọn Tàu cộng.

Mọi công dân Mỹ đều tự mình cần phải đề cao cảnh giác, đừng để tình trạng lạm dụng quyền lực của giới quan liêu quyền lực xẩy ra, chẳng hạn như các vụ Ruby Ridge ở Bắc Idaho, vụ Waco ở tiểu bang Texas, hay tại Miami với đạo luật Racketeer Influenced and Corrupt Organizations Act  ~ RICO Act. Những lần lạm dụng thời chính phủ Clinton quả thực đã từng hạn chế các quyền tự do căn bản của người công dân Mỹ. Nếu cứ để tiếp tục như vậy thì chúng ta cũng sẽ chỉ trở thành cái đám độc tài mà chúng ta đã từng hằng chống lại lâu nay mà thôi.

Hiện nay, đúng là cả Tả lẫn Hữu đều có vẻ đang cảnh giác khá được cao. Đạo luật  U.S. Patriots Act (Luật Ái Quốc Hoa Kỳ) thì nói ngay chỉ tăng gia thẫm quyền cũa chính quyền được có một chút ít mà thôi. Chiếu theo một đạo luật ít được ai biết đến, nhưng đã có từ lâu nay là Foreign Intelligence Surveillance Act, FISA (Kiểm soát về Tình báo Ngoại quốc) của năm 1978, các tòa án vẫn đã từng được quyền kiểm soát và quyết định, qua các phán quyết về nhữnghành vi đặt máy nghe lén và theo dõi bọn gián điệp ngoại quốc. Và tình trạng này hiện vẫn cứ đang tiếp diễn mà thôi.

Nói chung thì sau khi cứu xét mọi việc, thì nền an ninh quốc gia nay có vẻ tốt đẹp hơn nhiều dưới Bush, nếu so với thời Clinton.

Các công dân Mỹ, nay thì mới nhận thức ra được cái khả năng có thể dể dàng bị đánh mất cái tự do mình đã từng có lâu nay, đặc biệt là những khi họ không đề cao cảnh giác hay cứ mãi lo đùa giỡn với bọn thù địch. Nếu chúng ta chịu khó, ráng nhìn qua đến Trung Hoa lục địa, thì chúng ta sẽ được sáng mắt ra, và rồi thì các quyền về tự do của chúng ta mới sẽ được bảo đảm trước mối đe dọa hiểm nguy từng đã không được đánh giá đầy đủ cho tới ngày hôm nay.

 

Roger Canfield

Fair Oaks California

May 27, 2002

 ***

PHỤ  ĐÍNH  A

Các Tàu của Tập đoàn COSCO

Đặt bến mẹ tại các hải cảng Hoa- Kỳ

PHỤ  ĐÍNH  B

Các Hải Cảng Hoa Kỳ

Theo Khả Năng ‘Metric Tons’, 1995-97

PHỤ  ĐÍNH  C

Các Phúc Trình về

An Ninh Hải Cảng Năm 2000

(Các Phụ Đính toàn là những bản liệt kê 

BỊ thu nhỏ cho vừa từng trang trong nguyên bản

nên sẽ KHÔNG đọc được nếu đăng lại tại đây)

 *****

PHỤ  ĐÍNH  D

Trân Châu Cảng:

Phần Cuối Câu Chuyện Kể

Trong năm 2001 thì tác phẫm MAGIC, viết bởi David Lowman, một sĩ quan chuyên nghiệp thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) đã được công bố.

Báo Publishers Weekly có tường thuật, “[Các tài liệu tình báo] … mô tả lại việc tuyển dụng một cách có hệ thống các cư dân Nhật Bản, kể cả đã có quốc tịch rồi hay chưa, hầu gia nhập những mạng lưới chuyên lo cung cấp tin tức cho nước Nhật, ngay cả trước và sau khi bùng nổ [Thế chiến II]”. Và tờ US Naval Institute Proceedings  thì lại viết: “… [Chiếu theo] các báo cáo của FBI, theo các cuộc điều tra về những tổ chức Nhật Bản bởi Office of Naval Intelligence (Cơ quan Tình báo Hải quân), và theo ngay cả các kết quả giải mã của chính điệp vụ Magic ** … Lowman quả đã đưa ra một vụ đủ khả tín để thuyết phục được độc giả rằng đây không hề là một đề tài chỉ nhằm mục đích kích động mà thôi … để khiến mọi người phải lo sợ là ít nhất cũng đã một số người Mỹ gốc Nhật từng là những mối hiểm nguy về an ninh quốc phòng”. Tờ Athena Press thì lại viết: “MAGIC … giải tỏa được một nghi vấn lịch sử liên quan đến hoạt động gián điệp Nhật Bản tại Hoa Kỳ trước vụ Trân Châu Cảng. Nó bác bỏ huyền thoại là việc di tản các cư dân Nhật Bản từ Bờ Tây trong thời chiến đã chỉ hoàn toàn dựa trên “khái niệm phân biệt chủng tộc, nhằm kích động trong thời chiến và chỉ do thiếu hiểu biết về chính trị”. “Tuy là khá cảm thông với sự vô tội của đại đa số những người từng đã phải bị dính líu và về các phiên xử mà họ đã từng bị buộc phải gánh chịu  … thật sự là đã từng có xẩy ra một mối đe dọa nghiêm trọng … ” [phần tô đậm ‘bold’ được thêm].  “Một năm trước khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng thì một nhóm chuyên viên giải mã chọn lọc đang phục vụ tại Signal Intelligence Service của Bộ Binh Mỹ đã thành công phá được khóa mật mã của các liên lạc ngoại giao truyền tin cấp cao nhất của Nhật Bản.

Các thông điệp … nằm trong hồ sơ điệp vụ có tên là MAGIC, đã tiết lộ sự hiện diện của cả một mạng lưới gián điệp Nhật Bản lan rộng dọc theo toàn bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ.

Ngoài ra … Lowman cũng cung cấp … các báo cáo mật của ba cơ quan tình báo Mỹ …. Những báo cáo này nhằm thảo luận về việc lợi dụng các doanh nghiệp, hiệp hội, nhà thờ, trường dạy sinh ngữ Nhật tại Mỹ, câu lạc bộ, tàu đánh cá, nghiệp đoàn lao động và luôn cả các cá nhân trong nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản. …  chiếu theo một ước lượng ngay cả của một sĩ quan tình báo từng có thiện cảm với các cư dân Nhật Bản, thì độ chừng một phần năm cư dân Nhật Bản tại Mỹ quả không thể nào đáng tin cậy được”.

ĐIỆN THƯ # 067

Ngày: 9 tháng 5 năm 1941

TỪ: Los Angeles (Nakauchi)

GỞI: Tokyo (Gaimudaijin)

(Gồm hai phần – toàn bộ)

Tối Mật.

T/C: Điện thư của quý vị sớ # 180 gởi cho Washington.

… Chúng ta đã thiết lập xong các liên lạc với những người Nhật tuyệt đối rất ư là đáng tin cậy trong khu vực San Pedro và San Diego, và họ sẽ theo dõi chặt chẽ tất cả các lô hàng về phi cơ và vật liệu chiến tranh khác … Chúng ta cần  phải duy trì mối liên hệ với các thế hệ thứ hai của chúng ta mà đang phục vụ trong Quân Đội (Hoa Kỳ) … Chúng ta cũng đang có được những móc nối với các thế hệ thứ hai của chúng ta mà đang làm việc trong các xí nghiệp sản xuất phi cơ … “.

Các điện thư khác của MAGIC cũng tiết lộ sự hiện diện của nhiều mạng lưới đang hoạt động ở Seattle và Los Angeles và đang sử dụng các doanh nghiệp, các phòng thương mại, báo chí và các hiệp hội Nhật Bản khác nhau để thu thập tin tình báo.

Biên bản ghi nhớ thuộc hồ sơ cá nhân, “Đề tài Nhật Bản, Bản Báo cáo”, của Hải quân Thiếu Tá K.D. Ringle, Wisconsin, USN, Chi nhánh Văn Phòng Tình Báo (Branch Intelligence Offi ce), Đơn vị Eleventh Naval District, đệ trình Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, ngày 26 tháng giêng năm 1942.

“Vấn đề chính yếu … là … phải đối phó ra sao với các công dân Hoa Kỳ, tuy sinh đẻ ra ở Mỹ nhưng mà tổ tiên là người Nhật, mà trong số đó đã được ước lượng là [ít ra] có tới bảy mươi phần trăm là vẫn trung thành …”

“Và là những cư dân ngoại quốc gốc Nhật Bản thì đa số ít ra cũng trung thành một cách thụ động với Hoa Kỳ … “; “cũng có trong số gốc Nhật, dù là vẫn có quy chế ngoại quốc hay cả có quốc tịch Hoa Kỳ, thì một số cá nhân, hoặc là quả tình được gài bởi chính phủ Nhật Bản hay chỉ là vì trung thành cuồng tín đối với quốc gia này, những người mà sẽ là những tên phá hoại hay làm gián điệp. Con số này được ước tính là ít hơn ba phần trăm của tổng số, tức là tương đương khoảng 3.500 trên toàn quốc Hoa Kỳ … “; “… thành phần nguy hiểm nhất … những kẻ đã trải qua những năm tháng trưởng thành của họ, từ 10 đến 20 tuổi, tại Nhật Bản và nay đã trở về lại Hoa Kỳ … Nhóm này gồm độ 600 tới 700 đương sự trong ngay đô thị Los Angeles, và ít nhất là trong nhiều khu khác của miền Nam California”.

TÌNH BÁO VÀ TÂM LÝ CHIẾN NHẬT TẠI HOA KỲ TRONG NĂM 1941 (Báo cáo của Phân cục Counter Subversion Section, Văn Phòng Tình Báo Hải Quân Office of Naval Intelligence …)

Ngày 4 tháng chạp năm 1941 . . . : “Độ năm trước, các lãnh sự quán Nhật Bản ở vùng bờ biển phía Tây đã bắt đầu thu thập tin tức về các hoạt động của hải quân và không quân Anh,  Pháp và Mỹ … Những loại báo cáo như về việc bố trí binh lính và chiến hạm, những lần sắp xếp thăm viếng kiểm tra của các giới chức Nhật tới các xí nghiệp và các cơ sở quân sự quan trọng của Mỹ . . . Đó chính cũng là mô hình chung đối với các nhà kinh doanh khác của Nhật Bản . . . “

Tình báo của Quân đội và Hải quân cũng như là FBI đã từng báo cáo:

  • Các mối đe dọa về an ninh đối với các căn cứ hải quân tại đảo Terminal Island ở hải cảng Los Angeles quả thật có liên quan đến người Mỹ gốc Nhật.
  • Có những người Mỹ gốc Nhật đứng lên nổi loạn sau trận Trân Châu Cảng.
  • Các giới chức thẫm quyền Mỹ quả đã là rất ư miễn cưỡng khi cần phải truy tố họ.
  • Một số tổ chức quân sự Nhật Bản tại Mỹ đã có bọn lãnh đạo và thành viên vẫn trung thành với Đế quốc Nhật Bản.
  • Đế quốc Nhật Bản đã tận dụng giới doanh nghiệp, các tổ chức dân sự cùng tộn giáo cũng như là báo chí Nhật Bản.
  • Bọn Nhật đã sử dụng hệ thống quản trị xen kẻ lồng vào nhau để thiết lập một mạng lưới gián điệp rất có tiềm năng gồm các tổ chức kinh doanh rất ư là đa dạng và khác biệt.

Nói chung thì hầu hết những người gốc Nhật đều đã chứng tỏ một lòng quyết chí trung thành với Mỹ quốc, bất kể sự kiện đã từng bị giam giữ và mất mát tài sản, và các tài liệu lịch sử rồi đây thì sẽ vẫn cần phải chứng minh cho được những vụ liên quan những đối tượng thật sự có làm gián điệp cho Nhật. Do đó, quả thật cái mối đe dọa đã từng có từ phía Nhật Bản thì cũng đã phải được đối phó một cách thích đáng rồi. Đế quốc Nhật đã từng cố gắng và đã tin tưởng là họ có thể làm suy chuyển lòng trung thành của những người gốc Nhật Bản và giới lãnh đạo của Hoa Kỳ, khi quyết định tham gia vào một cuộc thế chiến hầu bảo vệ các nền dân chủ, đã buộc phải đối phó lại với mọi mối hiểm nguy nào mà đã có.

Ngày hôm nay thì mối đe dọa từ Tàu cộng cũng sẽ mang lại đầy những hiểm nguy tương tự như trên, đối với nền an ninh quốc gia của chúng ta và các quyền tự do dân sự của chúng ta, nếu chúng ta không cương quyết hành xử một cách khôn ngoan nhưng cẩn thận.

MỤC  LỤC

(Dài 6 trang)

*****

 Đôi Lời về Tác Giả

image019

Tiến sĩ Roger Canfield, một phân tích gia về chính trị và tình báo, nguyên là cựu giám đốc  điều hành của U.S. Intelligence Council (Hội đồng Tình báo Hoa Kỳ). Cũng như thân phụ, người từng đã có biệt hiệu là “Red”, một Trung Sĩ Hải quân và cựu chiến binh Thế chiến II cùng Chiến tranh Hàn Quốc, ông Roger cũng đã phục vụ trong Hải quân Mỹ, nơi ông đã lên đến cấp bậc chuyên viên kỹ thuật về điện tử hàng không với bậc lương Petty Officer Second Class E-5 (Hạ sĩ cấp Hai) trước khi trở về lại dân sự và tiếp tục đại học. Ông đã từng nắm các chức vụ trưởng phòng nhân viên, cố vấn về chính sách và tùy viên báo chí cho nhiều vị dân cử thuộc Quốc Hội Lập pháp California từ năm 1980 đến năm 2000.

Roger cũng là một cựu bình luận gia về chính trị hàng ngày cho tờ Sacramento Union và từng phụ trách một chương trình phát thanh tên là “Under the Dome”. Các bài viết của ông đã được đăng trên các báoMilitary, Human Events, National Review, New American, Dispatches, World-NetDaily cùng rất nhiều tạp chí về thương mại và tin tức khác.

Ông đã từng được truy thưởng Huy chương “Medal of Patriotic Commander ~ Huy chương Nhà Lãnh đạo Ái quốc” để ghi nhận công lao đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Nicaragua khỏi ách thống trị của Cộng sản. Ông đã thành công đệ trình luận án tiến sĩ về đề tài Government ~ Chính phủ tại Đại học Claremont Graduate School và đã có xuất bản luận án của mình dưới tựa đề Black Ghetto Riots and Campus Disorders. Ông đã theo học, rồi giảng dạy về các môn International Relations (Quan hệ Quốc tế), Political Science (Chính trị học) và Public Administration (Hành chánh Công quyền) tại các trường cao đẳng và đại học ở New York, Washington, DC, Los Angeles và San Francisco.

Roger hiện đang sống với vợ tên là Noel ở Fair Oaks, California. Họ có ba con đã thành niên với hai đứa cháu. Cuốn sách của ông, tựa đề là China Doll:Clinton, Gore and the Selling of the U.S. Presidency (Búp bê Tàu: Clinton, Gore và vụ buôn bán chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, cùng viết chung với Chủ tịch của tổ chức United States Intelligence  Community USIC là Richard A. Delgaudio, và hai cuốn khác với tựa đề là – China Traders (Thương nhân Tàu) Stealth Invasion (Xâm Chiếm Tàng Hình) đã từng được bán ra với hơn cả 1 triệu ấn bản rồi.

*****

  1. Reuters, 1 tháng 11 năm 2000
  1. Gertz, China Threat; The Washington Post, 24 tháng 11 và 6 tháng chạp năm 1985; The New York Times, 30 tháng 11 năm 1985
  1. The New York Times, 28 tháng 11 năm 1985; Washington Post, 4 tháng chạp năm 1985 và 5 tháng 6 năm 1986; Naval Investigative Service Command, Espionage, 1989; Wall Street Journal, 24 tháng 2 năm 1994; CBS News, 18 tháng chạp năm 1999
  1. The Washington Times, 22 tháng chạp năm 1993; Los Angeles Times, 5 tháng chạp năm 1993; Bản Báo cáo Cox Report, 2001
  1. New York Times, 31 tháng chạp năm 1987; The Washington Post, 31 tháng chạp năm 1987
  1. 144. 145.  Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce (Bộ Thương Mại)
  1. 147. Như trên
  1. Gertz, China Threat
  1. 150. 151.  Báo cáo Cox Report
  1. Báo cáo Cox Report; Gertz, China Threat

 153.  Angelo Codavilla và những người khác

  1. New York Times, 8 tháng 4 năm 1999
  1. AP, 26 tháng 5 năm 1999
  1. Trang trên Liên Mạng của Lucent; New York Times, 4 và 5 tháng 5 năm 2001; The Washington Times, 8 tháng 5 năm 2001
  1. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce (Bộ Thương Mại)
  1. Year of the Rat
  1. New York Times, 15 tháng chạp năm 1998
  1. Khai trình của Juliana Utomo, 15 tháng 7 năm 1997
  1. Wall Street Journal, 27 tháng 2 năm 1997; The Washington Post,  9 tháng 3 năm 1997; Congressional Record, Senate, 5 tháng 3 năm 1997; Mother Jones, 17 tháng 4 năm 1997; The New York Times, 22 tháng 6 năm 2000; AP, 21 tháng 4 năm 2001, và Michelle Malkin, 25 tháng 4 năm 2001

*      Tài liệu này được viết năm 2002 (chú thích của người chuyển ngữ)

  1. Báo Investor’s Business Daily
  1. Charles Smith, báo WorldNetDaily, 27 tháng 4 năm 1999
  1. The Washington Post, The Washington Times, AP và ABC News, 6 tháng 4 năm 2000
  1. Trung Tá Al Coates trên 20/20, 2 tháng chạp năm 1998
  1. Waller, Insight, 25 tháng 2 năm 2001
  1. Viện Casey Institute, Tháng 7 năm 1999
  1. Xin đọc sách của Canfield và Delgaudio, China Doll, Tháng 6 năm 2000
  1. Free Press, 2000
  1. Reuters, 3 tháng 10 năm 2000
  1. Trang trên Liên Mạng của Halliburton, 2001
  1. George W. Bush, 25 tháng 5 năm 1999, GeorgeWBush.com
  1. Novak, Chicago Sun Times, 18 tháng giêng năm 2001
  1. CSTC-Warship tại trang chinaships.com
  1. Sperry, WorldNetDaily, 24 tháng giêng năm 2001, có nêu lên các tài liệu lưu giữ của Thượng viện cùng các cơ quan an ninh công cộng
  1. Thăm dò Zogby, Tháng 11 năm 1999
  1. 178. Báo cáo Cox Report
  1. AP, 8 tháng chạp năm 2001
  1. Reuters, 3 tháng 10 năm 2001
  1. Hồ sơ DEBKA, WorldNetDaily, 30 tháng 11 năm 2001
  1. Coast Guard Migrant Interdictions At Sea, Uscg.mil, 16 tháng 11 năm 2001
  1. Long Beach Press Telegram, 12 tháng chạp năm 2001
  1. AP, 19 tháng 2 năm 2002; BBC, 4 tháng 3 năm 2002
  1. Interpool.com, 26 tháng giêng năm 2002
  1. Charleston Post and Courier, 21 tháng 9 năm 1999, 22 tháng 10 năm 1999
  1. ABC News.com, 17 tháng chạp năm 2000
  1. Trang trên Liên Mạng của Hải Quân Hoa Kỳ
  1. ABC News.com, 17 tháng chạp năm 2000
  1. People’s Daily, 10 tháng giêng, 22 tháng 3 năm 2002
  1. Washington Times, 29 tháng 3 năm 2002; Tampa Tribune, 11 tháng 3 năm 2002 và St. Petersburg Times, 15 tháng 5 năm 2002.
  1. AP, 25 tháng giêng năm 2002
  1. Oakland Tribune, 8 tháng giêng năm 2002
  1. Jon Dougherty, WorldNetDaily, 22 tháng 2 năm 2002; LA Times, 3 tháng 3 năm 2002
  1. Bản báo cáo The Triennial Comprehensive Report on Immigration
  1. Con số tổng kết 12.665 là từ dữ kiện đúc kết của năm 1998: 6.462 chiếu khán loại J-1; 3.880 chiếu khán loại H-1B; các chuyên viên khác, 730 chiếu khán loại H- 2B; 58 chiếu khán loại H-3 dành cho người học nghề; 1.535 chiếu khán loại L-1 dành cho nhân viên ngoại quốc làm cho công ty Mỹ. Xem: bảng Table 40. Nonimmigrant Admitted… State Department, 1998
  1. Dữ kiện và các con số là của Viện Public Policy Institute of California, Tóm lược Brief #21, Tháng 6 năm 1999
  1. Asahi.com, 27 tháng 11 năm 2001
  1. AP, 30 tháng 5 năm 2002
  1. San Francisco Chronicle, 19 tháng 4 năm 2002
  1. World Tribune, 21 tháng giêng năm 2002
  1. Financial Times, 21 tháng giêng năm 2002
  1. The New York Times, 19 tháng 2 năm 2002; Fox News, 22 tháng 2 năm 2002
  1. Washington Post, 3 tháng 3 năm 2002
  1. World Tribune, 5 tháng 3 năm 2002
  1. 207. Trang trên Liên mạng của văn phòng Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Bộ Thương Mại
  1. AP Reuters, 31 tháng 8 năm 2001; Richard Mercier, Quan Thuế Customs, trước Ủy ban U.S.-China Security Review Commission, 17 tháng giêng năm 2002
  1. CNN; Los Angeles Times, 1 tháng 9 năm 2001
  1. Bộ Ngoại giao, Phúc trình Hàng ngày, 24 tháng giêng năm 2002; SpaceDaily, 24 tháng giêng năm 2002; Gertz, Washington Times, 25 tháng giêng năm 2002
  1. CNN, Los Angeles Times, 1 tháng 9 năm 2001; Agence France-Presse, 9 tháng 5 năm 2002; Global Security Newswire, 16-17 tháng 5 năm 2002
  1. Global Security Newswire, 17 tháng 5 năm 2002
  1. Al Santoli, China Reform Monitor, 26 tháng 9 năm 2001 có nêu lên tờ New Delhi

Pioneer Daily

  1. The Washington Times, 21 tháng chạp năm 2001; Drudge Report, 27 tháng chạp năm 2001
  1. Hồ sơ tình báo DEBKA, WorldNetDaily, 17 tháng chạp năm 2001
  1. Gordon G. Chang, The Coming Collapse of China, 2001; The Washington Post, 13 tháng 9 năm 2001; The Washington Times, 14 tháng 9 năm 2001; Stratfor, 20 tháng 9 năm 2001; Hồ sơ tình báo DEBKA, 7 tháng 10 năm 2001; CNN.com, 10 tháng 10 năm 2001
  1. Taipei Times, 2 tháng 5 năm 2002

**      MAGIC là một điệp vụ về giải mã của Đồng Minh trong Thế chiến II, cùng phối hợp phụ trách bởi 2 đơn vị Signals Intelligence Section  ~ SIS của quân đội Hoa Kỳ và Communication Special Unit của Hải quân Hoa Kỳ (chú thích của người chuyển ngữ)

*****


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

*****

2 phản hồi to “Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ #3”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: