Roger Canfield’s Americong #18

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 18

Những Chuyến Đi Được Hướng Dẫn: Các Địa Điểm Bị Dội Bom

 Đường Mòn Hồ Chí Minh: Không Có Gì Cả . . . Ngoại trừ Bom, Hỏa Tiễn và Bom Lữa Napalm của Mỹ

Ngày 27 tháng 7 năm 1966, Dagmar Wilson hướng dẫn một phái đoàn WSP –     Donald Duncan của tờ Rampart, Floyd McKissick  của Đại hội của Bình đẳng Chủng tộc (Congress of Racial Equality), tiểu thuyết gia Kay Boyle, Rabbi Israel Dresner và Russell Johnson của AFSC – đi gặp bọn Việt ở Phnom Penh, Campuchia.

Họ đã bay hàng trăm bộ phía trên biên giới rừng rậm với Việt Nam, nơi mà phái đoàn WSP đã không nhìn thấy  (hay báo cáo) được các căn cứ của Bắc Việt. Họ chỉ nhìn thấy bằng chứng của những vụ dội bom do Mỹ vào làng Thloc Trạch. “Sự hiện diện  của Bắc Việt tại Cam-pu-chia thì đã không để lại dấu vết gì về quân sự hay chính trị. ” 1497

Những nhận xét như vậy quả đúng là chỉ lặp lại những gì mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói với ký giả Stanley Karnow: Các cáo buộc về sự hiện diện của quân đội Bắc Việt tại miền Nam đã là “một huyền thoại được chế tạo bởi đế quốc Mỹ để biện minh cho chiến tranh xâm lược của chúng.”  Tướng Westmoreland đã nhớ lại: “Ngồi trên cả đống sự kiện không thể nào chối cãi được …tôi chỉ còn có thể kết luận rằng những người này hoặc có ý đồ gì đó hay quá dễ dàng để bị lừa dối. ” 1498

Sau chiến tranh thì Hà Nội lại nói với Karnow rằng cả hàng chục ngàn lực lượng chiến đấu của họ đã di chuyển xuống các đường mòn … cũng giống như bọn “Five O’Clock Follies” đã từng nói với các nhà báo Mỹ.

 

Hình: Cu-ly chuyển tiếp-liệu về Nam trên Đường Mòn Hồ Chí Minh (1959)

 

Người chụp: Vô danh. Stanley Karnow, Việt-Nam, Một Lịch Sử

 

Ngay từ đầu, Bắc Việt đã vi phạm nền trung lập của Lào và Campuchia mà không bị phản đối . Trong Thế chiến I và Thế chiến II, một khi Đức đã vi phạm quy chế trung lập của Bỉ  thì Bỉ đã trở thành một mục tiêu quân sự hợp pháp chiếu theo các luật về chiến tranh. Hành động quân sự của Mỹ ở hai nước trung lập Lào và Campuchia luôn luôn bị giận dữ phản đối. Rất dể đoán đuợc, sau khi Bắc Việt đã chiếm đóng các vùng  trung lập mà không bị phản đối thì chúng có được một biên giới dài 600 dặm an toàn để tấn công miền Nam Việt Nam.

 

 

Cam-pu-chia Vuốt Giận Hà-nội

Nhiều khu vực rộng lớn trong Cam-pu-chia đã là những nơi trú ẩn của quân đội Bắc Việt và tồn trữ trang thiết bị. Trong năm 1963, theo lời của Penn Nouth, Thủ tướng kiêm Cố vấn cho Tổng thống ở Vương quốc Cam-pu-chia, việc Bắc Việt xâm nhập đã trở nên quan trọng khi Thái tử Sihanouk “ký một hiệp ước với Hà Nội ” và mở cửa biên giới phía Đông của Campuchia và sau đó luôn cả hải cảng Sihanoukville. 1499  Cùng năm đó, Cam-pu-chia cũng đã bác bỏ Hiệp định hữu nghị với Hoa Kỳ.

Năm 1965, chính phủ gọi là “trung lập” Campuchia đã ký kết một thỏa ước bí mật cho phép Bắc Việt tiến hành các hoạt động quân sự ngay trong nước mình và được sử dụng các hải cảng của Cam-pu-chia. Các thỏa thuận thương mại ký kết với Trung Cộng và Nga đã mở hải cảng Cam-pu-chia để đón nhận các tiếp liệu chiến tranh. Ở Cam-pu-chia, Hoàng tử  Norodom Sihanouk, kẻ luôn luôn đóng vai trò đi vuốt giận, đã đang phàn nàn về việc nổi loạn vũ trang của “Việt Minh Khmer”, về hành vi xâm lấn, về các vụ giết người và ám sát bất chấp sự hỗ trợ của mình đã dành cho Bắc Việt và Việt Cộng.  1500

Các Trận Chiến Bí-Mật tại Lào

Cho tới năm 1965 thì đã có một số lượng 6.000 phu khuân vác và 80.000 người bị cưởng bách lao động  từ Trung Quốc, Việt Nam và Lào tại Lào dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh đang xây dựng được mổi ngày hai dặm đường nếu trời quang đãng. 1501  Lúc ban đầu, Mỹ đã tuyển dụng các dân tộc trên cao nguyen là Hmong và Miền Lu, để lấy tin tình báo trên đường “Trường Sơn”, nơi mà Nga đã thả tiếp tế cho quân đội cộng sản Pathet Lào.

Hà Nội đã đang  tiến hành “cuộc chiến bí mật” thực sự tại Lào với sự đồng lõa của các nhóm hòa bình và một giới truyền tin lười biếng.

Phái đoàn WSP, đúng như được mong đợi vì do lòng trung thành của chúng, đã cố tình làm ngơ trước sự chiếm đóng quân sự của Bắc Việt tại Cam-pu-chia, nhưng lại luôn luôn theo sát các vụ dội bom của Mỹ, dù là nhằm vào những mục tiêu quân sự hợp pháp.

Trung tướng Harold G. Moore chỉ huy Sư đoàn 7 Kỵ binh đã chiến đấu với Quân đội nhân dân Việt Nam tại Ia Drang trong mấy ngày 14 tới 18 tháng 11 năm 1965 đã viết trong quyển We Were Soldiers và Young, ” Thuận lợi nhất cho Quân đội nhân dân Việt Nam đã là vị trí trên biên giới với Cam-pu-chia của Ia Drang . Cộng sản Việt đã muốn đến thì đến, muốn đi thì đi qua lại biên giới một cách tùy tiện; còn chúng tôi thì đã bị cấm vượt biên giới. ”  1502 Joe Galloway, phóng viên hiện trường tại Ia Drang, đã viết.

công điện bayqua lại giữa Sài Gòn và Washington. Câu trả lời từ Tòa Bạch Ốc  của LBJ là việc đuổitheo địch qua biên giớituyệt đối bị cấm. Như vậy,vô hình chung Hoa Kỳ đã nhượng sáng kiến về chiến lượclại choTướng Giáp trong toàn thời gian còn lại của cuộc chiến.  1503

Tương tự như vậy, Mỹ đã gần như không hề  đuổi theo địch từ Iraq và Afghanistan để vô Syria, Iran hay Pakistan.

Các điệp viên của Hà Nội ra vô nước Mỹ hàng ngày. Nói cho cùng thi cũng không ảnh hưởng gì vì có cho tới 55% người Mỹ đã biết những gì Hoa Kỳ sẽ phải làm ở Việt Nam  – “đẩy mạnh tấn công.”  1504

Vào giữa năm 1966 thì CIA quyết định tìm hiểu những gì đã đang xảy ra.

 Báo Cáo của CIA: Phụ Lục X.

Các Biểu Tình Phản Đối đã Hạn Chế Hành Động của Mỹ tại Việt-nam

Vào cuối tháng 8 năm 1966, một bản báo cáo của CIA mà đã bị bỏ qua không ai đếm xuể tới, “Phụ Lục  X: Ảnh hưởng của không khí chính trị quốc tế đối với các  kế hoạch và khả năng của cộng sản Việt Nam,”  đã phát hiện ra rằng Bắc Việt tin là “các phong trào giải phóng” và tình trạng bất ổn dân sự “phân tâm và làm suy yếu” các nổ lực chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Tham Mưu Trưởng của Quân đội Nhân dân Bắc Việt là Văn Tiến Dũng đã tin rằng việc “đàn áp những kẻ khác”  mà đang phản đối biểu tình sẽ hạn chế “tiềm năng kinh tế và quân sự ” trong hành động của Mỹ tại Việt Nam.  1505

Trong một phần có tựa đề “Đối lập Quốc nội tại Hoa Kỳ,” phần  Phụ lục X của CIA đã ghi nhận “mức độ và ảnh hưởng của phe đối lập . . . ngay  trong nước Mỹ. ”  Phụ lục đã báo cáo là chủ trương chiến tranh tiêu hao của Hà Nội đã được tính toán ngõ hầu làm gia tăng phí  tổn xương máu và tài nguyên đến điểm khã dỉ thổi bùng làn sóng phản đối trong nước Mỹ.” Cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới để chận đứng các hành vi của Mỹ …” CIA đã phát biểu rằng cán bộ Việt cộng sẽ “thúc đẩy sự giận dữ trong dư luận thế giới …” và “Chính phủ Mỹ (sẽ) … bỏ cuộc và rút ra. ”

CIA Báo Cáo về Kinh Nghiệm của Hà-nội tại Pháp

CIA đã tường thuật về kinh nghiệm của Việt cộng trong việc thành công  ảnh hưởng đến ​​công luận Pháp vào các năm 1953-1954.  1506 Thật vậy, Đảng Cộng sản Pháp và Tổng liên đoàn Lao Công  (Confederation General du Travail) đã tổ chức các cuộc biểu tình, đình công, bãi việc và phá hoại việc vận chuyển thiết  bị quân sự đi Việt Nam. 1507  Viên tướng Pháp chỉ huy  tại Việt Nam là Henri Navarre đã viết rằng “lập trường chủ bại và phản quốc” ở trong nước đã không để cho Pháp giành chiến thắng trong cuộc chiến.  1508

Tướng Võ Nguyên Giáp ghi nhận là “các thành phần tiến bộ” ở Pháp mà đã lên án “cuộc chiến bẩn thỉu của họ” từng làm suy yếu ý chí của Pháp, y như sự kiện  người Việt cần cù để vũ trang và chuẩn bị cho một chiến thắng cuối cùng ở Điện Biên Phủ. 1509  Giáp đã công nhận trước đó là trong cuộc đấu tranh chống Pháp, “Kẻ thù sẽ bị nằm trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Chúng sẽ phải kéo dài cuộc chiến để giành chiến thắng  và trong khi đó thì lại không có các phương tiện tâm lý và chính trị để tiếp tục một cuộc chíến kéo dài và hao tổn … ”  1510

Viện Bảo tàng Cách mạng xây năm 1959  để tưởng nhớ chiến thắng chống  Pháp vào năm 1954 đã dành riêng một phòng cho phong trào hòa bình tại Pháp. 1511  Một con tem được in ra để ghi nhận chiến thắng  năm 1954 như là một chiến thắng không phải của dân tộc Việt Nam nhưng mà là của tình đoàn kết cộng sản .

 

Tem: Malenkov, Hồ và Mao ăn mừng chiến thắng Pháp, 1954, do Nat. Ward cung cấp

Để Kết Luận: CIA Hy Vọng là Hà-nội đã Sai Lầm

Bất kể sự kiện lịch sử này cùng  kinh nghiệm về ý đồ rõ ràng của Hà Nội, các phân tích gia của CIA đã kết luận một cách rất kỳ quái  rằng Việt Nam thực sự thiếu tinh tế về nước Mỹ. 1512  Hà Nội đã tuyên bố Mỹ là Mặt trận thứ hai và đã tiếp đoán cả đống  lãnh tụ phản chiến tại khách sạn tốt nhất của chúng, vậy mà CIA vẫn không tin vào chiến lược chính trị của Hà Nội. “Phản ứng của Việt Nam đối với các cuộc biểu tình của sinh viên Mỹ … ” đã chỉ là một ước vọng. Tuy nhiên, “nếu trong thời gian dài”  mà không có “động viên thời chiến” và “việc chống đối mạnh mẽ [tại Mỹ] sẽ không xẩy ra như Hà Nội có vẻ đang mong đợi”, thì một quyết định của Việt Nam để “kéo dài cuộc chiến” có thể sẽ không xẩy ra được. 1513

Do CIA cầu mong cộng sản đã sai lầm về khã năng huy động các hoạt động phản chiến nên họ chỉ đơn thuần trình bày các hy vọng đầy ham muốn nhất của họ như là nhữngh tin tình báo sai lầm cho Tổng thống.

Trong lúc đó, Hà-nội vẫn tiếp tục tuyển mộ người trên Mặt Trận Thứ Hai.

Chuyến Đi Thăm Các Địa Điểm Bị Dội Bom mà Có Hướng Dẫn của Dillinger: Phủ Lý, Nam-định và Thanh-hóa

Vào cuối mùa hè và mùa thu năm 1966, David Dellinger, một tay cả đời hoạt động phản chiến, trước hết đã đi Sài Gòn để gặp số Phật tử, sinh viên và trí thức theo thông lệ . Sau đó, y đi Hà Nội thông qua Hiroshima, Phnom Penh, Moscow và Bắc Kinh trong vòng bốn tuần.

Được hướng dẫn đi Phủ Lý, Nam Định và Thanh Hóa, Dellinger đã được cho thấy sự tàn phá rộng lớn của các tòa nhà dân cư, của một ngôi chùa, của một chủng viện và nhà dưởng bệnh lao. Chỉ sau chiến tranh thì Dellinger mới chịu thừa nhận hoài nghi ban đầu của y về “vấn đề dội bom có chủ ý.” Một phụ nữ đã cho biết cô ta lúc đó đang di chuyển đạn súng phòng không. Ta phải lưu ý là khi  mang đạn dược thì cô ấy đã là một chiến sĩ chớ không còn là một dân thường.

Theo kiểu thấy trước được, bởi vì chiến lược của Bắc Việt là tách rời người dân Mỹ ra xa chính phủ của họ, lòng căm thù bọn “cướp biển” và “tội phạm”  Mỹ của Hà Nội đã không dính líu tới người dân Mỹ – “Tôi xin gửi lời chào kính tới cả phong trào hòa bình và gia đình của bạn. ” Dellinger cho biết là Việt cộng kêu gọi số người ủng hộ phản chiến của họ hãy kiên nhẫn.  1514

Giống như Tom Hayden trước đó, Dellinger  cố vấn cho Việt cộng hãy mời các nhà báo tới Hà Nội để tường thuật báo cáo các sự việc. Các đơn xin đi Hà-nội của các phóng viên chất đống cao tới sáu “inches”,  1515 nhưng vẫn chưa có một nhà báo phương Tây nào đã được phê duyệt cho đi.

Cuộc Động Viên Ngày 8 Tháng 11

Đã có những điệp viên “đáng tin cậy ” đang được cấy trong phong trào phản  chiến. Tới ngày 10 và 11 tháng 9 năm 1966 tại Cleveland, các lực lượng hòa bình đã thành lập một tổ chức “tiến bộ” và “mở rộng”  tên gọi là Động Viên Ngày 8 Tháng 11. Sidney Peck, một cựu thành viên của đảng Cộng sản Mỹ CPUSA  ở Wisconsin, đã phát động tổ chức này. Trong số 150 tham dự viên tại Hội nghị Lãnh đạo Quốc gia ở Cleveland, thì 9 đã là thành viên của CPUSA và 28 là những tên Cộng sản Trotskyite .  1516

Trong số các cuộc biểu tình xảy ra từ ngày 5 tới 8 tháng 11 năm 1966 ở New York, mà vụ lớn nhất có tới 20.000 người tham gia, rất nhiều đảng viên đảng Cộng sản Mỹ và nhiều tên Trotskyites đã tham dự, một số thì mang bảng hiệu  “Đánh đổ  chủ nghĩa đế quốc Mỹ – Toàn thắng cho Mặt trận Giải phóng Quốc gia.”  Ở Munich, Ủy ban Việt Nam cho Hòa bình và Giải phóng đã lên án Mỹ xâm lược và cam kết đoàn kết với các đồng chí Mỹ. 1517

Tại Hà Nội vào ngày 5 tháng 11, Dave Dellinger gửi lời chúc mừng  đến cuộc biểu tình ở New York. Trùng hợp với các cuộc biểu tình ngày 8 tháng 11, Thông tấn xã Việt Nam VNA và báo Nhân dân đã tường thuật: “Chúng tôi ca ngợi các nhà vô địch Mỹ về hòa bình   … Phong trào của nhân dân Mỹ để phản đối chiến tranh xâm lược.”  và một lần nữa lặp đi lặp lại tuyên truyền về tầm quan trọng của phong trào phản chiến Mỹ như là một Mặt trận Thứ hai, “tại Việt Nam đã thực sự trở thành mặt trận thứ hai chống lại bọn đế quốc Mỹ.” 1518

Tại Hội nghị kế tiếp vào ngày 26 và 27 tháng 11 năm 1966 ở Cleveland, khoảng 75  trong số 117 người ghi danh đều đã là thành viên của SWP hay YSA và đảng Cộng sản Mỹ thì gởi Arnold Johnson, James West với Hugh Fowler.  1519

Ngày 8 tháng 11, tổ chức National Mobilization Committee to End the War in Vietnam (MOBE)  tự đổi tên thành  Mùa Xuân Mobe (Spring Mobe)  để chuẩn bị  cho các cuộc đình công của sinh viên cùng các hoạt động khác mà trước đó Bettina Aptheker  với  Tom Hayden đã kêu gọi vào ngày 15 tháng 4 năm 1967.

Một Giáng Sinh của bọn Chủ Hòa tại Hà-nội năm 1966

Vào ngày 22 tháng 12 năm 1966, tên chủ hòa từng được Hà Nội chứng nhận là  Barbara Deming 1520  đã nhập bọn với Grace Mora Newman, Patricia Griffith và Diane Nash (vợ của James Bevel) cùng đáp phi cơ xuống một phi trường Hà Nội tối đen và ở lại thành phố trong thời gian 11 ngày với tư cách là khách mời của Hội Liên hiệp Phụ nữ Bắc Việt.  1521 Tại khách sạn Metropole, chúng đã gặp các tên khác từ Moscow, Cuba, Nhật Bản và Tây Đức. Được đánh thức vào lúc 4:00 sáng, chúng được hướng dẫn đi thăm các thôn làng để chứng kiến cảnh những nạn nhân của loại bom mảnh (fragmentation bombs). Ngày 27 tháng 12, chúng cùng ở chung trong các hầm tránh bom của Metropole nằm dưới phòng phục vụ rượu Bamboo Bar 1522  với bọn Liên Xô, Cuba, Đức, Ý và trong số đó có luôn cả Harrison Salisbury của New York Times .

Việt cộng thì dàn đầy lính bên ngoài khách sạn với súng sẵn sàng để bắn máy bay Mỹ.

Nó đã được tổ chức,  là một màn trình diễn, nhưng cũng chỉ là một màn lường gạt  thành công mà bộ phim truyền hình Vietnam: A Television History  đã trung thành lặp lại. 1523  Cho dù việc không tạc bất cứ nơi nào gần khách sạn Metropole vào ngày 27 tháng giêng  năm 1967 là có hay không thì màn kịch tốt, đầy đam mê và đầy nước mắt vẫn luôn luôn thuyết phục được bọn Mỹ “Hòa bình” để tin kẻ thù.

Bọn Việt cộng luôn luôn cho kèm theo với kiểu tuyên truyền ‘nặng ký’ của chúng nào là hoa quả, nào là kiểu ôm chầm cùng nước mắt để tăng thêm cảm xúc. Những người Mỹ mà thường rất đa cảm đã là những mục tiêu tốt hầu được dùng để lặp lại như vẹt lập trường của Hà Nội.

Tại Iraq, tả phái đã phá nát uy tín của Tổng thống Bush bằng việc bóp méo các việc ngẫu-nhiên ở Guantanamo, Abu Ghraib và Haditha. Khởi đầu bằng tin tình báo rất nghèo nàn của CIA cộng chung với một số viên chức phản trắc, việc lặp đi lặp lại những tuyên bố nhằm cáo buộc Bush từng nói láo cuối cùng đã làm tổn thương tới uy tín của Tổng thống, của chính phủ Iraq và của luôn nỗ lực chiến tranh.

Barbara Deming, mà các đòi hỏi cho hòa bình thế giới nhằm chống lại chủ nghĩa quân phiệt Mỹ trước đó đã đưa được y thị đến thiên đường Cuba của Castro, nơi mà hòa bình đã được khéo léo thu xếp theo kiểu bắt đứng dựa tường “Al Paredon” để bị hành quyết, nay gặp được hai tù binh vô danh Mỹ. Họ đã giao  cho các người Mỹ một xấp thơ từ để mang dùm về nhà và “khẩn nài người Mỹ hãy làm tất cả những gì có thể được để chấm dứt chiến tranh.”  Sau một giờ gặp gở thì Hồ Chí Minh đã tặng mỗi người phụ nữ một hoa hồng. 1524

Khi được cho xem một bộ phim với nội dung là Hồ Chí Minh đã từng đi thăm khu da đen Harlem và “đã phẫn nộ trước việc các người da đen Negroes đã bị lợi dụng ở Hoa Kỳ,” Diane Nash Bevel, một sáng lập viên của Southern Christian Leadership Conference (SCLC) và một cổ động viên cho các quyền công dân mà đã giúp biến các quầy ăn trưa tại Tennessee không còn chỉ dành riêng theo màu da, đã tuyên bố trên Đài phát thanh Giải phóng  của Việt Cộng với các   quân nhân Mỹ ở Nam Việt như sau  “Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh thực dân. Nếu các bạn tham chiến thì các bạn đang tham chiến chống những người  anh em châu Á mà đang quyết chí ngăn cản việc đất nước họ trở thành thuộc quyền sở hữu và bị quản lý bởi bọn tư bản da trắng kỳ thị chủng tộc. ”  1525

Chồng của Nash, tay sáng lập ra SCLC và cũng là cố vấn cho Martin Luther King là James Bevel đã tiếp lời kêu gọi, “Chúa đã không thể nghe lời cầu nguyện của chúng ta vì tất cả những tiếng kêu gào và rên rỉ của con cái Ngài ở đồng bằng sông Cửu Long.” 1526

Barbara Deming đã trở về nhà để thường xuyên phổ biến khắp nơi việc các đã xóm làng quê Bắc Việt bị tàn phá.

Một phóng viên nổi tiếng mà báo cáo thì dĩ nhiên có hiệu quả nhất.

*****

1497  Trung Tướng Harold G. Moore, WE Were Soldiers once…and young, New York; Harper Torch, 1994, trang 438.

1498   Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976,  trang 237.

1499   Penn Nouth, Invitation to a Sideshow,”  trong sách của  Al Santoli, To Bear Any Burden, New York: E.P. Dutton, 1985, trang 68.

1500   “Cambodian Red Rebels Accused of Terrorism,” Washington Post,  2 tháng 4 năm 1967; “Pro-Peking Plot IS Seen in Cambodia,” Reuters,  7  tháng 8 năm  1967; “Cambodia Tells of Aiding Hanoi,” New York Daily News,  21 tháng 8 năm  1967.

1501  John T. Correll, “The Ho Chi Minh Trail”.  Air Force Magazine , tháng 11 năm  2005, Bộ  88, Số 11 ; có thể tham khảo tại  http://www.afa.org/magazine/nov2005/1105trail.html

1502   Trung Tưóng Harold G. Moore (hưu) và Joseph Galloway, We Were Soldiers Once…and Young: Ia Drang: the Battle that Changed the War in Vietnam, New York: Harper Collins, 1992, trang 58, v. v. . .  

1503   Joseph Galloway, “Ia Drang – Where Battlefield Losses Convinced Ho, Giap and McNamara the U.S. Could Never Win,” Vietnam magazine, 18 tháng 10 năm 2010. http://www.historynet.com/ia-drang-where-battlefield-losses-convinced-ho-giap-and-mcnamara-the-u-s-could-never-win.htm/print/ 

1504   Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’s Griffin, 1997, trang 5.

1505   Phúc trình CIA , Directorate of Intelligence, Memorandum, “The Vietnamese Communists Will to Persist,” 26 tháng 8 năm 1966; CIA, FOIA, Hồ sơ số  F-1997-00395, “The Effect of the international Political Climate on Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” trang 10. 

1506   CIA, FOIA, Hồ sơ số F-1997-00395, “The Effect of the international Political Climate on Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” (est.) 31 tháng chạp năm  1966,  trang 10.

1507   Janos Radvanyi, Delusion and Reality, South Bend: Gateway Editions, limited, 1978, trang 4.

1508   Henri Navarre, Le temps des Vérités, Paris: Plon, 1979, trang 280-282

1509   Tướng  Võ Nguyên Giáp, People’s War: People’s Army, Hanoi: Foreign Language Publishing House, 1961.

1510   Nêu ra bởi Trung Tướng Harold G. Moore (USA Ret.)and Joseph Galloway, We Are Soldiers Still, New York: Harper Collins, 2008, trang 131.

1511   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 30. 

1512   CIA, FOIA, Hồ sơ số F-1997-00395, “The Effect of the international Political Climate on Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” (est.) 31 tháng chạp năm 1966, trang 10. 

1513   CIA, FOIA, Hồ sơ số F-1997-00395, “The Effect of the international Political Climate on Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” (est.) 31 tháng chạp năm 1966, trang 10. 

1514   Tom Wells, The War Within: America’s Battle over Vietnam, NY: Henry Holt, 1994, trang 162.

1515   David Dellinger, ‘North Vietnam: Eyewitness Report.” Liberation, tháng chạp năm 1966, trang 6, 9-13; Dellinger, Vietnam Revisited. Boston: South End Press, 1986, trang 65, 73; Dellinger phỏng vấn Mary Hershberger, 7 tháng 10 năm 1992; Dellinger, Yale to Jail, NY: Pantheon Books, 1993; mọi chi tiết đều do từ Hershberger, Traveling, trang 69-76.

1516   HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, trang 1-3.

1517   Jessica C.E. Gienow-Hecht và Frank Schumacher, Cultural and International History, New York: Berghahn books, 2003, trang 145.

1518   Hà-nội, Viet Nam News Agency, VNA, dịch vụ quốc tế bằng Anh-ngữ, 1656 GMT, 8 tháng 11 năm 1966–B; Nhân Dân, 8 tháng 11 năm 1966. Các bản chánh trong   Indochina Archive tại Berkeley.

1519   HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, trang 1-3.

1520   “4 U.S. Women Get Visas From Hanoi,’ New York Times, 17 tháng chạp năm 1966, trang 5.

1521   James E. Westheider, Fighting on Two Fronts, New York University Press, 1999, trang 154-5.

1522   Các nhân viên cao cấp của Metropole đã tiết lộ vị trí ban đầu của hầm tránh bom cho tác giả vào tháng 3 năm 2008 khi tác giả cùng tham dự các màn Cuba Libres với một du khách khác.

1523   James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất bản Tiếng Mẹ, 1984.

1524   Barbara Deming, We Are All Part of One Another, Philadelphia: New Society, 1985; WIN 1967; cả hai đều được nêu ra trong Hershberger, trang 76-78.

1525   Diane Nash, “Black Woman Views Genocidal War in Vietnam,” Black Liberator, tháng 5 năm 1969, trang 2, nêu ra trong James S. Hirsch, Two Souls Indivisible, Houghton, Mifflin, Harcourt, 2005, trang 155;  Diane Nash Bevel, “Journey to North Vietnam,” Freedom Ways, bộ 7, số  2, muà Xuân 1967, trang 118-128;  “A Negro Mother Tells Why U.S. Cannot Win in Asia,” Muhammad Speaks, 10 tháng 2 năm 1967, trang 7,8,18.

1526   Michael Eric Dyson, I May Not Get There With You,’ Simon and Schuster, 2000, trang 65.

*****

 

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #18”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #18 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: