Roger Canfield’s Americong #98

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 98

Lào: Không Có Mật Khu,

Không Có Bí Mật Nào Cả.

 

Mật Khu

Rất lâu đã từng là một mật khu rất có giá trị và không hề bị đụng tới, Lào đã là “X của Vua”, bị đặt ngoài phạm vi của các cuộc tấn công của quân đồng minh vào quân đội Hà Nội và quân nhu vật liệu của chúng. Trong suốt các trận đánh ở Lào, người Nam Việt sẽ hướng dẫn các phi vụ oanh tạc Mỹ vào những điểm tề tựu của quân lính, xe tăng và pháo binh cùng các kho quân nhu vật liệu của quân địch khi bị phát giác.

Kể từ khi Tổng thống Kennedy đã thu xếp để “trung lập hóa” Lào, trên thực tế ông đã vô hình chung tạo ra một mật khu an toàn cho các lực lượng Bắc Việt mà đã được bố trí ở lại ngõ hầu phát động cuộc chiến tranh mở rộng riêng của Hà Nội.

Các lực lượng Bắc Việt Nam đã liên tục tự do chiếm đóng Lào, xây dựng đường xá và doanh trại và dự trử đầy kho với máy móc tân kỳ của Liên Xô và Trung cộng, hỏa tiển và đạn pháo 130 ly dọc theo đường Hồ Chí Minh. Chúng đã làm được vậy, không phải bằng mấy chiếc xe đạp và đám cu-ly huyền thoại của chúng nhưng mà là với hàng ngàn xe vận tải hạng nặng của Nga.  3780

Các Kế Hoặch Của Hoa Kỳ

Quân đội Mỹ có kế hoạch đánh chiếm và giữ một phần chiến lược của đường mòn Hồ Chí Minh với lực lượng từ 50.000 tới 60.000 quân nhưng đã không bao giờ thực hiện. Vào đầu năm 1971, Tổng thống Nixon chấp thuận cho một lực lượng nhỏ hơn độ 16.000 quân để hành quân trongngắn hạn,  3781 gần như hoàn toàn phụ thuộc vào một chiến thuật chỉ dựa trên yếu tố bất ngờ mà thôi.

Marvin Kalb Đã Tiết Lộ Thông Báo Cho Địch Biết Trước

Vào ngày 2 tháng 2 năm 1971, Marvin Kalb dẫn đầu mục tin tức CBS với một bản tin là Nam Việt sắp hành quân  tấn công vào đường mòn Hồ Chí Minh, một mật khu an toàn tại Lào. “Mục tiêu ban đầu được cho là khai quang quốc lộ 9 chạy từ Đông sang Tây … rồi Nam Việt sẽ tiếp tục … tiến về  Sepone (Tchepone) …”

Với tinh thần quý trọng giới truyền tin khi thông báo trước cho họ cuộc tấn công này, Tướng Abrams cũng đã có ban hành trước một lệnh cấm loan tin về chiến dịch tại Lào như có tính cách tuyệt đối “bắt buộc về an toàn và an ninh … cùng bảo vệ cho việc thành công của chiến dịch”.  Theo sử gia và Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh , “Dường như giới báo chí đã có khã năng lượm được những tin bị lộ để rồi đúc kết lại thành những bản tin với đầy đủ chi tiết về các cuộc hành quân [tại Lào] tính đến cuối tháng Giêng năm 1971.” 3782

Bắc Việt đã dự liệu một cuộc tấn công có thể gồm một cuộc đổ bộ và / hay một cuộc không kích phía trên vùng phi quân sự. Việc lộ tin này đã giúp Hà Nội di chuyển được tất cả các lực lượng có sẵn, ngoại trừ chỉ giữ lại một sư đoàn, sang Lào 3783  mà bỏ trống vùng bờ biển và phi quân sự. Kalb và / hay CBS đã phản bội niềm tin của Tướng Abram đã dành cho họ bằng cách báo trước cho kẻ thù một tuần trước khi các hoạt động quân sự khởi đầu. 3784

Một cách lạ kỳ, siêu điệp viên Phạm Xuân Ẩn đã nhận được một Huy Chương  Khai thác Trận chiến, Cấp I (Battle Exploitation Medal, First Class), nhờ đã cung cấp các kế hoạch hành quân Lam Sơn 719 của Nam Việt, 3785 có lẽ nhờ chơi ăn gian Malvin Kalb về bản tin nóng bỏng này và luôn cả cái huy chương Hồ Chí Minh hậu chiến của y ta.

Sau khi tin tức đã bị tiết lộ trên khắp mọi mặt trận và sau nhiều lần bị trì hoãn, vào ngày 8 tháng 2 năm 1971, trong chiến dịch LAM SƠN 719, lực lượng Nam Việt đã đánh thẳng vào các mật khu trước kia là an toàn của Bắc Việt tại Lào. Vào ngày 11 và 18, mụ Bình và Xuân Thủy đã lên án các cuộc tấn công như một phần mở rộng cuộc chiến tranh sang Lào của đồng minh.

Thủ tướng Lào Souvanna Phouma đã trả lời,

“Chắc chắn là trách nhiệm chính thuộc về Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, mà đã mãi khinh bỉ luật pháp quốc tế … đã bắt đầu và tiếp tục vi phạm nền trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Lào”3786

Để phản đối cuộc tấn công có tính cách tạm thời của kế hoạch Nam Việt tấn công vào Lào và rút quân trước mùa mưa, VNDCCH và MTGPMN đã tẩy chay các cuộc đàm phán Paris trong vòng sáu tuần.

Huy Động Phong Trào Phản Chiến

Mụ Bình liền khẩn cấp đánh điện cho Huey Newton của đảng Black Panthers và nhiều bọn khác, “CẢNH BÁO / LÀO BỊ XÂM CHIẾM BẰNG HẰNG CHỤC NGÀN BỌN SAIGON MỸ NGỤY, BINH SĨ THÁI/GIAO TRANH LỚN, KHÔNG LỰC MỸ / KHẨN TRƯƠNG KÊU GỌI CÁC BẠN HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG HÒA BÌNH THẾ GIỚI, QUỐC GIA CỦA BẠN HẦU NGĂN CHẬN MƯU ĐỒ NGUY HIỂM XÂM CHIẾM ĐÔNG DƯƠNG” . 3787  Newton trước đó đã cam kết đóng góp quân đội để CÙNG chiến đấu bên cạnh bọn Việt Cộng.

Weather Đặt Bom Nổ Tại Điện Capitol

Để phản đối cuộc xâm chiếm Lào, vào giữa đêm 28 tháng 2 năm 1971, tổ chức Weather Underground đặt bom nổ một phòng tắm ở tầng trệt của tòa nhà Quốc hội Mỹ. Vào ngày 1 tháng 3 năm 1971, Tổng thống Nixon gọi Giám đốc FBI Hoover gởi báo cáo về vụ nổ tại tòa nhà quốc hội, “có vẻ như là của nhóm Weatherman” và chỉ vậy thôi, không có phản ứng  gì thêm nữa.

Thật vậy, ngày 28 tháng 2 năm 1971, tổ chức WUO, đã công bố thông cáo # 8: “… Chúng tôi đã tấn công tòa nhà Quốc hội bởi vì nó là … biểu tượng trên toàn thế giới về sự thống trị của Hoa Kỳ trên trái đất này”.

Thông điệp này đã bày tỏ sự phẫn nộ đối với “cuộc xâm lăng bất hợp pháp vào Lào …  B-52 Mỹ đang thả một số lượng bom tương đương như tại Hiroshima mỗi hai ngày trên các buôn làng, rừng rậm và đồng ruộng Lào”. Một cách không ai ngờ đuợc, thông cáo còn tiếp: “… Mỹ đã tuyên bố là để đáp ứng lại sự hiện diện của Bắc Việt ở Lào, để tấn công đường mòn Hồ Chí Minh”. Không phải vậy. Đó đã thực sự là “một cuộc tấn công thẳng vào người dân Lào. … Sáu mươi phần trăm của người dân Lào nay đã thành vô gia cư …”.  Ấy vậy, bọn Pathet Lào suy yếu vẫn “đã giành được những thắng lợi to lớn … thất bại lớn nhất kể từ Tết … một dấu hiệu báo trước như vụ [Pháp đã thất bại tại] Điện Biên Phủ”.

Lặp lại như vẹt y bon cách nói của tay quá cố Hồ Chí Minh, bản thông báo của bọn Weather đã tuyên bố là Mỹ nay đã quay qua thi hành một loại chiến tranh mới, “giết hết, đốt hết, diệt hết”. 3788  Bọn Weatherman đã không bao giờ bị buộc tội đạo văn chớ chưa nói gì là man khai hay phản quốc.

Những Hoạt Động Khác của Bọn Weather

Tổ chức Weather Underground đã chỉ là một đám đang bận rộn phải chịu trách nhiệm về 40 vụ đánh bom theo lời FBI và độ 25 vụ chiếu theo bảng thống kê của Daily Kos và của tên Weatherman Mark Rudd 3789 mà đã tự thú công khai về các vụ đánh bom chỉ riêng của y.

Xưởng Làm Bom San Francisco

Vào tháng 4 năm 1971, FBI phát hiện ra được một xưởng làm bom của bọn Weather Underground Organization vừa bị chúng bỏ troông trên đường Pine bên phía Tenderloin của Nob Hill ở San Francisco. Chổ đó đã được thuê cho một năm vào tháng 4 năm 1970. Mark Rudd nói: “Weathermen khi vội vã bỏ đi đã để lại rất nhiều thứ quan trọng”. Đó đã là chất nổ C-4, những con dao ngụy trang giấu trong các cây viết bi và các nút nổ được điều khiển bằng giọng nói … được điền nghiên để phát nổ khi một nạn nhân sẽ lên tiếng nói. ” 3790

Trong số dấu vân tay WUO được tìm thấy tại xưởng làm bom, kể cả của Mark Rudd, đã là của Karen Ashley, Bill Ayers, Kathy Boudin, Peter Wales Clapp, John Willard Davis, David Joseph Gilbert, Naomi Esther Jaffe, Michael Thomas Justesen, Howard Machtinger, Julia Nichamin , Jeffrey David Powell, Sheldon Rosenbaum, Michael Louis Spiegel, Lawrence Michael Weiss, Kathlyn Platt Wilkerson. Trong số những tên được xác định có sử dụng bí danh, theo FBI, đã là Mark Joseph Real và Clayton Văn Lydegraf. 3791

Trên thực tế thì Van Lydegraf, không phải là một bí danh, khoảng độ sáu mươi tuổi, là một tên suốt đời là cộng sản, từng bị thanh lrừng khỏi cả đảng CS Mỷ và Đảng Nhân Dân Lao động theo chủ nghĩa Mao. 3792 Cuộc kiểm tra và điều tra đã làm liên lụy luôn đến đám đang dùng bí danh, xe cộ và các căn chung cư của bọn Weather. 3793

Chiến Dịch Lam Sơn 719 Bị Trở Ngại Nặng Trong Nhiều Tuần Lể

Trong khi đó, Chiến Dịch Lam Sơn 719 đã bị trở ngại nặng trong nhiều tuần lể.

Ngoài việc quân Bắc Việt rất quyết liệt và được báo động trước, các hoạt động ban đầu đã bị trở ngại nặng nề bởi: Đường số 9 bụi bậm đầy vết xe củ và có chổ thời tiết phá loang lổ sâu cả tới 20 ‘feet’; chỉ huy cao cấp cùng tham mưu quân lực Nam Việt bị thiệt mạng trong những tai nạn máy bay trực thăng; một vị chỉ huy nhút nhát  là Trung tướng Hoàng Xuân Lãm đã ra lệnh dừng quân lại; sự can thiệp của Tổng Thống Thiệu; công tác bảo trì máy bay trực thăng chậm chạp; liên lạc tồi tệ giữa các đơn vị; và khiếm điểm về phối hợp giữa bộ binh, thiết giáp, máy bay trực thăng cùng máy bay của Hải quân và của Không quân.

Trần Ngọc Huế đã chỉ huy một cách anh dũng Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 Quân Lực VNCH để ra thoát sáu vòng vây của địch, rốt cuộc chỉ còn lại có 26 quân nhân sống sót  và Trần Ngọc Huế thì bị bắt làm tù Bắc Việt trong 13 năm. 3794

Nam Việt Được Không Vận Rút Ra

Bắt đầu từ 3 tháng 3, sáu tiểu đoàn Nam Việt đã được bốc bằng không vận ra khỏi cuộc tấn công đang bị sa lầy để bỏ vào những vị trí mới gần Tchepone, mục tiêu chính, nơi những số lượng khổng lồ vũ khí tàng trử đã bị phát hiện và không kích tan hoang bởi B-52 và những quân nhân còn lại của Sư Đoàn 1 Bộ Binh QĐVNCH. Hỏa lực của không quân Mỹ và các trận đánh cũa quân lực VNCH đã gây thiệt hại nặng nề cho đông đảo lực lượng địch đang dồn cục khiến chúng mất tới 16 trong số 33 tiểu đoàn cơ động và phân nửa thiết giáp với pháo binh.

Tình báo Mỹ ước tính khoảng 13.000 địch bỏ mạng.  Tướng Nam Việt Nguyễn Duy Hinh thì cho biết là 19.360 và theo địch thì 16.224. Cuộc tấn công phủ đầu này đã ngăn chặn được một cuộc tấn công vào mùa xuân của địch, buộc chúng không thể mở một chiến dịch quy mô nào cả tại Nam Việt trong suốt năm 1971 và tinh thần phía Hà Nội bị suy sụp. 3795

Quân Lực VNCH Lại Bị Dèm Pha: “Hèn Nhát”

Bất kể số tử vong rất nặng của đối phương ở Lào và đã hủy diệt được số lớn vật liệu chiến tranh dự trữ của Hà Nội và mặc dù thương vong của VNCH chỉ là một phần nhỏ nếu so với Bắc Việt, sự kiện rút quân sớm từ Lào của Nam Việt, cộng với con số thương vong tương đối nặng cũng đã lại là một cơ hội nữa để tái diển cái màn xa xưa chuyên chụp mủ về sự hèn nhát của QLVNCH theo kiểu Neil Sheehan.

Một phóng viên bèn đánh đi và pha chế them một câu chuyện về sự “thất bại thảm hại” của hàng trăm binh lính Nam Việt Nam tràn ngập các máy bay trực thăng tuy khỏe mạnh nhưng lại làm bộ bị băng bó vì chiến thương ngõ hầu trốn thoát để khỏi chiến đấu với Bắc Việt. Câu chuyện gian trái này lại đã bị nhiều lần đăng lại. Chuyện mà gã phóng viên nghỉ là hèn nhát thì đúng ra chỉ là hành vi thận trọng, quân đội VNCH đã phải dùng băng cá nhân để bao che những vết cắt lở bị nhiểm độc trong một loại rừng nhiệt đới rất truyền nhiễm.

Để giúp có hiệu quả tối đa, tay phóng viên bèn thêm vào câu chuyện một bức hình mà chỉ riêng trong tâm trí của y mà thôi đã cho là các quân nhân đang tràn ngập máy bay trực thăng.

Robert Elegant: “Giới truyền tin chỉ mong muốn…địch thắng trận”

Một phóng viên kỳ cựu vùng Châu Á, Robert Elegant, bèn đi điều tra vụ chiếc máy bay trực thăng đang bị tràn ngập, đã chứng minh là chuyện đó đã không bao giờ xảy ra cả. 3796 Robert Elegant, người  từng được vinh danh bởi  Overseas Press Club (Câu lạc bộ Báo chí Hải ngoại), sẽ sớm không được các báo mình thường xuyên cộng tác chịu đăng tin viết nữa và rồi rốt cuộc phải ra đi tự lưu đày. 3797

Phải Thừa Nhận Mình Thua Trận, Phải Mong Ước Địch Chiến Thắng

Không hề ai chịu tin các con số thương vong chính thức của Nam Việt đưa ra là đã có 6.000 quân nhân VNCH và 19.000 bộ đội của QĐNDVN thiệt mạng. 3798 Ông Elegant đã tường trình: “Trước cuộc chiến Việt Nam, đã chưa bao giờ lại đã có cái lập trường tập thể của giới truyền tin cầu mong cho … một chiến thắng của kẻ thù của phe mình”.  3799 Đại sứ Ellsworth Bunker đã từng nói là giới báo chí có “một quyền lợi riêng tư trong việc kết thúc bằng một chiến bại”. 3800

Tuy nhiên, vào ngày 7 tháng 4 năm 1971, Nixon lại đã tuyên bố là những thành công của Nam Việt tại Lào sẽ cho phép Mỹ rút 100.000 quân kể tới tháng 11. Con số thương vong của Mỹ đã giảm xuống và Hà Nội đã không tiến hành như dự đoán cuộc tấn mùa xuân 1971 dù đã chuẩn bị xong các quân cụ quân nhu. 3801

Nixon Về Vấn Đề Định Ngày

Bất kể những yêu cầu từ Hà Nội và từ bọn điệp viên của chúng, Tổng thống Nixon đã từ chối không chịu công bố ngày tháng cho một cuộc rút toàn diện quân Mỹ nếu đối phương cũng không chịu kết thúc chiến tranh. Ngày hôm sau, mụ Bình bèn lên án việc này. Xuân Thủy thì nhấn mạnh là phải định cho xong truớc ngày 30 tháng 6 năm 1971.

Với việc Hà Nội luôn luôn nhắc tới, vì chúng biết và cố khai thác mối nhạy cảm của người Mỹ, đề tài hoàn cảnh và việc phóng thích các tù binh ngày đã càng là một yếu tố phải được gồm trong các cuộc thảo luận để thu xếp vấn đề Việt Nam.

*****

3780  Bill Laurie, Godzilla at Khe Sanh: Viet Nam’s Enduring Hallucinatory Illusions, bản chưa được xuất bản gởi cho tác giả vào ngày 26 tháng 8 năm 2009.

3781 Bill Laurie nói với Mike Benge và nhiều người khác, 1 tháng 4 năm  2009.

3782  Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, LAM SON 719, Indochina Monographs, Trung Tâm Quân sử Quân đội Hoa kỳ (U.S. Army Center Of Military History), không có ngày tháng, trang 151 tại  http://www.vlink.com/nlvnch/lamson719/lamson7.html.

3783  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 242.

3784  (TS-GP 1) Msg, COMUSMACV 0775 gởi cho CJCS và CINPAC, 2400802z  tháng giêng năm 1971; (TS-GP 1) Msg, JCS gởi cho CINPAC và COMUSMACV 300526z, tháng giêng năm 1971 ; (TS-GP 1) Msg, COMUSMACV 9122 gởi cho  CINPAC và CJCS 300829z, tháng giêng năm 1971 và nhiều người khác sau tháng giêng 1971.  

3785  Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us: the Vietnam War and Pham Xuan An’s Dangerous Game, New York: Public Affairs, 2009, trang 6, 217, 278; Kyle Horst tại Texas Tech Vietnam conference vào tháng 3 năm 2008, video của TTU.

3786  Thu băng, WIEU, 13 tháng 2 năm 1971, ASC, trích lời của Souvanna được Lewis Sorley nêu ra trong  A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 245.

3787 Điện tín thuộc tài liệu SNCC Papers, Cuộn số 53, Đại học Howard University nêu ra trong sách của Yohuru Williams, “American exported Black nationalism: The Student Coordinating Committee, the Black Panther Party, and the Worldwide Freedom Struggle, 1967-1972-SNCC,” Negro History Bulletin, Tháng 8-9 năm 1997; Như trích bởi Todd L. Newmark, “Theoretical Framework,” Vietnam, Tháng chạp 1997, trang 69 nêu bởi Lewis Sorley trong sách A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 245-6. 

3788  Bản sao trong FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”,  20 tháng 8 năm 1976, trang 165-7.

3789  Theo tờ Daily Kos ngày 2005/3/8, CHRONOLOGY OF BOMBINGS AND ACTIONS CARRIED OUT BY THE WEATHER UNDERGROUND ORGANIZATION, “all information in [the] listing of WUO bombings was obtained from these sources: 1) Dohrn, Bernardine, Bill Ayers, Jeff Jones, and Cecilia Sojourn.  Prairie Fire: The politics of Revolutionary Anti-Imperialism.  San Francisco: Prairie Fire Organizing Committee, 1974. 2) Gilbert, David.  Students For A Democratic Society and the Weather Underground Organization. Toronto: Arm The Spirit Press, 2002 được nêu tại http://www.diyzine.com/weatherundergroundarticle3.html , và  www.dailykos.com/story/2005/3/8/01927/77742 – 107k;

Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009, trang 278.

3790  Peter Jamison, “Time Bomb: Weather Underground leaders claimed their bombings were devised to avoid bloodshed. But FBI agents suspect the radical ‘70s group killed a S.F. cop in the name of revolution,” SF Weekly, 16  tháng 9 năm 2009.

3791  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization”,  20 tháng 8 năm 1976, trang 196, 201, 384.

3792  Ron Jacobs, The Way the Wind Blew, Xv.

3793  Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009, trang 239.

3794  Andrew Weist, “Vietnam’s Forgotton Army,” in Joachim Lê Tinh Thông, (xb), The Missing Pieces in the Vietnam War Puzzle, the Vietnamese-American Nationalist in Diaspora, Wesminster, 28 tháng 4 năm 2010, trang 153.

3795  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 246-266.

3796  Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ LVII, tháng 8 năm 1981, trang 73-9  tại Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

3797  Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ LVII, tháng 8 năm 1981, trang 73-9 ghi chú 11 tại Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

3798  Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, LAM SON 719, Indochina Monographs, U.S. Army Center Of Military History, không ghi ngày tháng, trang 151 http://www.vlink.com/nlvnch/lamson719/lamson7.html.

3799  Bill Laurie, “Vietnam, the Media and Lies,” tại  http://veteransforacademic freedom.org/2010/01.

3800  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 266.

3801  Haldeman, Diaries… trang 346.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #98”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #98 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: