Roger Canfield’s Americong #136

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

**************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 136

Kiểu Đưa Tin Tại Việt Nam:

Bé Gái Bị Bom Lữa ‘Napalm’ ,

Bom Lữa ‘Napalm’ Đốt Cháy Bé Gái

– Phan Thị Kim Phúc —

 

Ngày 8 tháng 6 năm 1972, Việt Cộng đã tấn công và chiếm Trảng Bàng. Thường dân và quân lính VNCH đã bỏ Đền Thờ Cao Đài trong làng để chạy về các vị trí an toàn của QLVNCH cách đó không xa. Khi Nam Việt Nam trả đũa bằng cách oanh tạc bắn phá ngôi làng mà nay đã bị chiếm đóng bởi Việt Cộng, một phi công Nam Việt trên một phi cơ Skyraider A1-E đã thả lầm một bom lữa ‘napalm’ xuống dân làng đang bỏ chạy.  Nhiếp ảnh gia AP Nick Út bèn chụp cảnh thường dân tán loạn bỏ chạy và trong ống kính của ông ta đã là hình ảnh một bé gái 9 tuổi, Phan Thị Kim Phúc, quần áo thì bị đốt cháy hết và đang la hét và trần truồng chạy trên đường. Đó đúng ra chỉ là một tai nạn trong thời chiến,  hoặc là quả bom đã không được thả chính xác 4355  hay là viên phi công đã tưởng lầm đoàn người đang chạy trốn là Việt Cộng.

Đó cũng là một trong những hình ảnh đáng ghi nhớ nhất của cuộc chiến mà đặc tính cứ đã luôn luôn bị quy kết về tính cách vô nhân đạo của hỏa lực Mỹ, cái loại chiến tranh mà đã do Không Quân thi hành.  Trong thực tế, đó chỉ là hành động của Nam Việt và là một tai nạn do họ thôi. Không Quân Mỹ đã không hề dính líu gì tới kiểu cáo buộc này cả. Đó là một chiến trận hoàn toàn do Không Quân Nam Việt đãm trách. 4356 Nick Út đã đoạt được giải Pulitzer và World Press Photo năm 1972. Phan Thị Kim Phúc và gia đình em đã được di tản bằng máy bay về bệnh viện ở Sài Gòn, nơi em đã được săn sóc điều trị qua 14 tháng trước khi trở về lại làng mình.

QLKVNCH Đánh Lui Cuộc Tổng Công Kích của Bắc Việt – Hè 1972

Tới hè thì cuộc tổng tấn công Mùa Phục sinh của Bắc Việt năm 1972 đã thất bại. Các lực lượng bộ binh Nam Việt đã chiến đấu anh dũng trong cuộc chiến tự vệ và đẩy lui lực lượng Cộng sản khổng lồ gồm tới 14 sư đoàn. Các đại đội Bắc Việt đã không thể nào tương xứng được với các đơn vị Nam Việt. 4357 Tất cả các đơn vị của QLVNCH đều đã làm tròn vai trò: đó là Sư Đoàn 1 ưu tú, Đại Đội Hắc Báo, Biệt Động Quân, kể luôn cả các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân.

Trong hồi ký A Viet Cong Memoir ~ Ký Ức Một Tên Việt Cộng, tay Trương Như Tảng đã viết:

… Vũ khí của Mỹ đã lại dành được chiến thắng, y như họ đã từng làm vào dịp Tết, [và] ở Campuchia … Khi mùa hè (năm 1972) sắp kết thúc thì tổn thất của chúng tôi đã trở nên quá sức tưởng tượng, … các cuộc tiến quân không thể nào tiếp tục được. . . [Ấy] vậy, [nó] … vẫn đã là … một tuyên bố chiến thắng có tính cách quyết định.  4358

Và tay Tướng Bắc Việt Trần Văn Trà đã viết vào năm 1982 về giai đoạn kế tiếp trận tổng tấn công Nguyễn Huệ năm 1972 của Bắc Việt và cuộc phản công truy lùng của QLVNCH, “Các lực lượng của chúng tôi đã kiệt quệ và mọi đơn vị đều trong tình trạng hỗn loạn … Chúng tôi đã không thể bù đắp đủ số thương vong … và việc chống cự lại với địch đã cực kỳ rất khó khăn”.  4359

Số quan sát viên khối Đông Âu gồm các đại diện Ba Lan và Hungary trong Ủy ban Kiểm Soát Đình Chiến (International Commission of Control and Supervision  ~ ICCS) đã báo cáo là “không có được một sư đoàn Bắc Việt nào so được với các sư đoàn Dù, TQLC hay Biệt Kích Nam Việt và không một đơn vị Việt Cộng nào mà vẫn còn hoạt động được đã lại có thể so được với các đơn vị chủ lực của QLVNCH”.

Doug Pike tuyên bố, “QLVNCH đã đẩy bung” các đơn vị VC / Bắc Việt. 4360

Thật vậy, Đại tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp, kẻ chiến thắng Điện Biên Phủ và ông cha của chiến lược Bắc Việt ở miền Nam, đã bị cách chức chỉ huy vào năm 1972  vì lý do kém tài năng  4361 và bị giáng cấp từ Phó Chủ tịch xuống chỉ còn là thành viên thường của Hội đồng Quốc phòng. 4362 Lực lượng của tướng Giáp đã tổn thất đến nửa triệu người, kể cả gần 100.000 bộ đội đã bỏ ngũ. 4363

Các Tù Chính Trị và Du Kích VC

Vào tháng 7 năm 1972, để đáp ứng lại với cuộc tổng tấn công Phục Sinh, Tổng Thống Thiệu bị ra lệnh bắt giữ 15.000 nghi phạm Việt Cộng và đối thủ chính trị, nhưng hầu hết đều đã được phóng thích sau khi cuộc tổng tấn công của Bắc Việt đã thất bại. Đã hoàn toàn không hề có thêm tù nhân bị bắt giữ nhân cuộc tổng tiến công của Bắc Việt này. 4364 Ấy vậy thì dân biểu Ogden Reid (Dân chủ -NY) vẫn cứ lại tuyên bố là gần như tất cả những người bị bắt đều là “những thường dân không vũ trang, không chiến đấu”.

Các Du Kích và Các Tù Binh Không Thể là Những Tù Chính Trị Được

Mark Moyar từng so sánh những tên du kích Việt Công với các nhà lãnh đạo quân sự của Liên minh Confederacy trong thời nội chiến Mỹ.  Abraham Lincoln đã có tống giam 38.000 tên ủng hộ Liên minh và gián điệp. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã chuẩn chấp việc tạm giữ 70.000 đàn ông Nhật Bản trong Thế chiến II. Hiệp định Geneva năm 1949 đã có cho phép bắt giữ nhưng phải đối xử nhân đạo và hợp pháp các thường dân phản động. Đạo Luật Internal Security Act of 1950 (An ninh Quốc nội năm 1950) cho phép Tổng thống “để … bắt giữ [nếu có] cơ sở hợp lý để tin rằng một đương sự có thể sẽ … có … những hoạt động gián điệp hay phá hoại”.

Đa số bọn cán bộ Việt Cộng đều đã không là những người thường dân bình thường. Chúng đã là những quân du kích chính hiệu đúng với ý nghĩa đồng chí cùng chiến tuyến của Bắc Việt và một số cũng đã là không ít người Mỹ.

Các Vụ Ám sát của VC – Chương Trình Bình Định Nông Thôn

Trong khi đó thì Hà Nội, vốn đã chiếm đóng phía bắc của tỉnh Bình Định từ tháng 4 đến tháng 7, lại đã tàn sát  từ 250 đến 500 trưởng thôn và làng, dân biểu, , cảnh sát và nhân viên bình định nông thôn. Hai linh mục người Pháp thì đã bị đóng đinh, gia đình vô tội của một thông dịch viên thì lại bị xử tử và 600 thanh niên đã bị bắt đi đến một “trung tâm cải tạo” nào đó. 4365 Đó quả đã là một màn cảnh cáo đẫm máu, nhưng tờ New York Times, viện dẫn nguồn tin của “các quan chức khác của Mỹ” mà đã được dấu tên, lại viết là Hà Nội sẽ mưu tìm hòa giải nếu chúng sẽ thắng trận. 4366 Tờ Times đã tự cho phép mình dễ tin các gian dối của Hà Nội hơn là những sự thật mà đã bị viết ngay bằng máu của chính loài người. Ấy vậy, đã không phải chỉ một mình tờ báo này mà thôi.

Bắc Việt Lại Chiến Thắng Trên Mặt Trận Thứ Nhì – Lại Tái Diễn Lần Nữa

Trương Như Tảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Cộng, đã có quan điểm sau:

Các nhà lãnh đạo Mỹ … đã tập trung vào các khía cạnh quân sự …. trận tổng tấn công mùa xuân (1972) đã chỉ là … một cuộc tập trận mà thôi …. [Chúng tôi] thì lại  đang kết hợp hầu theo đuổi cả các mục tiêu chính trị lẫn quân sự. … [Chúng tôi]  đã có thể hy vọng chiếm được các lãnh thổ và kiểm soát được chúng ….

Tuy nhiên thực sự quan trọng hơn nhiều vẫn đã là các mục tiêu chính trị … làm sao đuổi được Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam … làm sao cô lập chế độ Thiệu [và] làm sao [tiếp tục] gây suy yếu khả năng của Nixon và Kissinger trong việc tiếp tục chiến tranh, bằng cách khiến lực lượng đối lập trong nước sẽ buộc được họ phải thay đổi chính sách. . .

…. [Cái] Quốc hội Mỹ … đã cấm tài trợ các chiến dịch của Mỹ ở Campuchia và Lào … Đó chính là những dấu hiệu mà đã cho chúng tôi thấy được là trận tấn công [mùa xuân 1972] đã là một thành công …. [Chúng tôi] đã đón nhận tin này với nhiều hài lòng y như khi chúng tôi nhận được tin của bất kỳ chiến thắng quân sự nào đó. 4367

Trận Tổng tấn Công Về Tuyên Truyền Của Hà-nội

Sau các thiệt hại ngay tại chiến trường vào mùa xuân và mùa hè năm 1972, Hà Nội bèn phát động một loạt tuyên truyền ngay ở Mỹ trong phong trào phản chiến và giới đưa tin phương Tây. 4368

Trong tháng 6 năm 1972, Việt Cộng, có thể là do sự thúc hối của tay lãnh đạo đảng là Lê Duẩn, đã ban hành một “Kế hoạch Làm Sao Kích Động Nhân Dân Trong Tương Lai Gần” để thi hành Nghị quyết Bình Giã số 5. Cái chỉ thị nhằm phá rối này đã có đưa ra mười chủ đề tuyên truyền cụ thể chi tiết như là: “tiến hành tuyên truyền nhờ sự hỗ trợ chúng ta đến từ những người Mỹ tiến bộ và cả phong trào khắp thế giới”.  4369

Trương Như Tảng có nói: “Quan điểm là … sự can thiệp của Mỹ có tính cách vô đạo đức đã được lan truyền rộng rãi tại Hoa Kỳ, theo các nhà phân tích tình báo của chúng tôi, không những chỉ trong các nhóm phản chiến mà luôn cả trong dân gian nói chung”. 4370

image003

Hình: Cảm Ơn Rất Nhiều Nhân Dân Thế Giới Về Sự Ủng Hộ Hà-nội

Bích chương tuyên truyền cho thấy biểu tình chông Mỹ,

1972, Nguyẽn Trịnh Thân

 

200.000 Tù Chính Trị Của Sài-gòn

Đã từng có một đề tài là Nam Việt đang giam giữ 200.000 tù chính trị. 4371 Tại một cuộc họp quốc tế Pax Christi ở Strasbourg, Pháp thì tay Tom Cornell của Catholic Peace Fellowship đã cùng đám Fellowship for Reconciliation yêu cầu cứu giúp các tù chính trị của Tổng Thống Thiệu cũng như là sự hỗ trợ can thiệp dùm của Vatican. 4372

Vài Gia Đình Tù Binh Đã Có Ủng Hộ Các Chính Sách Của Hà-nội

Ngày 1 tháng 6 năm 1972, các diện của tổ chức POW-MIA Families for Immediate Release đã thuyết trình trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, tự xưng đại diện cho 500 gia đình POW-MIA (Tù binh – Mất tích trong Chiến trận), tuyên bố chấp nhận Bảy Điểm của mụ Bình và yêu cầu Quốc hội phải biểu quyết một ngày tháng nhất định cho việc Mỹ rút quân để tù binh có thể được phóng thích. Sheila Cronin, bà Shirley Culbertson và bà Gerald Gartley đều có ra tường trình. 4373

Ngày 22 tháng 6 năm 1972, Women Strike đã tổ chức phụ nữ và trẻ em cùng nắm tay nhau bao vòng trong buổi lể gọi là “Bao Vòng Quốc hội” hầu đòi hỏi “cắt bỏ ngay lập tức các ngân sách đang giúp kéo dài … việc tàn sát….”.

Trong số nhiều phụ nữ phái tả nổi bật thì đã có dân biểu Bella Abzug, Joan Baez, Norma Becker, Mary Clarke, Ruth Gage Colby, Judy Collins, Ruby Day, Jane Fonda, Betty Friedan, La Donna Harris, Dolores Huerta, Coretta Scott King, Sylvia Kushner, Shirley MacLaine, Jeanie Plamondon, Jeanette Rankin, Ginette Sagan, Gloria Steinem, Barbara Streisand, Margery Tabankin, Ethel Taylor, Marlo Thomas, Sơ Mary Luke Tobin, Cora Weiss và Trudi Young. 4374

Cũng đã có một nhóm nhỏ những người vợ và thân nhân tù binh: Sheila Cronin, em (hay chị) của tù binh và cũng là của POW-MIA Families for Immediate Release; Jane Dudley, mẹ một tù binh; Minnie Lou Gartley, mẹ một tù binh và Virginia Warner, cũng là mẹ một tù binh. 4375

Chiến Dịch của Hà-nội để Bảo Vệ Đê Điều Khỏi Bị Không Kích

Một chủ đề tuyên truyền khác đã là cáo buộc Hoa Kỳ cố ý bỏ bom các đê điều được dùng để bảo vệ hàng trăm ngàn người dân Bắc Việt hằu tránh khỏi lũ lụt trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hành năm. Ngày 25 tháng 6 năm 1972, tại Milly-la-Forêt, Pháp thì đám VVAW đã biết được là Hà Nội rất quan ngại về việc Mỹ bỏ bom đê điều và làm mưa nhân tạo. Việt cộng đã cung cấp cho bọn VVAW những hình ảnh  gọi là thiệt hại gây ra bởi bom, kể cả như chúng cáo buộc, về đê điều 4376 ngõ hầu phổ biến tại Hoa Kỳ.

Đó là một cáo buộc hết sức vô lý, rất dễ dàng để bác bỏ khi chỉ cần nhìn lại những gì đang thiệt sự xẩy ra dưới đất.

Phụ đề – Theo Thông Lệ Lâu Đời Thì Thường Vẫn Đã Từng Bị Ngập Lụt

Sông Hồng, một nhánh phát sinh từ Trung cộng và đã nhập chung với hệ thống sông Thái Bình trước khi tuôn trào xuyên qua Hà Nội và đổ ra Vịnh Bắc Việt. Từ cả ngàn năm nay, sông Hồng đã đắp bùn tạo ra một vùng đồng bằng sông rộng tới cả 9.800 cây số chỉ cao không quá ba thước trên mặt nước biển. Bảy mươi phần trăm nông nghiệp và tám mươi phần trăm công nghiệp hiện đại của Bắc Việt đều nằm trên vùng đồng bằng sông Hồng dể ngập lụt này.

Suốt  gần 2.000 năm, người Việt đã xây dựng một hệ thống rộng lớn độ 3.500 cây số đê điều, lúc đầu bằng đá và sau đó bằng bê tông cùng với 3.000 cửa để tháo nước và 1.500 cây số đê ven biển trung bình cao độ 6 tới 8 thước cùng một số hồ chứa để kiểm soát lưu lượng nước.

Năm 1971, một trận lụt cao tới14 thước đã tràn ngập gây lũ lụt trên 250.000 mẫu tây, khiến 2,7 triệu người mất nhà cữa và 100.000 người bị chết đuối. Giống với New Orleans và Sacramento, người dân Hà Nội và đồng bằng sông Hồng trên nguyên tắc đã luôn luôn bị đe dọa bởi lũ lụt lớn. Trong năm 1972, đê điều đã bảo vệ được khoảng 19 triệu người dân giúp họ tận canh cho tới được hai vụ mùa hàng năm trên một diện tích gần 1 triệu rưỡi mẫu tây lúa. Đến năm 2006 thì vẫn còn khoảng 310. 800 người dân vẫn còn sống ven sông Hồng mà không có đê để bảo vệ.

Trong tháng 3 năm 2008, tác giả khi đi xe từ phi trường về Hà Nội đã phải chạy trên những con đường từng được xây ngay trên đỉnh đê và đã phải băng qua những đồng bằng dể bị ngập lụt ở phía dưới những cây cầu dài hay phải chạy dọc theo trên bờ đê. Tác giả có chụp hình  4377 cho thấy nhà cữa, công nghiệp và nông nghiệp phát triển dày đặc trên cả những đoạn đê hay đập sông đã được củng cố rồi hay cũng có những đoạn chưa được củng cố khiến cả hàng trăm ngàn người dân vẫn sinh sống trong nguy cơ lũ lụt.

 image005

Hình: Đường xá và nhà cữa trong nguy cơ lủ lụt cả hai bên bờ đê.

 Roger Canfield, Hà-nội, Tháng 3 Năm 2008.

 Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, những yếu tố xoi mòn, bồi đắp, nước rỉ và phá rừng đã cùng làm suy yếu hệ thống đê điều, mà rỏ ràng cũng đã cũ xưa và đang hư hỏng lần đi. Thật vậy, hệ thống đê điều đã không thành công trong mọi trận lũ cứ xẩy ra hàng hai hoặc ba năm, ví dụ như những trận lụt các năm 1968, năm 1969 và năm 1971. 4378

Các con đê đã không thể bảo vệ người dân trước thiên nhiên  chớ chưa nói gì đến một nỗ lực nghiêm túc hầu bỏ bom đê điều hay các cữa rút nước tại những   yếu điểm thấy được. Các nhà lãnh đạo Mỹ  cũng từng có nghiên cứu việc này  nhưng vì hậu quả thiệt hại về nhân sự sẽ quá lớn nên cuối cùng từ bỏ ý định chấm dứt cuộc chiến bằng cách cố tình không kích đê điều.

Những sự kiện như vậy cũng vẫn không ngăn cản được bọn Cộng sản cáo buộc chính sách không tạc của Mỹ mà đã không bao giờ xảy ra chính vì những con số tử vong của người dân vô tội sẽ quá cao. Cũng vậy, chúng cũng không ngăn được Jane Fonda và đồng bọn hùa nhau mà nhiệt tình lặp lại như két đường lối của Cộng sản mà đã không hề bao giờ thay đổi.

Trong khi đó, một vụ khởi đầu chỉ như là một giọt nước nhỏ, vụ Watergate, cuối cùng đã nhận chìm mất luôn Tổng thống Nixon và cả miền Nam Việt Nam.

*****

 

4355  Stuart A. Herrington, Stalking the Viet Cong: Inside Project Phoenix, New York: Ballantine, 1982, trang 208.

4356  Tuyên bố cỉa Trung Tướng (về hưu) James F. Hollingsworth tại  vhfcn.org.

4357  Karnow, Stanley. Vietnam: A History. The Viking Press; New York. 1983, trang 658-9.

4358  Trương Như Tảng, A Viet Cong Memoir, trang 209-10.

4359  John M. Del Vecchio, “Cambodia, Laos and Viet Nam? The Importance of Story Individual and Cultural Effects of Skewing the Realities of American Involvement in Southeast Asia for Social, Political and/or Economic Ends”, 1996 Hội Thảo Vietnam Symposium “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, 18 tới 20 tháng 4 năm 1996, Đại học Texas Tech University.

4360  Bill Laurie nói với Mike Benge cùng nhiều người khác, 1 tháng 4 năm 2009.

4361  John M. Del Vecchio, “Cambodia, Laos and Viet Nam? The Importance of Story Individual and Cultural Effects of Skewing the Realities of American Involvement in

Southeast Asia for Social, Political and/or Economic Ends,” 1996 Hội Thảo Vietnam Symposium “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, 18 tới 20 tháng 4 năm 1996, có viện dẫn Betson, Bill (Đại úy, USA; Huấn Luyện viên, USMA). “The Battle of Ban Me Thuot–1975”. Một buổi diển thuyết tại The Westside YMCA, New York, New York. (c) 1985.

4362  http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/408/4080407002b.pdf

4363  Nguyễn Cao Kỳ, Vì Sao Ta Đã Thất Trận ~ How We Lost…,  trang 162.

4364  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 208 ghi chú 18 có kể lần Moyar phỏng vấn Robert Komer, sáng lập viên và lãnh đạo của Chương Trình Phượng Hoàng Phoenix. 

4365  Malcolm W. Browne, “Saigon Replaces Highlands Commander,” New York Times, 11 tháng 5 năm 1972.

4366  Joseph B. Treaster, “Saigon Officials Executed,” Star and News, 4 tháng 8 năm  1972, trang P-5.

4367  Trương Như Tảng, A Viet Cong Memoir, trang  209-10.

4368  Trương Như Tảng, A Viet Cong Memoir, trang 203.

4369  Chỉ thị Tuyên Truyền Gây Bạo động Tháng 6 năm 1972, “Plan Concerning the Motivation of the People in the Immediate Future,” CDEC Doc Log No. 09-1113-72, Bộ Sưu tầm của Pike Collection, mục số 2311618014.

4370  Trương Như Tảng, A Viet Cong Memoir, trang 209-10.

4371  Đề tài này và nhiều đề tài tương tự đã là cuộc chiến tranh tuyên truyền của phía Bắc chống lại miền Nam mãi cho tới khi bộ đội Bắc Việt lại được sử dụng để chiến thắng. Đọc:  Nguyễn Tiến Hưng, Palace File, trang 166-167 ghi chú 17-18.

4372  Thomas C. Cornell, “Catholic Peace Fellowship Ten years Old,” The National Catholic Reporter, 25 tháng 4 năm 1975;

4373  Điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Hạ Viện House Committee on Foreign Affairs,  1 tháng 6 năm 1972, trang 127-143.

4374  Dân biểu Bella Abzug, Joan Baez, Norma Becker, Mary Clarke, Ruth Gage Colby, Judy Collins, Ruby Day, Jane Fonda, Betty Friedan, La Donna Harris, Dolores Huerta, Coretta Scott King, Sylvia Kushner, Shirley MacClain, Jeanie Plamondon, Jeanette Rankin, Ginette Sagan, Gloria Steinem, Barbara Streisand, Margery Tabankin, Ethel Taylor, Marlo Thomas, Sister Mary Luke Tobin, Cora Weiss và Trudi Young. Một đoạn trong danh sách các ngưởi bảo trợ Ringaround Congress,  22 tháng 6 năm 1972.

4375  Women Strike for Peace, “Ringaround the Congress”,  22 tháng 6 năm 1972.

4376  FBI, Los Angeles gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, NITEL 9:24 PM, 7 tháng 7 năm 1972. Donald Ullrich có hứa sẽ cung cấp hình đê điều nhưng đã không có chúng khi y họp báo tại Los Angeles. 

4377  Viet I DSC_159, 160, 161, 162, 163, 779, 780, 781 cho thấy các đê điều trong và quanh Hà-nội với dân chúng đang lao động dưới những vùng đất thấp, hay đang xây đê hoặc sinh sống ngay trên tại các vùng dể ngập lụt. Đọc thêm tác phẫm của Trung Tướng Harold G. Moore (US Army về hưu) và Joseph Galloway, We Are Soldiers Still, New York: Harper Collins, 2008, trang 152.

4378  “The Dikes: Battered by floods or Bombs?” Time, 31 tháng 7 năm 1972; Giang Châu, Vietnam Investment Review, 24 tháng 9 năm 2007; BS. Tô Trung Nghĩa, “Flood Management in the Red-Thai Binh River Basin-Viet Nam, Asian Development Bank”, tường trình dưới dạng ‘power point’ dạo năm 2005; Meng, Viet Nam Country Report 1999, tại www.adrc.or.jp/countryreport/VNM/VN99/Vietnam99.htm; “Flood prevention a top priority,” Viet Nam News, August 8 tháng 8 năm 2006, tại  http://english.vietnamnet.vn/2006/08/601256/.

 *****

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #136”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #136 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: