Roger Canfield’s Americong #96

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

 

Phần VI

1971

 

 

96.   Winter Soldiers, January 1971.

97.   Talking Peace, Organizing Revolution.

98.   Laos: No Sanctuary, No Secrets.

99.   Exploiting POWs: Cronkite, COLIFAM.

100. Paris: Citizens Conference on Ending the War in Indochina.

101. Revolutionary Women – February 1971

102. Fonda’s Pacific Tour.

103. Duc Duc: A Story Seldom Told, March 1971.

104. People’s Peace Treaty.

105. Friends of the Spring Offensive, April 1971.

106. Operation Dewey Canyon III.

107. Greetings and Accolades: Arlington, Binh, Today Show, Daily World. 

108. Kerry Wows Senate Foreign Relations Committee

109. American War Medals Tossed.

110. Antiwar Groups Reunited in Spring Actions.

111. Vietnamese Issue Instructions—Directive No. 31, Paris, Budapest.

112. Political Prisoners: North and South.

113. Wiretapping Murderers and Congressmen.

114. The Power Politics and POW Mail.

115. Pentagon Papers, June 1971.

116. Peace Advocates Busy Meeting the Enemy, June 1971.

117. Seven Point Peace Plan.

118. Blind Ambitions: Kissinger and McGovern.

119. Circular No. 33: Viet Cong Assist and Guide Anti-war Movement.

120. Following the Viet Cong Playbook: Kerry, Weiss, and Fernandez.

121. Kerry’s July “Resignation” from VVAW.

122. Weatherman Bombings.

123. Grand Jury Investigation of America: Project Air War.

124. Killers in Kansas City, November 12-14, 1971.

125. The 1971 Battles for Baray Cambodia.

126. The Christmas Spirit: CBS and VVAW.

 

Ước Tính Tình Báo Về Liên Hệ Ngoại Quốc Trong Phong Trào Chủ Hòa

Ngày 5 tháng giêng năm 1971, CIA lại phổ biến một bản ghi nhớ ‘memo’ phúc trình là sự liên hệ của ngoại quốc  trong các phong trào phản chiến không có gì phải quan ngại.

Theo kiểu cứ chỉ xào nấu lại những phúc trình củ, báo cáo lần này của CIA, “Định nghĩa và Đánh giá Đe dọa An ninh Quốc nội Hiện tại” đã cho biết là sự hỗ trợ chính yếu (ngoại quốc) [đã chỉ là] … khích động và động viên … thông qua các hội nghị quốc tế …”. Đã không hề có ‘bằng chứng’ ngoại quốc từng “kiểm soát [các] phong trào tả phái Mỹ”. Đã không hề có khả năng “hỗ trợ về khủng bố hay phá hoại” hay “xúi dục … nổi loạn trong Quân Lực Hoa Kỳ … hay trong các trường cao đẳng kỹ thuật  và các trường đại học cùng các phương tiện truyền thông đại chúng”.

Báo cáo của CIA đã cho thấy không có gì nguy hiểm nếu chỉ nhìn sơ qua theo thành kiến giả tạo của họ.

Không có kiểm soát. Không có khủng bố. Không có phá hoại. Không có lật đổ.

Nói vắn tắt thì các nhóm đều không có khả năng thực hiện thành công được một cuộc cách mạng bên trong nước Mỹ và từ đó, CIA đã đưa ra một kết luận cực kỳ nếu không nói là ngu xuẩn thì cũng là quá kiêu ngạo: “Sự kiện ngoại quốc tài trợ, đào tạo, tuyên truyền đã không hề đóng một vai trò quan trọng gì trong Cánh Tân Tả Mỹ, nên hiện nay Cánh Tân Tả Mỹ về căn bản thì tự lực cánh sinh và hành động hoàn toàn theo ý riêng của họ”. 3729

Ngoại trừ việc nhằm chứng minh lòng không trung thành của một số nhóm hay cá nhân, khã năng làm cách mạng của các nhóm phản chiến đã không là một vấn đề đáng kể và có tính cách xa vời.

Cũng vậy, vấn đề “kiểm soát” sẽ không còn quan trọng khi mà ảnh hưởng chính trị ngoại quốc vào diển tiến chính trị của Hoa Kỳ đã đủ để làm suy yếu ý chí của quốc gia trong việc chiến đấu hay không.

Việc CIA phát giác ra là các nhóm phản chiến tự lực cánh sinh quả thật dể sợ. Hầu hết các tổ chức đều có ngân sách gần như là con số không khi đúc kết, hầu hết các tên quá khích đều không có nghề nghiệp rỏ rang khã dỉ nuôi sống được ngay chính mình mà vẫn cứ đi chu du toàn quốc cũng như là khắp thế giới. Cu-ba đã đang huấn luyện hàng ngàn bọn quá khích Venceremos. Bọn Liên Xô và Việt cộng thì tổ chức các hội nghị với với cả hàng trăm tham dự viên. Thường thì các chuyến đi đến những thủ đô ngoại quốc cũng phải kéo dài vài tuần mổi lần.

Các báo cáo của FBI thì đôi khi cho thấy việc ngoại quốc đã tài trợ, đào tạo và truyền bá, nhưng CIA thì lại không bao giờ tìm thấy bất cứ điều gì như vậy hay là CIA đã không chịu báo cáo thì khó mà biết được.

Ảnh hưởng mạnh mẽ của Hà Nội rồi sẽ được chứng minh trong những ngày đầu năm 1971 với một màn tuyên truyền bằng cách sử dụng các cựu chiến binh Mỹ, bọn thiệt và luôn cả bọn giả mạo.

Chương 96

Winter Soldiers (Chiến Sĩ Mùa Đông)

Tháng Giêng 1971

 

Cuộc Điều Tra vụ Winter Soldiers

Luôn luôn tuyệt đối trung thành với kiểu tuyên truyền công khai của Cộng sản, Jane Fonda sẽ rất nhanh nhẩu lặp lại như vẹt từng chữ, từng câu cái kiểu tuyên truyền của Bắc Việt.

Jane Fonda và Vấn Đề Tài Trợ

Jane Fonda qua xong được năm 1970 và khai rương năm 1971 bằng một sản phẫm tuyên truyến độc đáo nhất của y thị từ truớc tới giờ  – dựng cho chương trình truyền hình về một phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh nhằm chống lại Hoa Kỳ, mà y thị đã đạo diển, bảo trợ, gây quỹ và giúp lựa chọn các nhân chứng. United States Servicemen’s Fund (USSF) cũng phụ tài trợ cho chương trình Winter Soldiers này. Trong mùa thu, Jane Fonda đã, tất nhiên, tích cực bảo trợ và gây quỹ cho chương trình Winter Soldiers của VVAW. 3730  Y thị quyên được 10.000$ tại 54 khuôn viên đại học. 3731

Các bọn khác mà cũng đã đóng góp là Emil Mazy, Richard Austin, Mark Lane, Dick Gregory, Phil Ochs, Graham Nash, David Crosby, Alison Montgomery, Barbara Dane, Donald Sutherland và USSF. 3732 Độ khoảng giữa 50.000$ và 75.000$ đã được quyên góp để chi tiêu. Ngay nhiều tháng trước đó thì Mike Oliver, Jeremy Rifkin, Bill Crandell, Al Hubbard, Scott Moore, đám “Jane Fonda và các cộng sự viên” đã sàng lọc và lựa chọn hơn 100 cựu chiến binh để cho đóng vai nhân chứng. 3733

“Điều tra vụ Winter Soldiers ~ Chiến sĩ mùa đông” đã được trình chiếu tại phòng ngủ Howard Johnson Motel ở Detroit từ ngày 31 tháng chạp năm 1970 tới ngày 2 tháng 2 năm 1971. Sáng kiến về một cuộc điều tra các tội ác chiến tranh của Mỹ rất có khã năng là đã do Mark Lane và / hay một nhóm Mỹ từ hơn 70 tổ chức nhân một cuộc họp vào ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1970 tại Vancouver mà chính Carlton Goodlettt và Irving Sarnoff của New Mobe với World Peace Council (Hội đồng Hòa bình Thế giới) do KGB tài trợ đã khởi súy.

Mark Lane: Viết Tiểu Thuyét Về Các Tội Ác Chiến Tranh

Tên sư phụ của Jane Fonda là Mark Lane đã có viết một cuốn sách tựa là Conversations with Americans ~ Nói Chuyện với người Mỹ nhằm mô tả chi tiết các hành vi tàn bạo của Mỹ tại Việt Nam. Theo Vasili Mitrokhin, một nhân viên bảo quản văn khố KGB thì chính điệp viên KGB Genrikh Borovik đã giúp Mark Lane trong tiến trình thu thập tin tức. 3734

Neil Sheehan của tờ New York Times, trong một lần rất hiếm hoi mà đã có biểu lộ được chút xíu tính cách khách quan khi tường thuật về Việt Nam, có chỉ rỏ ra  là nhiều “nhân chứng sở thị” của Mark Lane đã không hề bao giờ từng phục vụ tại Việt Nam hay đã chưa từng bao giờ có mặt tại các địa điểm mà họ nói là đã “chứng kiến” các hành vi tàn bạo từng xảy ra. 3735

Winter Soldiers Phối Hợp Với Bọn Việt cộng Tại Gia-nã-đại

Trong nội vụ này, với sự khuyến khích của Mark Lane, Jane Fonda và Vietnam Veterans Against the War, VVAW (Cựu chiến binh chống chiến tranh Việt Nam) đã phối hợp với bọn đại diện Bắc Việt tại Gia-nã-đại. Từ Winsor, Ontario, Gia-nã-đại, Winter Soldiers đã tổ chức thu và truyền hình đóng kín (closed circuit) cho bọn Campuchia và Việt cộng đang ở bên kia cầu Ambassador Bridge của Detroit. 3736

Tổ Chức Vietnam Veterans Against The War, VVAW (Cựu chiến binh Việt Nam Chống Chiến tranh) Gồm Những Ai?

Tổ Chức Vietnam Veterans Against The War, VVAW, vào cuối năm 1970 chỉ là một nhóm rất nhỏ không quá 1.000 người và lúc cường thịnh nhất thì cũng chỉ không có hơn được quá 7.000 thành viên trong tổng số 9.000.000 Cựu Chiến Binh Việt Nam, hay ít hơn một nửa của 1% trong tổng số 2 triệu 6 người Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam. 3737 Con số thành viên rất nhỏ của VVAW quả là đáng chú ý vì bất cứ ai, cựu chiến binh hay chỉ là thường dân sự cũng có thể xin làm thành viên. Các thành viên VVAW đã chắc chắn là không thuộc trong số 91% Cựu Chiến Binh Việt Nam mà đã đều “vui mừng [đi] phục vụ tại Việt Nam.” 3738

VVAW đã làm gì để chống chiến tranh?

Lãnh đạo của VVAW là một đám chuyên biệt với một loạt chương trình quân sự quá khích nhằm chống lại chiến tranh và ủng hộ địch trong thời chiến.

Trong những năm tháng tới, toán lãnh đạo hàng đầu và phát ngôn viên của VVAW đã: 3739 tham gia vào việc phá rối Đại hội  đảng Dân chủ năm 1968 và Đại hội  đảng Cộng hòa năm 1972; bao chận quanh tượng Nữ thần Tự do và treo ngược xuống lá cờ Mỹ; đã cầu mong chiến tranh Việt Nam “sẽ đưa đẩy tới một cuộc cách mạng xã hội … một cách nhanh chóng … rất nhanh chóng”; mang quân phục đầu thì đội nón lá cu-ly tới cắm trại chiếm trung tâm thương mãi Capitol Mall ở Washington (bất kể một án lệnh của Tối cao Pháp viện Mỹ); ném bỏ các huy chương quân sự qua bên kia hàng rào chận bảo vệ điện Capitol mà tuyên bố, “đây là huy chương của tôi về tội cố sát”; mang súng giả và phá nhà cữa bằng sơn đỏ; tiết lộ tin tình báo quân sự về việc triển khai các lực lượng quân đội Mỹ; và âm mưu gián điệp về vũ khí bí mật của Mỹ.

VVAW: Bọn Đồng Hành

Thành viên VVAW đã cùng tham gia với các tổ chức Venceremos chính thống Sì-ta-lin-nít theo chủ nghĩa Mao và Quân đội Giải phóng Symbionese, bọn đã từng bắt cóc Pattie Hearst; chúng đã từng đi Campuchia, Liên Xô, Trung cộng, Pháp, Thụy Điển, Cu-ba, Gia-nã-đại, Ba Lan và Việt Nam; chúng âm mưu ám sát các Thượng nghị sĩ Mỹ; chúng tổ chức những chuyến đi bất hợp pháp tới Bắc Việt  trong thời chiến tranh; chúng chấp để bọn Việt Cộng Nam quyết định những hoạt động phản chiến nào mới là khã chấp; chúng từng phục vụ trong Tòa Bạch Ốc thời Carter và cho Thượng nghị sĩ John Kerry; chúng từng đi Bắc Việt sau chiến tranh để đặt một vòng hoa tại ngôi mộ của Hồ Chí Minh, nơi xác ướp của y bị đặt cho công chúng tới tôn kính bằng cách bước lên dãy tam cấp bằng đá cẩm thạch có trải thảm đỏ trong một lăng mộ vĩ đại tại một quảng trường lớn. Các chuyên viên ướp xác của Moscow là Valery Bykov và Yuri Denisov-Nikolsky phụ trách bảo trì cái xác chết bị tôn thờ đó. 3740

VVAW Đã Mô Tả Và Thừa Nhận Những Tội Ác Kinh Khủng Trong Chiến Tranh

Suốt hơn năm tuần lể, khoảng 150 tên Mỹ tự xưng từng là quân nhân đã xuất hiện tại Detroit để khai chứng về các tội ác chiến tranh của Mỹ mà chúng  tuyên bố là đã từng “vi phạm hay chứng kiến​​”.  Gerald Nicosis đã mô tả Scott Camil, “nguyên là một tên thủy quân lực chiến hung dữ, nay thì trông giống như Chúa Ki-tô với mái tóc dài và râu quai nón cắt tỉa theo kiểu ‘semitic’”. Thành viên Scott Camil của VVAW thì đã khai trình:

đốt làng với dân còn ở trong đó,

cắt tai, cắt đầu,

tra tấn tù nhân,

gọi máy xin pháo binh yểm trợ ngay trên làng xã chỉ để vui đùa,

giết các tù nhân bị thương,

thả bom lữa ‘napalm’ xuống làng xã,

hãm hiếp phụ nữ, tàn sát phụ nữ và trẻ em,

dùng độc khí loại CS đối với người ta,

tàn sát súc vật,

không công nhận thông hành Chiểu Hồi và bắn chết người trình nó ra,

đẩy người ra khỏi máy bay trực thăng,

bắn đạn cay vô mọi người chỉ để vui đùa, và

ép cho xe dân sự lọt xuống ruộng. 3741

Michael Noetzel đã tuyên bố y có biết 12 binh sĩ Việt Cộng đã từng bị ném ra khỏi máy bay trực thăng cho chết trong năm 1963 và 3742 lực lượng biệt kích Mủ Xanh từng sử dụng rắn và tra điện.

Joe Bangert thì tuyên bố đã từng thi hành nhiều sứ mệnh bí mật cho CIA và có nhìn thấy trẻ em bị biến dạng, những thây người đẫm máu phơi trên dây kẽm gai và đã có những trẻ em bị giết chết chỉ vì dám búng ngón tay chỉa vô mặt lính Mỹ trên Quốc lộ số 1.

Những tên khác thì làm chứng khai là đã từng tra tấn tù nhân; từng cắt các bộ phận cơ thể để dành làm kỹ niệm; ném bọn bị tình nghi là Việt Cộng ra khỏi máy bay trực thăng;  cắt xẻo và hiếp dâm tập thể phụ nữ, v.v. . .

Jane Fonda có nói với Oriana Fallaci: “Những người lính cho tôi biết có những viên tướng chịu đổi máy phát thanh bằng pin với các bộ phận sinh dục hay tai bị cắt rời ra của Việt Cộng, hay là về cách mà họ ném Việt Cộng ra khỏi máy bay trực thăng …”. Y thị tiếp, “Có một trại ở Maryland tên gọi là Fort Holabird, nơi họ đã được đào tạo để tra tấn tù nhân”. Khi được hỏi về cách đối xử với các tù Việt Cộng thì cựu tù binh George Smith đã làm chứng: “Chúng tôi chỉ cần đánh họ và bỏ họ vô những chuồng bằng dây kẽm cao khoảng ba hoặc bốn ‘feet’”.  3743

“Winter Soldiers” của đám Fonda, Kerry và Mark Lane đều khẳng định là những hành vi man rợ đó không đơn giản là của một số binh sĩ cá nhân đồi bại. Đó là cả một chính sách – phương pháp đào tạo người lính và chính các tên Tướng của họ đã tích cực khuyến khích các tội ác chiến tranh như vậy.

Quốc Hội Bất Mãn

Hàng ngàn người đã biết được việc khai chứng của Winter Soldiers qua đài phát thanh và báo chí lậu và bất hợp pháp, cũng như là qua việc Thượng nghị sĩ Mark Hatfield đã yêu cầu các trích lục của “Winter Soldiers” được xem như là hồ sơ Quốc hội (Congressional Record), 3744 cùng qua các tiết mục trong sách, báo, và tạp chí. 3745 Chương trình đóng kịch này đã được quay thành phim với tên là Winter Soldiers Investigation (Cuộc điều tra của Chiến sĩ  Mùa đông) và ngày nay vẫn còn có thể  tham khảo được nếu muốn. 3746 Viên Thượng nghị sĩ phản chiến  Mark Hatfield đã rất bất mãn nên bèn yêu cầu Tư lệnh Thủy quân Lục chiến phải mở một cuộc điều tra liệu đã có những hành vi man rợ của Mỹ như vậy ở Việt Nam hay không.

TQLC Mở  Cuộc Điều Tra: Không Tại  Detroit  Mà Cũng Không Ở Việt Nam

Viên Tư lệnh đã thỏa mãn đương sự. Tuy nhiên, theo chỉ thị của VVAW, hầu hết các nhân chứng của “Winter Soldiers”, ngay cả với lời hứa sẽ được miễn tố cho những hành vi phạm pháp của chúng, đều từ chối để được phỏng vấn bởi các điều tra viên của Chính phủ Mỹ. Ngoài ra cũng đã có những tên khác từng được liệt kê như là nhân chứng trong cuộc trình diển “Winter Soldier” ở Detroit thì lại đã không hề bao giờ tới Detroit. Một số khác thì lại đã kể những câu chuyện rùng rợn nhưng lại dùng tên giả của các cựu chiến binh Việt Nam khác. 3747

Một “nhân chứng” mà quả thật sự có lên tiếng làm chứng thì lại đã được chỉ bảo trước về các câu trả lời cũng như đã không thể cung cấp được đầy đủ chi tiết để làm căn bản cho lời chứng của y. Thành viên VVAW Steve Pitkin đã nạp một tờ khai hũu thệ cho biết là chính John Kerry và những tên khác đã dụ dổ và ép buộc anh ta làm chứng cho các tội ác đó. 3748

Một số đã không bao giờ tới Việt Nam. Những số khác thì đã không hề có mặt tại những địa điểm ở Việt Nam, nơi mà họ đã “chứng kiến​​” các tội ác do họ mô tả lại. Thành viên VVAW Joe Bangert mà đã tuyên bố từng thi hành nhiều sứ mệnh  bí mật cho CIA thì trong thực tế chỉ phục vụ trong một Light Observation Squadron (Phi đội Quan sát Nhẹ) mà nhiệm vụ chủ yếu chỉ tốn công lao khổ bay đi tiếp tế cho các đơn vị đang lâm chiến, mà theo đó, vì nhờ đang ở dưới đất, nên họ đã có thể đã thấy những gì Bangert tuyên bố nếu quả có thật, nhưng chắc chắn là y thì không thể nào nhìn thấy chúng được. 3749

Lục Quân Hoa Kỳ điều tra: Không có ai để truy tố

Phân bộ Điều tra Hình sự (Criminal Investigation Division CID) của quân đội Mỹ xác định được 43 người gọi là nhân chứng mà đã cáo buộc là từng đã có những sự kiện, nếu đúng, sẽ bị liệt kê như là tội ác chiến tranh: 25 người thì từ chối hợp tác, 13 người đã cung cấp không đủ thông tin để chứng minh tội phạm; năm người thì rồt cuộc không tìm ra được địa chỉ; và sau cuộc điều tra sơ khởi, đã không hề đủ yếu tố pháp lý để mà truy tố về hình sự.

Báo cáo tóm tắt của CID về 11 nhân chứng của WSI  cho biết họ đã thay đổi hẳn những câu chuyện khủng khiếp của họ một khi phải đối mặt với cuộc điều tra của quân đội. Trong số tên mà đã đổi lời khai một cách đáng kể nhất đã là Douglas Craig, Larry Craig, Donald Donner, John Lytle, Robert McConnachie, Ronald Palosari, Donald Pugsley, Kenneth Ruth, George Smith, David Stark và James Henry.

Câu chuyện tù nhân bị nhốt trong chuồng bằng dây thép gai và bị đánh đập do George Smith cáo buộc thì nay y sữa lại chỉ là những hành vi của quân đội miền Nam Việt Nam chớ không phải của quân đội Mỹ. 3750

Nhiều sự việc trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã được chứng minh để bị bác bỏ nhưng thậm chí mãi tới nay mà vẫn được tin như là những huyền thoại.

Ném từ máy bay trực thăng: Giới Truyền Tin Đồng Lõa Trong Các Vụ Biểu Diễn Rùng Rợn Này

Máy bay trực thăng –

Một cuộc điều tra cặn kẻ cho thấy chỉ có một trường hợp đủ bằng cớ là từng có một xác chết, chớ không phải là một người còn sống, đã bị ném ra khỏi máy bay trực thăng và chính phủ Hoa Kỳ đã phạt kỷ luật các thủ phạm của màn biểu diễn này. Hình ảnh của màn ảo ảnh này thì vẫn còn được treo ở bảo tàng các tàn tích chiến tranh ở Việt nam.

Tai

Sau khi điều tra thì mới biết ra là một đoạn truyền hình cho thấy một cái tai bị cắt đứt đã là kết quả của một người quay phim hảng CBS đã cố ý thách thức để có thể quay thành phim. CBS từ chối cải chính cho đúng vể vụ này. 3751

Đốt làng –

Chính một phóng viên truyền hình đã đưa cái bật lữa Zippo của mình để dùng đốt cháy một ngôi làng mẫu bị bỏ hoang sau khi đã được sử dụng để huấn luyện TQLC. 3752

Không phải là một chính sách –

Việc một số cá nhân quân nhân hay đơn vị chiến đấu bất xứng đã có phạm những tội ác chiến tranh ở Việt Nam là điều không thể phủ nhận được, đã rất hèn hạ và gần như luôn luôn bị điều tra. Nhưng việc các “Winter Soldiers” cáo buộc đó chính là chính sách man rợ của Mỹ mà lại đã không bao giờ bị truy tố thì quả là điều sai trái.

Không phải là một câu chuyện –

Đáng tiếc là quân đội đã không công bố đầy đủ các kết quả điều tra của họ mà cũng không phổ biến rộng rãi kết luận của họ là các cáo buộc của WSI đa số đều sai.

Scott Swett có nhận xét, “Các cấp chỉ huy quân đội Mỹ trong thời kỳ Việt Nam đã không nắm vững được vấn đề là các hoạt động tâm lý chiến quốc nội cũng quan trọng y như là các cuộc hành quân của địch trên chiến trường thật trong việc chiến thắng được cuộc chiến hay không.”  3753

Phỏng vấn các “sinh viên” Việt cộng ở Gia-nã-đại

Ngay sau buổi điều trần của WSI vào đầu tháng 2 năm 1971, Jane Fonda và đồng bọn WSI đã cùng một nhóm Bắc Việt gặp nhau tại một văn phòng của nghiệp đòan UAW gần Windsor, Canada. Gerald Nicosia có viết là “một số xe chất đầy cựu chiến binh đã lái qua biên giới đến Windsor, Canada, để gặp một phái đoàn sinh viên Việt Nam lưu vong mà đã bị chính phủ Gia-nã-đại từ chối chiếu khán xuất cảnh đến Detroit dự phiên điều trần”.  3754

Bởi một trùng hợp ngẫu nhiên khá vui, cũng vào ngày 2 và 3 tháng 2, cũng tại Windsor, cũng với bọn Việt cộng đó, các luật sư của bọn Chicago Seven, William Kunstler và Leonard Weinglass, cùng dự một lể tôn giáo để ban “phép giải phóng” và  họp chung mà FBI đã được thông báo trước là sẽ “không liên quan đến các cuộc thảo luận hay đàm phán chính thức “. 3755  Rất có khã năng là đã có một cuộc giải thích cho bọn Việt cộng về tiến trình hành động của Winter Soldiers; về lần hứa trước sẽ tổ chức một buổi tiếp đón giữa WSI và bọn Việt cộng sau khi WSI xong việc;  3756  và cũng đưa tiền mặt Cu-ba gởi cho chúng. 3757

Một Thân Mẫu Của Tù Binh Muốn Gặp Bọn Việt cộng tại Winsor

Một người tham gia khác đã có thể là Virginia R. Warner, mẹ của tù binh Jim Warner, người đã ký một lá thư ngày 1 tháng 2 năm 1971 từng được phân phối bởi VVAW. Trong đoạn kết thúc, bà ta nói: “Bởi vì tôi mong gặp được người dân Việt Nam, tôi thực sự hy vọng họ sẽ đến Windsor”. Trong bài viết, bà ta nói là quân đội Mỹ đã đang khai thác vụ các tù binh. “Hãy kết thúc chiến tranh để tù binh có thể về nhà lại.” Bà ta thêm, “Tôi quả không tự hào chút nào … con trai của tôi đã giúp dội bom Việt Nam và tôi không muốn thêm bất kỳ người Việt Nam nào nữa sẽ bị giết chết … Tôi chắc chắn Jim đang được đối xử khá tốt vì các bức thơ của cháu đều thật là tuyệt vời”.

Theo Scott Swett tại trang liên mạng  http://wintersoldier.com/, Jim Warner sau đó đã cáo buộc John Kerry từng khai thác nỗi sợ hãi của mẹ mình để xúi dục bà viết bức thơ đó. 3758  Dù động cơ của bà là gì đi nữa thì bà Warner cũng sẽ xuất hiện sau đó tại một cuộc họp báo vào ngày 16 tháng 3 chung với John Kerry và các bà mẹ tù binh khác là Judy Keyes và Patricia Simon 3759 cũng như là tại nhiều nơi do VVAW tổ chức sau này.

Trong khi đó thì trên thực tế, con trai bà là Đại úy James Warner đã bị tra tấn để ép phải chịu làm băng thu âm tuyên truyền cho Hà Nội, đã chỉ được cho ăn bánh mì lát ‘phết dầu mỡ’ và cũng chỉ được săn sóc y tế theo thường lệ như một số bạn đồng tù khác mà thôi. 3760

Trong số những người không được mời đến buổi tiếp tân bọn Việt cộng tại Windsor đã có một phụ nữ tóc bạc trắng mà vào buổi chiều cuối của Winter Soldiers Investigation đã đứng lên tiến về phía bục, tay thì vẫy cờ Mỹ mà tuyên bố là tất cả bọn trên sân khấu đều là bọn “cộng sản”. Bà ta nói,” Con trai tôi đang ở Việt Nam. Quý vị nên nói chuyện với nó nếu muốn biết sự thật. ” 3761

*****

3729  Báo cáo CIA, “Definition and Assessment of Existing Internal Security Threat”, 5 tháng giêng năm 1971, nêu trong phúc trình ủy ban Church Commission, trang 700.

3730  Saturday Review, (10 tháng 9 năm 1970); New Republic, (13 tháng 3 năm  1973); Time, (16 tháng 11 năm 1970); Detroit Free Press, (22 tháng 11 năm 1970); Fabulous Fondas, trang 266, 271.

3731  Frook, trang 52.

3732  FBI Information Digest Special Report on VVAW,  25 tháng 8 năm  1972, trang 7; Gerald Nicosia, Home to War: A History of the Vietnam Veterans’ Movement, Crown, 2001.

3733  Gerald Nicosia, Home to War: A History of the Vietnam Veterans’ Movement, Crown, 2001.

3734  Christopher Andrew và Vasili Mitrokhin,The Sword and the Shield: The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB, Basic Books, 1999.

3735  Guenter Lewy, Commentary, (Tháng 2 năm 1976), trang 42; Hãy đọc thêm tác phẫm của B.G. Burkett, Stolen Valor.

3736  Time, 16  tháng 11 năm 1970.

3737  Stephen Morris, “John Kerry’s Other Vietnam War: Why would we trust this man to be our president? National Review, 31 tháng 10 năm 2004.

3738  Parade, 11 tháng 11 năm 1980.

3739  Mấy thành viên quá khích nhất của VVAW đã là: John Kerry, Peter Bourne, Robert Muller, Al Hubbard, Hayden Fisher, Joe Remiro, William Harris, John Kniffin, Scott Camil, Ron Kovic.

3740  AFP, “Vietnam honours Russian embalmers of Ho Chi Minh”, 29  tháng 5 năm 2009.

3741  Camil làm chứng tại trang liên mạng của Winter Soldiers   http://www.wintersoldier.com:80/staticpages/index.php?page=20040315221225656

3742  FBI, một đoạn không ghi ngày tháng [phúc trình hậu WSI], trang 3.

3743 http://lists.village.virginia.edu/sixties/HTML_docs/Resources/Primary/Winter_Soldier/WS_23_POW.html

3744  6 tháng 4 năm 1971.

3745  Xem: Vietnam Veterans Against the War, the Winter Soldier Investigation: An Inquiry into American War Crimes, Boston: Beacon Press, (1972).  Đọc thêm: John Kerry, The New Soldier.

3746 http://lists.village.virginia.edu/sixties/HTML_docs/Resources/Primary/Winter_Soldier/WS_entry.html       

3747  Guenter Lewy, America in Vietnam, 1978, trang 317; Phúc trình FBI gởi cho E.S. Miller, chủ đề: VVAW, An ninh Nội bộ, 24 tháng 11 năm 1971, văn khố TTU; Mackubin Thomas Owens, “Vetting the Vet Record,” National Review Online, 17 tháng giêng năm 2004, trang 1, 6 nêu ra trong sách của Rothrock, trang 124-125 ghi chú 78. 

3748  Steve Sherman tại Vietnam Myths Conference (Hội Nghị về các Huyền Thoại Việt Nam), Khóa 3 tại wwwviet-myths.net/session03t.htm.

3749  Steve Sherman, Vietnam Myths conference tại wwwviet-myths.net/session03t.htm.

3750  Scott Swett, “Newly Discovered Army Reports Discredit ‘Winter Soldier’ Claims,” FrontPageMagazine.com,  25 tháng 2 năm 2008.

3751  Guenther Lewy, Commentary, (Tháng 2, 1978), trang 42-43; Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ LVII, Tháng 8 năm 1981, trang 73-9 tại Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

3752  Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), Bộ LVII, Tháng 8 năm 1981, trang 73-9 tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm.

3753  Scott Swett, “Newly Discovered Army Reports Discredit ‘Winter Soldier ’Claims,” FrontPageMagazine.com , 25 tháng 2 năm 2008.

3754  Gerald Nicosia, Home to War: A History of the Vietnam Veterans’ Movement, Crown, 2001.

3755  Điện văn của Giám đốc FBI, FOIA, Abbie Hoffman gởi cho Legat Ottawa, Abbott Howard Hoffman, Tài liệu Tình báo – Bọn Vô Chính Phủ, 28 tháng giêng năm 1971, trang 1-2.

3756  FBI, New York gởi cho Giám đốc , NY 100-160644, 1 tháng 10 năm 1970.

3757  Max Friedman, “Behind Terrorism in the U.S.: Castro’s Cuba,” Washington Intelligence Report, Washington: the U.S. Anti-Communist Congress, Inc., Bộ III, Số 10, Tháng 11 năm 1970, trang 4.

3758  Bản tin báo chí ngày 1 tháng 2 năm 1971, Winter Soldiers Investigation, số 967 Emerson Street, Detroit, Michigan 48215, ĐT (313) 822-7700 tại wintersoldier.com …page=Warner.

3759  Washington Post, 17 tháng 3 năm 1971; FBI, SAC WFO gởi Giám đốc, VVAW IS-Miscellaneous, AIRTEL, 15 tháng 4 năm 1971, trang 2.

3760  Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 381, 433, 444.

3761  FBI, Detroit, LHM, Đề tài: Winter Soldier investigation WSI,  4 tháng 2 năm 1971, trang 1.

 

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #96”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #96 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: