Roger Canfield’s Americong #15

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

 Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

***************

Chương 15

Các Sư Tổ về Tuyên Truyền: Phỉnh Gạt Muste, Dellinger và Russel

Thông điệp của Hồ Chí Minh công bố trong Vietnam Courier  tại Hà Nội vào ngày 8 tháng 4 năm 1966 về một chính sách “tận đốt, tận giết và tận diệt” của người Mỹ cùng với việc sử dụng  “bom napalm, khí độc và các hóa chất giết người để tàn sát đồng bào ta vàt tàn phá làng xóm của chúng ta “cũng được đăng ở những nơi khác trong giới báo chí  “tiến bộ “- LiberationViet Report. Hồ đã kết thúc thông điệp với các lời cảm ơn “các nước anh em xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới. … ” vì đã tận tình phổ biến thông điệp của mình. Ngày 1 tháng 5, nhân dân tại các thủ đô Cộng sản ở Tiệp Khắc và Hungary đã tập hợp để bày tỏ tình đoàn kết với cuộc đấu tranh chống lại Hoa Kỳ của Hà Nội.  1426

Tay Chủ Hòa Muste đi thăm Sài-Gòn

Vào cuối tháng 4 năm 1966, tay từng lâu năm chủ hòa với đầy huyền thoại là  A.J. Muste đã hướng dẫn các thành viên của Uỷ ban hành động phi bạo lực (Committee for Non-violent Action  CNVA)  đi thăm Sài Gòn để phản đối cuộc chiến tranh “vô đạo đức và vô nhân đạo”.  Các tuyên bố của Muste đã thuận lợi trùng hợp với những lời của Hồ Chí Minh và đám tay sai. Muste và CNVA không tiết lộ là đã mang ơn Tạ Quang Bửu cung cấp cho các tín hiệu ngôn ngữ  như là “cuộc chiến tranh bất công, độc ác, vô nhân đạo, bất hợp pháp và vô đạo đức” – những từ ngữ vừa mới đăng trên Vietnam Courier  tại Hà Nội.

Các  thành viên CNVA đã là: thành viên WSP và kẻ ái mộ Fidel Castro là Barbara Deming, tay khoa học gia phản chiến  và đại biểu New Mobe William Davidon; tay Mác-xít thành viên của Resisters League mà đã gia nhập các mặt trận Cộng sản, Bradford Lyttle; các tên cấp tiến chủ hòa mà đã viết cho Catholic Worker  là Karl Meyer và Sherry Thurber.  1427 Barbara Deming đã viết “Bằng cách đứng ngay  tại nơi mà nhà cầm quyền của đất nước chúng ta đang tấn công một cách mù quáng và tàn bạo … lời nói và hành động của chúng tôi sẽ gây ra được một chút ít tiếng vang.”  William Davison cũng như Hồ, đã xem những nỗ lực của chúng  như là có tính cách quốc tế.

Trong vòng năm ngày, không gặp một cản trở nào, nhóm này đã tiếp xúc với các nhà hoạt động phản chiến khác trong số linh mục và sinh viên ở miền Nam Việt Nam. Tất cả các nhóm họ gặp đều đồng ý với đường lối của Hà Nội là Hoa Kỳ phải rút lui trước khi có cả được đàm phán cùng một chính phủ liên minh mới. Tại Bắc Việt, mọi bất đồng đều đã bị dẹp bỏ từ lâu vì sợ hãi và sợ chết.

Để đề phòng mọi biến chuyển khã dỉ có thề xẩy ra, cảnh sát Sài-gòn đã ngăn chận số cán bộ của Muste đến phản đối trước Đại sứ quán Mỹ. Sáng sớm hôm, sau lúc 5:30 sáng,  xe jeep cảnh sát Nam Việt đã gôm họ lại và “dù” họ qua khỏi đại sứ quán thẳng đến phi trường.”  Ở trong nước thì việc Musle bị buộc phải ra đi một cách không trong hào quang đã đúng là tin tức hấp dẫn. Pete Hamil đã mô tả Muste ” với  đôi mắt trong sáng nhờ đã vẫn giữ được một thói quen hằng bị bỏ qua là giữ gìn  đạo đức. ” Một sinh viên Sài Gòn đã viết  “các hành động của bạn đã mang lại một sức mạnh mới cho cuộc đấu tranh của chúng tôi.”  1428

Vào tháng 5 và tháng 6, Alfred Hassler đã lãnh đạo Fellowship of Reconciliation để bảo trợ cùng tài trợ cho chuyến đi vòng Hiệp-chũng-quốc trong vòng hai tháng của Phật tử Nhất Hạnh để phát biểu lập trường và để đọc thơ.  1429  Năm 1966, tay theo khuynh hướng xã hội là David Mc Reynolds, thuộc War Resisters League, đã đi Sài Gòn, Nam Việt Nam với người bạn Peggy Duff để thảo luận với các Phật tử bất đồng chính kiến​​.

Marx đã trích dẫn Feuerbach về sự kiện thế giới không phải tồn tại để được hiểu biết mà là để được thay đổi. Cùng theo chiều hướng như vậy, Bắc Việt đã ít lưu  tâm tới các sự kiện thực tế đang xẩy ra ngay trên đất nước  Việt Nam hơn là  tới việc thay đổi chúng để làm lợi thế cho họ. Và các tình cảm trong  tim của Muste cùng đồng bọn đã rất ít khi bị ảnh hưởng bởi tính cách tàn bạo của những gì đã xẩy ra. Sự thật thì ít khi có ảnh hưởng đến các thông điệp hoặc tuyên truyền điêu luyện của Hà Nội hay của bọn người Mỹ phụ tay tuyên truyền . Một khi họ đã xác định được là một chuyện gì đó thuận lợi cho lý tưởng của họ thì họ bám lấy nó. Việc cứ thường xuyên lặp đi lặp lại rất mạch lạc những gian giối đã luôn luôn đánh bại sự thật ở Việt Nam.

Người Hùng Tử Đạo Nguyễn Văn Bé – 30 Tháng 5 năm 1966

Huyền thoại về anh hùng Nguyễn Văn Bé, tay du kích Việt Cộng mà đã kể là y bị bắt vào ngày 30 tháng 5 năm 1966  trong lúc  đang vận chuyển các chất nổ. Khi bị điều tra làm cách nào để đánh mìn, y đã nâng cao lên quá đầu quả mìn, la lớn lên  “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Quốc Gia Muôn Năm. Đã đảo bọn đế quốc Mỹ,” và rồi đập quả mìn vô một chiếc xe bọc thép để tự sát và giết luôn 69 người Mỹ và người Việt Nam. Một tờ báo tại Hà Nội, Phú Lợi, ngày 30 tháng 5 đã tường thuật vào năm 1966:

Sau  một trận giao tranh ác liệt với kẻ thù, Nguyễn Văn Bé đã bị bắt … bị tra tấn dã man cùng cực … bị buộc … phải giải thích …về mìn …. Đột nhiên, anh đã nắm lấy một quả mìn nặng 10 ký lô và hét lên “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Quốc Gia Muôn Năm. Đã đảo bọn đế quốc Mỹ.”  Anh ta chạy nhanh như sét đánh tới chiếc M-118gần nhất và đập mìn vào chiếc tăng. … Do hành động anh hùng này, Nguyễn Văn Bé đã hy sinh bản thân nhưng anh đã phá hủy được một chiếc xe tăng M-118 và làm hư hỏng nặng hai xe tăng M-113 cùng giết chết và làm bị thương 64 kẻ thù, trong số đó có 12 người Mỹ. ”  1430  

 Sau đó, Đảng Lao Động (Cộng sản) đã tôn vinh Nguyễn Văn Bé là người anh hùng trong các bài hát, các vở nhạc kịch, các bài thơ, các sách báo, các vở tuồng, các tượng đài và các chương trình phát thanh. Vấn đề câu chuyện có  thật hay không thì không thành vấn đề: chỉ cần là nó rất hiệu quả trong việc truyền đạt ý chí quyết tâm của Việt Cộng. Đây là một câu chuyện hay. . . mà cần phải được kể tiếp. Hà Nội sản đã từng sản xuất những kẻ phản quốc cũng như những người hùng theo cùng một kiểu mà thôi.

Chiến Tranh Vi Trùng

Số tháng 6-7 tờ Viet Report của Staughton Lynd  tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã đang tham gia vào một cuộc chiến tranh vi trùng học. Các cáo buộc tội về chiến tranh vi khuẩn đã từng là một vũ khí tuyên truyền chính yếu của Liên Xô từ sau chiến tranh Cao-ly. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hồ Chí Minh lặp đi lặp lại trong thông điệp tháng 4 của mình về  “những tội ác và thảm sát” và cảm ơn người Mỹ  về “sự hỗ trợ và giúp đở của họ.”  1431 Trong một cuộc phỏng vấn với một nhà báo Pháp viết cho tờ L’Evenement, Hồ Chí Minh đã nói  “… phong trào chống lại cuộc chiến tranh bẩn thỉu tại Hoa Kỳ là một hỗ trợ tích cực cho lý tưởng của chúng tôi.”  1432

Tổ Chức Nhựt BEHEIREN Mời Phong Trào Hòa Bình, Tháng 6/7 và 8 Năm 1966

Ở Nhật Bản, Liên đoàn các Công dân và các Tổ chức văn hóa vì Hòa bình ở Việt Nam (Betonamu Ni Heiwaa, O Shimin Bunka Dantai Rengo –  BEHEIREN), đã tài trợ những đại hội quốc tế nhằm chống chiến tranh hạt nhân và chiến tranh Việt Nam.

Trong tháng 6 năm 1966, BEHEIREN đã tổ chức một hội nghị Mỹ-Nhật về hòa bình ở Việt Nam tại Tokyo và mời 20 người ngoại quốc và 50 người Nhật.

Trong số những người Mỹ đã có Giáo sư Phụ giảng Howard Zinn của Đại học Boston và tay da đen cực đoan thuộc Student Non-Violent Coordinating Committee SNCC  là chuyên viên tổ chức Ralph Featherstone. Với tư cách là đại diện của SNCC, cả hai đã đi Hiroshima tham dự một hội nghị chuyên đề vào ngày 10 tháng 6. Trong một loạt tuyên bố và phỏng vấn, Zinn đã nói  “Phi cơ Mỹ đang  … giết  và tàn sát con người … cố sát trong lúc bốc đồng. ”  Hoa Kỳ “nên rút lực lượng quân sự của mình và để cho Mặt trận giải phóng [quốc gia] Việt Nam thành lập chính phủ của họ. ” Về hai vấn đề quyền công dân và vấn đề  Việt Nam thì “việc xét lại và cách mạng đang cùng diễn ra.”  1433

Trong tháng 7 và vào ngày 5-7 trong tháng 8, độ 10 người Mỹ đã tham dự Hội nghị Thế giới chống Bom nguyên tử và Hydrogen và Phòng chống chiến tranh  hạt nhân Nhật Bản thứ I, và trong đó cũng có Howard Zinn.

 Ngày 11 tới 14 tháng 8, một hội nghị BEHEIREN lớn hơn, có tới 120 người từ 28 quốc gia đã lên án nặng nề chính sách của Mỹ tại Việt Nam và đòi hỏi Mỹ phải đơn phương rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Số người Mỹ tham dự đã là Cynthia Quenton Basset, Kay Boyle, David Dellinger, Donald Duncan, Israel Dresner, Russell Johnson, Donald Keyes, Murray Levin, Floyd McKissick, David Ernest McReynolds, Robert Morris Ockene và Howard Zinn.  1434  Howard Zinn đã đi thuyết trình trên khắp Nhật Bản và Okinawa từ đầu tháng 6 đến 14 tháng 8 năm 1966 hầu chống lại chiến tranh Việt Nam  1435  nhưng lại ủng hộ các lập trường của Hà Nội. Beheiren đã ký một thỏa thuận với bọn biểu tình Mỹ nhằm chống lại việc sử dụng bom napalm và vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học và hóa học. Beheiren đã hy vọng sẽ giúp phối hợp được các cuộc biểu tình phản chiến về Việt Nam tại Hoa Kỳ. 1436

Việc phối hợp đã là một chủ đề ngày càng quan trọng của các tổ chức phản chiến mà cuối cùng kết quả đã là phối hợp trực tiếp với các mặt trận của Hà Nội và Liên Xô, mà theo đó, David Dellinger sẽ đã sớm bắt chước theo Hayden, Aptheker và Lynd mà đã ở nguyên suốt  tháng chạp năm 1965 tại Hà Nội.

Dellinger ở Hà Nội

Từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 8 năm 1966, David Dellinger  đã tham dự hội nghị phản chiến Beheiren. Sau đó thì Hà Nội đã duyệt nhập cảnh của David Dellinger để cho đi Bắc Việt. Dellinger đã vận động cho chuyến đi Hà Nội của y như  một kẻ ráng đi nạp đơn xin việc.

Dellinger đã cố xin cho được những điện tín đề bạt y, những thư giới thiệu y của  A. J. Muste, Staughton Lynd, Tom Hayden, Bertram Russell và Richard “Dick” Gilpin, một thành viên của Ủy ban Bất bạo động cho nền Độc lập của Cuba.

Vào mùa thu năm 1966 tại Hà Nội, David Dellinger đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thông dịch viên Đỗ Xuân Oánh, Nguyễn Vĩnh Vy, Tạ Quang Bửu và Hồ Chí Minh.

Dellinger tự hào là đã truy hỏi bọn cộng sản về các cáo buộc liên hệ đến những vụ thảm sát trong quá trình cải cách ruộng đất  và các việc ngược đãi tù binh chiến tranh của chúng. Cuối cùng Dellinger đã nói rằng “trong một vài trường hợp, nông dân đã giết chết một điền chủ mà đã từng bị căm thù” và Hồ đã nói với y là  “Chúng tôi rất tiếc về những vụ này. Chúng tôi đã muốn đối xử rất tốt với họ .” Nông dân, tù binh chiến tranh và quân nhân Mỹ đều được đối xử rất tốt, Dellinger đã tin như vậy.

Trong chuyến đi, Dellinger thấy được những bệnh viện bị thả bom. Sau đó, Hà Nội ghi ơn Dellinger, y như Tom Hayden trước đó, là đã giúp sắp xếp các chuyến đi Bắc Việt Nam cho các bọn khác như Bevel Diane Nash, Patricia Griffith, Daniel Berrigan, Howard Zinn và nhiều nhóm phụ nữ cùng giáo sĩ khác nhau.  1437

Hayden và Dellinger, cùng với sự sự tham gia của Cora Weiss, đã là bộ ba gác gian cho đồng bọn để đi Hà Nội và Paris.

Tòa án Tội phạmChiến tranhcủaBertrandRussell

Rất ngẫu nhiên, nhưng chỉ ba ngày sau tin nhắn của Hồ với nhân dân Mỹ  về “những tội phạm và tàn sát” và với đề nghị được hỗ trợ từ phong trào phản chiến, tay chủ trương hòa bình người Anh là Bertrand Russell đã mô tả kế hoạch của y nhằm sử dụng chủ đề các tội phạm chiến tranh để huy động những cuộc biểu tình tại Mỹ và châu Âu.

Russell đã viết một bức thư ngỏ cho Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt Trận Giải phóng  Quốc gia (Việt Cộng) về “sáng kiến ​​của tôi nhằm triệu tập một phiên tòa để xét xử các tội phạm chiến tranh.”  Tất nhiên đó không phải là sáng kiến của riêng Russell, nhưng mà là của Hồ Chí Minh, kẻ đã tài trợ một “số tiền lớn”  từ Hà Nội,  theo yêu cầu của Russell.  1438

Russel và Tình Báo Hà-nội

Đã có trợ giúp khác đến từ các Việt kiều “yêu nước” lưu vong tại Pháp nhằm trau chuốt lập trường của Hà Nội như Huỳnh Trung Đồng và Nguyễn Ngọc Giao, cả hai cùng “hoạt động trong vòng bí mật” như là các tên lãnh tụ tình báo của Hà Nội tại Pháp. Tổ chức bề ngoài của chúng (Hội Việt Kiều Yêu Nước Tai Pháp  1439 ) đã chỉ là tên phiên dịch từ Công Đoàn Người Việt Nam Hải ngoại, Người Việt Đòan Kết Hải ngoại, Công Đoàn Người Việt Thường Trú, Hiệp hội  người Việt yêu nước ở Pháp. Năm 1966-1967, Đồng và Giao đã gặp và ôm hôn các tay phản chiến Mỹ, các tên đào ngũ và trốn quân dịch rồi đã trợ giúp cho Jean Paul Sartre, viên chủ tịch điều hành của Tòa án của Russell.  1440

Trong năm 1978, Giao và Đồng đã là những tên đồng mưu, tuy không bị truy tố trong việc ăn cắp các tài liệu mật như công điện và phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được giao lại bởi các tên điệp viên của Hà Nội mà đã bị kết tội gián điệp là Ronald Humphries và David Trương Đình Hùng.  1441 Vào năm 2004-5, Giao là một viên chức cao cấp trong Viện Chiến lược Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Chiến lược chính trị và quân sự đều như nhau đối với mấy tay như Đồng và Giao. Trang web chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam ngày nay nói rằng “Cộng đồng Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có những đóng góp to lớn cho việc giải phóng quốc gia nhằm dành độc lập và thống nhất đất nước.”  1442

Russel và Bọn Khích Động Tuyên Truyền Liên-xô

 Liên Xô cũng tài trợ những nỗ lực của Russell thông qua Hội nghị Stockholm về Việt Nam.  1443   Quốc tế Vụ của Đảng Cộng sản Liên Xô đã tài trợ Hội nghị Stockholm độ chừng  26.000.000 $ trong vòng một năm theo lời khai của Trưởng Mật Vụ Rumani là Mihai Pacepa. Y đã mô tả,

một tổ chức quốc tế thường trực để trợ giúp hoặc tiến hành các hoạt động nhằm  giúp người Mỹ trốn quân dịch hay đào ngũ, nhằm làm mất tinh thần quân đội của chúng bằng tuyên truyền chống Mỹ, nhằm tổ chức các cuộc biểu tình, phản đối và tẩy chay cùng trừng phạt bất cứ ai liên hệ tới chiến tranh.”

Hội nghị này chuyên môn tạo ra các tài liệu  và hình ảnh giả mạo về sự tàn ác  của Mỹ. 1444

Bertrand Russel đã tuyên bố trên Đài Phát Thanh Giải Phóng:

(Cần) phải triệu tập một tổ chức quốc tế với thẫm quyền kỷ luậttối thượng để có thể tuyên án một cách đúng đắn … Phiên toà này sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến dư luận thế giới … (và) … thiết lập một phong trào mạnh mẽ chống lại  đế quốc Mỹ ngay tại Hoa-kỳ, tại Tây-âu . . . Tôi xin được gởi đến nhân dân Việt-nam lòng ngưởng mộ tận cùng đối với cuộc chiến đấu anh hùng của họ.  1445

Douglas Pike, một quan sát viên uyên-bác của Bộ Ngoại Giao về các chính sách của Việt Nam và luôn cả về Bertrand Russell, đã viết rằng “các lá thư của Russel theo đúng đường hướng cộng sản, đúng theo phương cách hợp lý hóa ngoằn ngèo và quanh co, sử dụng luôn cùng các số liệu thống kê giả mạo, ngôn ngữ cùng là một; thậm chí cả thứ tự của danh sách dùng để lên án các sự kiện cũng chỉ là một mà thôi. ” 1446

Các tương đồng này thì gần như không có gì đáng ngạc nhiên bởi vì Ralph Schoenman,  Tổng thư ký của Russell, người  phụ trách dự án Hà Nội với ưu tiên cao này  đã từng gặp Hồ Chí  Minh, Phạm Văn Đồng và các viên chức đảng mãi từ năm 1963.  1447  Vào cuối tháng 7, Bertram Russell đã gửi bức thư Hà Nội của y, mà đã được cẩn thận soạn thảo, qua Hoa Kỳ để tranh thủ sự hỗ trợ từ ngay Hoa Kỳ của phong trào phản chiến Mỹ. ” 1448 CIA đã nhận xét  “Tầm quan trọng mà Hà Nội đặt vào tuyên bố lố lăng này nhằm xem như một phương tiện để thúc đẩy thế giới và nhóm đối lập Mỹ chống lại các chính sách Mỹ đã được thể hiện rất rõ ràng.”  1449

Vì mới vừa trở về từ Hà Nội vào tháng 2 năm 1966, Staughton Lynd chắc chắn đã có vẻ như đáng để tuyển mộ cho phiên tòa thử nghiệm của Russell. Y bèn gửi Russell Stetler, tay đại diện Mỹ của y đến nói chuyện với Lynd trong mùa xuân năm 1966. Lynd sau đó cho biết, đó là một “giờ phút của sự thật.” Y đã nói với Stetler, “Một tội phạm là một tội phạm … không cần phải là ai đã phạm.”  Do đó, Tòa án sẽ đáng tin cậy hơn nếu cho phép các nhân chứng … cáo buộc những tội phạm của bởi bất kỳ bên nào.”

Dĩ nhiên Lynd đã chắc chắn là “các tội ác của Hoa Kỳ và chính phủ miền Nam Việt Nam sẽ có … tính cách phổ biến áp đảo hơn nếu so với những tội lỗi của Mặt trận Giải phóng quốc gia hay của chính phủ Bắc Việt.”

Lynd đã hỏi Stetler, “Nếu bất cứ ai mà đã tra tấn tù nhân thì đó sẽ là một tội ác, đúng không?”  Russell Stetler đã cho thấy đầy đủ rỏ ràng vấn đề không phải là việc tra tấn mà chính là sự hiện diện của Mỹ khi trả lời: “Bất cứ điều gì [kể cả tra tấn tù nhân] cũng có thể được biện minh  nếu ép buộc được bọn  xâm lược Mỹ phải chạy trốn ra biển.”  1450  Đó là lý do tại sao Lynd đã từ chối tham gia vào Tòa án tội phạm chiến tranh của Bertrand Russell.

Phiên tòa biểu diển của Russell đã bỏ quên những hành vi tàn bạo khã dỉ đã có của Bắc Việt Nam cho dù chúng có thể sẽ ít hơn so với “các tội ác của Hoa Kỳ 1451…”  Mọi cuộc nghiên cứu thực sự đều sẽ đã cho thấy những tội ác Cộng sản có cường độ lớn hơn nhiều so với người Mỹ.

Các Tù Binh Chiến Tranh Từng Bị Tra Tấn Gặp Các Nhóm Phản Chiến

Vào mùa xuân năm 1966, thay mặt Công Tước Russell, Wilfred Burchett đã sử dụng một cái tên giả đã đến thăm các tù binh chiến tranh là Larry Guarino, Ray Vohden và Jeremiah Denton.

Thư ký điều hành của Russell là Ralph Schoenman đã thuyết phục tù binh chiến tranh Jerry Coffee  viết một bức thư theo kiểu tuyên truyền của Hồ và Russell. Coffee thì muốn vợ mình biết được là mình vẫn còn sống.  1452

Ngày 7 tháng 7 năm 1966, các “lời thú tội” của tù binh chiến tranh Jim Mulligan và Dave Hatcher đã được truyền thanh. Mulligan đã nói là mình từng  “giết chết nhiều người vô tội.” Đó là một “cuộc chiến bất công và bất hợp pháp … mà đã góp phần vào một làn sóng phản đối chiến tranh bùng nổ lên tại mặt trận quốc nội  Mỹ. … Tôi cầu xin quý vị tha thứ tôi.”  Các lời thú tội của Mulligan, Hatcher và những người khác “đều giống hệt nhau trong phong cách và nội dung.”  Với vài ngoại lệ, hành vi tra tấn đã giúp tạo ra chúng.”  Câu hỏi duy nhất là chịu đựng được việc tra tấn đến mức nào thì một con người sẽ phải chịu thua ?”  1453

Bertrand Russel Lặp lại như Vẹt Lời Hồ Chí Minh

Vào giữa tháng 11 năm 1966 Bertrand Russell đã triệu tập phiên họp chính thức đầu tiên của cái tòa án về tội ác chiến tranh của y,  gần một năm sau khi y và Hồ bắt đầu có ý tuởng về vấn đề này. Hồ Chí Minh đã viết một lá thư ngỏ công khai: “Nhân dịp thành lập do sáng kiến ​​của ông một Toà án Quốc tế để truy tố những tên tội phạm chiến tranh người Mỹ.” Hồ cho biết nó sẽ

khơi dậy sự phẫn nộ của toàn thế giới hầu chống lại giặc Mỹ xâm lược và đẩy mạnh  phong trào phản đối … Tòa án sẽ góp phần đánh thức lương tâm của các dân tộc trên thế giới đang chống lại bọn đế quốc Mỹ,  kẻ thù sốmột của nhân loại và hòa bình thế giới.”  1454

Bảy trong số mười sáu thành viên của Toà án, kể cả Dave Dellinger vì về chậm từ Hà Nội, đã không có mặt ngay lập tức. Tòa án đã yêu cầu chỉ một đại diện cho chính phủ Mỹ và người này cũng đã từ chối tham dự.  1455

Có mặt trể vì đã đi Hà Nội nguyên một tháng trời, Dellinger đã nói với Tòa án của Russell là nước Mỹ đã cố tình dội bom các thị trấn, thôn làng và những bệnh viện mà đã được đánh dấu Chữ thập Đỏ . 1456  Nếu quả thật là có các bệnh viện được đánh dấu Chữ thập Đỏ  thì Bắc Việt đã vi phạm bản quyền bởi vì Hà Nội đã không cho phép Hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế vào miền Bắc Việt, nơi mà hội đã sẽ có thể báo cáo về những tội ác thực sự và công bố sự thật về các tuyên bố của Hà Nội trong cách đối xử “nhân đạo và khoan dung” với các  tù binh chiến tranh Mỹ.

Ác quỷ quả thật đã đang ở Mỹ.

*****

1426  Được tưởng nhớ theo các lời ghi chú và hình ảnh tại Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-Gòn, bộ Viet II DSC_350, trang 352-3 của tác giả.

1427  LYTTLE, BRADFORD, SHERRY THURBER, WILLIAM DAVIDSON “Reports from Saigon” Liberation, May-June, 1966; The New York Workshop in Nonviolence (WIN) April 29, 1966 viện dẫn bởi Hershberger trong Traveling… trang 56-58. 

 1428   NY Post 25 tháng 4 năm 1966 và báo Liberation tháng 7 năm 1966 viện dẫn bởi  Mary Hershberger trong  Traveling, trang 61.

1429   Tài liệu lưu trử của Fellowship of Reconciliation, USA,(FOR-USA), DG 013, Section 2, Series G, G-6, trong Hộp 16 và 17, Swarthmore College Library tại Swarthmore.edu/library/peace.

1430  Bài của SMG Herbert A. Friedman (về hưu) “The Strange Case of the Vietnamese ‘Late Hero’ Nguyen Van Be” tại http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

1431   Hồ, Đài Hanoi, 17 tháng 7 năm 1966.

1432   Bernard Fall (ed.), Ho…,  trang 345.

1433   FBI, FOIA, Howard Zinn, Phúc trình của SA Darrel Currie, Howard Zinn Security Matter – C,” 7-11, 3/7/67, viện dẫn Naval Investigative Service Office, báo cáo của NISO ngày 13 tháng 9 năm 1966 mà một phần đã được nêu ra bởi Women’s News, “Conscience of America and Hiroshima,”  Đài CHUGOKU (RCC)  Nhật bản, 10 tháng 6 năm 1966.

1434   Phúc trình FBI, FOIA, Legat, Tokyo gởi Giám đốc  FBI,  Nhật bản ‘Peace for Vietnam,” Committee aka IS – Japan, 2/28/67 đã viện dẫn một quyển sách Nhật nhân trong hội nghị.

1435 Bản Tóm Tắt Tương Liên FBI, FOIA, Howard Zinn, 6/9/69, trang 8-9

1436   FBI, FOIA, Howard Zinn, Legat, Tokyo gởi Giám đốc FBI, Giáo sư Howard Zinn, 26 tháng 9 năm 1966 kể về báo cáo của OSI  liên hệ với Naval Investigative Service Office.

1437   James W. Clinton phỏng vấn David Dellinger, 23 tháng giêng năm 1991 và 16 tháng 11 năm 1990 trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 47-51.

1438    Nicolas Griffin, The Selected Letters of Bertrand Russell: The Public Years, Routedge, 2002.

1439   Nhu Miller, trantnhu, 4, tháng 5 năm 2007.

1440  Cáo phó củaGiao cho Huỳnh Trung Đông.

1441   Yung Krall, A Thousand Tears Falling, The True Story of a Vietnamese Family Torn Apart by War, Communism, and the CIA, Long Street Press, 1995.

1442   Tòa Lãnh Sự Việt-nam, Houston, Texas, tháng 10  năm 2011.

1443   Báo cáo của FBI,  Information Digest Special Report on VVAW,  25 tháng 8 năm  1972 viện dẫn ở Fedora  tại FreeRepublic.com : http:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW

 1444   Steve Sherman trong Đoạn của Vietnam Myths Conference tại  wwwviet-myths.net/session03t.htm.

 1445   “Russell Outlines Plans for War Crimes Trial.”, Đài Giải Phóng (bất hợp pháp) bằng tiếng Việt phát thanh ở Nam Việt, 0900 GMT, 3 tháng 8 năm 1966. Indochina Archives, U. Cal., Berkeley.

 1446   Douglas Pike, Viet Cong…, 1967, trang 446.

 1447   Ralph Schoenman, “Truth as Casualty—A Response to Carol Brightman and Carl Oglesby on the Sixties,” Vallejo, California, 21 tháng giêng năm 2008,  trang 2  tại http://takingaimradio.com/articles/TRUTH_AS_CASUALTY__A_RESPONSE.pdf.

 1448   Russell cũng đã thuê được Stokely Carmichael. Mỹ kiều Ralph Schoenman đã là “điều tra trưởng” của Russell.  Mark Lane và John Gerassi đều là giám đốc của Russell’s Peace Foundation. Các thành viên Mỹ của Tòa Án đã là: Courtland Cox (SNCC), Dave Dellinger, Carl Oglesby và Stokely Carmichael. Các tham dự viên khác đã là J.M. Krivine, Professor Nielands, v. v. . .

1449   CIA, hồ sơ số EO-2000-00054,“International Connections of Peace Groups,”  15 tháng 11 năm 1967, trang 23.

1450   Gitlen, trang 261

1451   Farber, 1968, trang 73.  Lưu ý là David Dellinger, Carl Oglesby và Stokley Carmichael đã quyết định tham dự phiên tòa có tính cách biểu diễn của Russell.

1452   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 192-3.

1453   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 208-210.

1454   Writings of Ho Chi Minh on the U.S., trang 135-6.

1455   Observer (London), 13 tháng 11 năm 1966, trang 36.

 1456  New York Times, 20 tháng 11 năm 1966, trang 10.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #15”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #15 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: