Roger Canfield’s Americong #186

image002 

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộcchiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*******

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 186

Lời Cuối ~  Chúng Nay Thì Đang Ở Đâu?

 Cựu Chiến Binh Thời Việt Nam

Cuối cùng thì các cựu chiến binh Việt Nam và nhân dân Mỹ cũng đã nhận ra được là Đông Dương đã mất vào tay Cộng Sản rồi. 82% của số cựu chiến binh từng đụng trận nặng tại chiến trường ở Việt Nam đều tin tưởng mạnh liệt là mình đã thua trận chỉ vì thiếu ý chí chính trị, và tới năm 1993 thì gần 75% công chúng cũng đồng ý như vậy. 5332

Việc mô tả các cựu chiến binh thời Việt Nam hoặc là man rợ tàn bạo trong chiến tranh, hay ngay là nạn nhân của chính chiến tranh, hoặc chỉ là những tên thất chí bệnh tật tàn tạ hoang tưởng đều sai cả, nhưng khổ nổi là chúng vẫn cứ là loại huyền thoại cường điệu mà không hề ai chịu đứng ra thách thức cải chính lại cả.

Loại phim như là Apocalypse Now của Oliver Stone hay Platoon đã phổ biến khắp mọi nơi hình ảnh của những binh lính rất man rợ và sớm tạo ra quan niệm chung về chiến tranh Việt Nam và về tất cả những người từng đã tham dự. Phim Coming Home (1978) của nhóm IPC do Fonda và Hayden chủ trương và Born on the Fourth of July  của Oliver Stone đã cố tình cho thấy chính cuộc chiến tranh Việt Nam đã khiến ngay người lính thành một nạn nhân luôn. Câu chuyện đời tư của Ron Kovic, mà Jon Voight đã diển thật tuyệt vời trong Coming Home, cũng đã đóng góp rất nhiều cho các huyền thoại về hình ảnh tiêu biểu của người cựu chiến binh Việt Nam như là thất chí, tàn tạ, say sưa, mê sảng vì một cuộc chiến tranh vô luân. Nhiều tên khác thì đã dám vu cáo  5333  là đã từng có nhiều cựu chiến binh thời Việt Nam tự tử hơn là đã phải chết vì chiến tranh.

Thành công lớn nhất của tụi IPC sẽ đã là bẻ ngược được hình ảnh của các cựu chiến binh thời Việt Nam từ những người hùng  để trở thành những nạn nhân mà thôi, từ những đối tượng của danh dự để trở thành những kẻ đáng thương hại, chỉ sống qua ngày mà chờ lảnh tấm chi phiếu của chính phủ và sống tiếp cuộc sống tàn tạ của đám cử tri chạy theo các khuynh hướng tả phái. Và nếu mà chiến tranh đã mang lại bao điều xấu xa cho các cựu chiến binh thời Việt Nam thì đúng là cuộc chiến tranh Việt Nam thật quả là bất hợp pháp và vô luân vậy.

Jon Voight sau này có nói: “Nếu mà tôi được làm lại bộ phim đó ngày hôm nay, thì tôi sẽ đạo diển phim như là quân đội của chúng ta thực sự là những kẻ giải phóng”. 5334 Thật vậy, tại một đại hội của Cựu chiến binh Mỹ thời Việt Nam vào ngày 1 tháng 8 năm  2009, Jon Voight đã công khai tỏ lời ăn năn “cho các thái độ kiêu ngạo, ngu xuẩn thời trai trẻ của tôi” suốt trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Nhưng đối với Hollywood  thì kẻ thua cuộc đầy mê sảng cũng vẫn chỉ là người Cựu Chiến Binh thời Việt Nam mà thôi, bất chấp tới sự thật là họ vẫn đang sống rất là hạnh phúc và sung túc mãi về sau này.

Đa Số Cựu Chiến Binh thời Việt Nam đều có Cuộc Sống Rất Khả Quan Sau Cuộc Chiến

Họ đã về lại nhà,  với gia đình, với trường học và với công ăn việc làm và một cuộc sống bình thường để trở thành những công dân tốt, hầu đóng góp cho xã hội. Rất nhiều kẻ tự phong  là cựu chiến binh từ thời Việt Nam vẫn cứ vác mặt ra để đi nhận phúc lợi trong việc bồi thường cho nạn nhân nhưng tựu chung, hóa ra chúng chỉ là đám gian lận. Sự thật là đã có những kẻ đâm ra đi nói láo mình đã từng phục vụ tại Việt Nam, (tác giả đã không hề phục vụ tại Việt Nam) để cho thấy quan điểm chính trị của mình, đi cướp dành lợi lộc cho các cựu chiến binh mà mình không có tư cách để hưởng đúng như luật định và còn dám mạnh miệng trả lời con của mình cho câu hỏi, “Ba ơi, Ba làm gì được trong thời chiến tranh Việt Nam?”.  Nhưng ngay chính sự kiện này cũng cho thấy là việc khoe trương hãnh diện đã từng có phục vụ một cách cao quý tại Việt Nam nay thành là một điều vinh dự và cao quý như Ronald Reagan đã từng nói mấy năm trước mà không cần gì tới các cuộc thăm dò dư luận nào cả.

Nick Rowe,  Tù Binh Vượt  Ngục

Trung tá Rowe đã là tù binh của Việt Cộng mà đã từng đào thoát được và sau đó vẫn tiêp tục phục vụ trong quân đội. Vào năm 1987 thì ông được bổ nhiệm đi Phi-luật-tân để huấn luyện các lực lượng chống cộng. Ngày 21 tháng 4 năm 1989, một tên du kích cộng sản đã bắn chết Rowe trên xe của ông.  5335

Cuộc Sống Hậu Chiến của Tù Binh

Sự thật về việc tù binh từng bị đối xử ra sao đối với một số nguời đã lần lần đi vào quên lãng. Câu chuyện về sự thật đó đã có được đề cập ngắn gọn đến trong Hanoi Hilton, một cuộn phim mà Jane Fonda và Tom Hayden đã tích cực cố gắng vận động không cho trình chiếu. 5336

Tuy nhiên, tới năm 2010 thì độ 996 cựu chiến binh thời Việt Nam đã có ghi danh với cơ quan chính phủ Department of Veteran Affairs và đã có nhận được phụ cấp về tàn tật. Và sự thật là đã có cho tới gấp đôi số người tư xưng là tù binh thời chiến tranh Việt Nam hiện vẫn còn sống, nếu ta so với con số thật sự chính thức được xác nhận về họ. 5337

Các Cựu Tù Binh Phản Chiến

Đám thành viên VVAW, một thiểu số ồn ào và được biết đến nhiều, chắc chắn đã không thuộc trong số 91% của các cựu tù binh thời Việt Nam mà đã “hân hoan [từng] phục vụ tại Việt Nam”. Và quả vậy, vào mấy ngày kỷ niệm 30 tháng 4 về việc sụp đổ của Sài Gòn, các đám VVAW vẫn cứ đến tiếp tục kéo nhau đến đặt vòng hoa tưởng niệm tại khu vực đồ sộ của Lăng chứa xác ướp của Hồ Chí Minh vẫn được bảo vệ bởi bọn lính bước theo kiểu ngỗng.

George Smith

Vào năm 2000 thì Isaac Camacho có kể câu chuyện bằng cách nào mà George Smith đã giúp ông ta trốn tù vào năm 1965 và Smith cũng mô tả niềm vui của mình khi qua mặt để gạt được bọn quản giáo. 5338  Nhưng một Camacho rất là biết ơn, lại đã không hề đề cập đến hoạt động phản chiến của tay cựu tù binh George Smith thiên Hà Nội sau này khi y về và đâm ra đi cộng tác với bọn Hayden và Fonda.

Hai cựu tù binh là Chenoweth và Edison Miller cũng từng tháp tùng lên đường đi chung với đoàn IPC của bọn Tom với Jane.

Đám Đào Ngũ

Gerald Ford đã ân xá cho bọn trốn quân dịch và đào ngũ chiếu theo các điều kiện của chính phủ, tức là có đuợc đến 24 tháng “phục vụ thay thế”. Cũng đã không có bao nhiêu người chịu chấp nhận các điều kiện được đưa ra. Ngay vào ngày đầu tiên sau khi nhiệm chức Tổng thống vào ngày 21 tháng một năm 1977, James Earl Carter đã ân xá cho 12.500 người từng đã bị kết tội hoặc bị truy tố đã phạm luật trong thời chiến tranh Việt Nam và ra lệnh cho Ngũ-giác-đài phải tái xét toàn bộ phân nữa số 4.500 tên đào ngũ và số 88.700 cựu chiến binh mà đã từng xuất ngũ không hợp lệ hầu ân xá được hay không. 5339  Ngũ-giác-đài đòi hỏi bọn đào ngũ phải trở về lại quân đội và phải xuất ngũ với điều kiện  ‘Discharge Under Other-Than-Honorable Conditions ~ Giải ngũ Trong Điều kiện Không Quy Định như là Xứng Đáng để Hãnh Diện’.

Bọn Phóng Viên Báo Chí

Eddie Adams

Eddie Adams sau này có thú nhận là tấm hình mình chụp Tướng Loan xử tử tên khủng bố Việt Cộng, một kẻ đã ra tay tàn sát đàn bà cùng trẻ em, đã “rất là thiên vị. Tôi đã không có được tấm hình cho thấy nguyên cảnh gia đình đó [đã bị tàn sát]. Đó quả đúng là kiểu tuyên truyền tuyệt hảo dùm cho Bắc cộng …. Nó [nay] vẫn còn trong viện Bảo tàng Chiến tranh Việt Nam”.  5340  Khi Tướng Loan qua đời thì Eddie Adam đã khen ngợi ông ta đã từng đúng là một anh hùng của chính nghĩa.  5341

Walter Cronkite

Hai mươi năm sau vụ Tết Mậu Thân 1968 thì tay Walter Cronkite sẽ được đi đến cái thiên đường cộng sản Bắc Việt hầu được tiếp tục ca ngợi trình độ văn hóa, trình độ lành mạnh của nhân dân và luôn cả, ôi  sao mà áo quần (màu đỏ) của dân chúng quá ư là xinh đẹp. 5342  Yđã trở thành một tên theo khuynh hướng tự do cứng đầu và là một tên chính cống theo phong trào chủ nghĩa quốc tế đang đi tìm kiếm cho được một chính phủ toàn cầu với khả năng quân sự khã dỉ có thể “truy tố được các [quốc gia] tội phạm ra trước công lý”. 5343 Cái chi tiếtCronkite từng được trao thưởng một huy chương chiến tranh bởi bọn Việt cộng đã không hề được báo cáo nhưng đúng ra thì cũng không cần thiết vì y quả rất ư là xứng đáng để nhận nó thôi mà.

Dan Rather

Rather có tuyên bố: “Tôi mang hành trang của một sinh viên tốt nghiệp từ đại học báo chí Nam Việt Nam”. 5344  Rather  đã tinh luyện được các kỹ thuật về tuyên truyền. Trong chuyện “The Wall Within ~ Bức Nội Tườn” vào ngày 2 tháng 6 năm 1988 thì Rather đã dựa trên những kinh nghiệm kinh khủng của sáu cựu chiến binh thời Việt Nam, chẳng hạn như chuyện  Terry tuyên bố về vụ có lột da đàn ông, đàn bà và trẻ em để rồi xếp chồng các xác lên nhau.

Nhờ công trình điều tra của B.G. Burkett, các nhân chứng đều đã bị chứng minh ra là chỉ toàn gian dối mà thôi. Burkett đã chứng minh được là họ chưa bao giờ có thực sự hiện diện tại những nơi mà họ đã từng tuyên bố và họ cũng không hề làm những nghề khã dỉ chứng minh được sự hiện diện của họ tại hiện trường như họ đã mô tả. 5345 Bradley nguyên là một quân nhân phụ trách về đạn được, từng nổi tiếng trong lữ đoàn của mình là chuyên viên Absent Without Official Leave ~ AWOL (Vắng Mặt không Phép). Cuối cùng thì sự kiện y đã mù quáng sử dụng mà không hề kiểm chứng những tài liệu giả tạo hầu phá uy tín của George W. Bush về thời gian chỉ có phục vụ trong National Guard ~ Lực lượng Bảo Vệ Quốc gia (để ủng hộ giúp làm tăng uy tín của Kerry trước việc y bị tổ chức Swift Boat Veterans for Truth thách thức y quá sức là nói láo) đã kết thúc 24 năm sự nghiệp của tên này tại CBS.

Peter Collier

Chủ bút tờ Rampart mà cũng là tay dấn thân phản chiến Peter Collier có cho biết, “Cũng đã không lâu thì cái không tưởng mà bọn Tả phái đã từng dự đoán cho Đông Nam Á, một khi mà Mỹ sẽ đã bị đánh bại, đã lộ bộ mặt ra để chỉ là một cơn ác mộng của chuồng cọp để mà giam tù, của những thuyền nhân và của các trại tù chính trị bị gọi trại ra là trại cải tạo”. 5346

Robert Scheer

Từng là một tên sùng bái thiên đường Bắc Triều Tiên và cũng là thành viên  Red Family ~ Hồng Gia của Hayden, với tư cách là chủ bút chính của tạp chí Ramparts, sau này thì Robert Scheer đã bỏ qua 30 năm sự nghiệp, trong đó có 17 năm như một người viết chuyên mục cho tờ Los Angeles Times trước khi y bị sa thải vào tháng 11 năm 2005. Nguyên là loại mà mọi người vẫn gọi là ‘red diaper baby (em bé mang tã đỏ)’, y vẫn thuộc giới tả phái chuyên viết cho The Nation, Huffington Post, và thường xuyên xuất hiện trên National Public Radio, NPR. Y từng gian dối tuyên bố là Hoa Kỳ đã cho bọn Taliban 43.000.000 đô Mỹ. Nhưng đó thực sự chỉ là tiền của Liên Hợp Quốc chớ không phải là tiền của Mỹ. Tiền này đã, không qua chính phủ Afghanistan nhưng là qua các tổ chức phi chính phủ và không thông qua bọn Taliban.

Scheer là tác giả của “The Five Biggest Lies Bush Told Us About Iraq ~ Năm Đại Láo của Bush về Iraq” theo cái kiểu thường dùng để tấn công các tổng thống Mỹ về đề tài Việt Nam. Scheer cũng đã từng mắng cá nhân Bush là giàu mà sao ngu quá.

Neil Sheehan

Sau khi tên Phạm Xuân Ẩn, điệp viên bậc thầy của Hà Nội bị lật tẩy thì tay Neil Sheehan vẫn cứ là một ái mộ viên luôn miệng ca tụng tên này:  “Bạn tôi, người đã phục vụ cho sự nghiệp báo chí và lý tưởng quốc gia của mình trong danh dự và lỗi lạc – kính mến”.  5347  Quyển Bright Shining Lie của Sheehan thì mô tả một John Paul Vann đầy tật xấu cũng như là một miền Nam cùng Mỹ rất ư là bất tài, thối nát và tàn bạo. Sheehan lại miêu tả tay Hồ Chí Minh, một cán bộ Đệ Tam Quốc tế mãi từ năm 1924, như là một người quốc gia chân thật, công nhận các vụ thảm sát những người quốc gia của Hồ như là một điều cần thiết, cho cuộc tận diệt năm 1956 như chỉ “là một sai lầm không may” bị gây ra bởi đám thuộc hạ phản phúc của Hồ, từng đã viết và mô tả bóp méo Trận Ia Drang và còn lại đã bác bỏ những vụ thảm sát Mậu Thân Huế như chỉ là một “sai lầm ngu ngốc” và chỉ là một trục trặc về thông tin công cộng mà thôi.

Mãi đến cuối tháng 7 năm 2002 mà Sheehan vẫn tuyên bố với đài C-SPAN là mấy “trại học tập cải tạo” của Hà Nội thì cũng không có gì là quá xấu đâu (chỉ có ít hơn là 10% đã bỏ mạng ở đó mà), và rất ư là gian trá hèn hạ là Hà Nội “đã không bắn chết ai cả”. 5348 Tới năm 2008 thì tổ chức Transparency International (Minh bạch Quốc tế) nhân khi khảo sát về nạn tham nhũng công cộng, thì cũng đã có xếp hạng bọn Việt cộng vào hàng thứ 121 tham nhũng nhất trong tổng số 180 quốc gia trên thế giới. 5349

I. F. Stone

Những lần kiểm tra giải mã chặn do chương trình Venona của Quân Báo Mỹ và các hồ sơ FBI đã chứng minh Stone đã từng là đảng viên đảng CS Mỹ, cũng như là một điệp viên KGB rất lâu năm vẫn từng lãnh lương của Liên Xô, 5350  chớkhông hề chỉ là một nguồn tin “độc lập” thường được ghi nhận về đề tài Việt Nam.

Wilfred Burchett

Burchett đã được chết tại một trong những thiên đường cộng sản của mình là Sophia, Bulgaria vào ngày 23 tháng 9 năm 1983, năm năm trước khi bức tường Bá-linh sụp đổ và khối cộng sản Đông Âu lần lượt bị đổ xập như các con cờ ‘domino’ mà không cần tốn một viên đạn nào cả.

Ginette Sagan

Năm 1982, trên tờ Newsweek, tay hoạt động cho nhân quyền và cựu phản chiến đã phải lên tiếng hỏi,

Mấy đồng nghiệp của tôi trong phong trào chủ hòa từng phản đối quá ư là kịch liệt chính sách đàn áp của chế độ Thiệu nay thì ở đâu mất hết rồi? …

Hiện trạng ngày nay [tại Việt Nam] qú ư là cực kỳ gay go khó khăn … giam cầm trong … những thùng ‘conex’ dùng để chứa hàng chổ bằng phi cơ (mà trong đó) … nhiều tù nhân … chân thì bị xiềng xích, … sống qua ngày với chỉ có một chén cơm và chút nước một lần thôi trong hàng ngày.

Khi được chúng tôi phỏng vấn thì một bác sĩ đã tuyên bố: “Việc này gợi tôi nhớ lại những hình ảnh tù nhân trong các trại giam của Đức Quốc xã sau Thế chiến II” … Ngày nay tại Việt Nam thì không hề có việc thảo luận về nhân quyền nữa mà chỉ còn là về “chuyên chính vô sản” và nhu cầu cần phải diệt bỏ mọi bất đồng chính kiến​​ mà thôi.5351

Jean Lacouture

Từng là phóng viên cho tờ báo Pháp ngữ Le Monde, Jean Lacouture đã là một trong những tên bênh vực Bắc cộng trong thời chiến tranh và thường xuyên đứng ra thuyết trình cho các đám chủ hòa Mỹ nào mà tới Ba-lê, đã tuyên bố mình quá ư là xấu hổ “vì đã góp phần vào việc cài đặt một trong những chế độ đàn áp nhất trong lịch sử loài người mà đã được biết đến”.  Y thú nhận đã từng là một phương tiện truyền thông làm “trung gian cho một chính sách tuyên truyền gian dối và tội lổi, từng là phát ngôn vô tư ngây thơ cho một chế độ trên danh nghĩa của tự do. … Tôi đã che dấu cái  … hệ thống Sì-ta-li-nít mà tôi đã nhận biết ra rất rõ”.  5352  Lacouture ước tính là đã có đến ba hoặc bốn triệu cư dân thành phố bị buộc phải đi về những “vùng kinh tế mới”, mà y đã mô tả như là “một địa ngục tiền chế sẳn”. 5353

Michael Medved

Từng là một kẻ hoạt động phản chiến, Michael Medved sau này đã viết:

Với các sự kiện đã diễn ra, và khi các báo cáo về khổ đau và tắm máu, ngày càng trở thành qúa ư là khó khăn để mà có thể chối bỏ, thì tôi nghỉ là tất cả bọn chúng tôi, những kẻ mà đã từng tham gia vào phong trào phản chiến thì nay phải có cái nghĩa vụ về đạo đức, là thừa nhận chúng tôi đã cực kỳ sai lầm về tương lai hậu chiến của vùng Đông Nam Á và luôn cả về bản chất thật sự của bọn Cộng sản Việt Nam và Campuchia.  5354

Joseph Farah

Dù từng đã bị bắt giữ vì biểu tình phản chiến tại Washington, Joe Farah vẫn trở thành một văn sĩ và chủ bút tờ Los Angeles Daily News, đã có viết để đứng tên dùm cho Rush Limbaugh và làm tổng biên tập cho tờ Sacramento Union, cũng như đã từng có thuê ngay chính tác giả để giữ một chuyên mục chính trị, trước khi đứng ra thành lập Worldnetdaily,  một trang ‘web’ về tin tức có khuynh hướng bảo thủ.

Susan Sontag

Sau này thì Susan Sontag đã xỏ xiên tại sao phe tả Mỹ đã từng không hề chịu mạnh mẽ chỉ trích các chế độ đàn áp cộng sản, những “chủ nghĩa phát xít mang mặt nạ người”.   Các quan điểm của Susan Sontag về vụ 11/9 trên tờ The New Yorker vào ngày 24 tháng 9 năm 2001 đã tựu chung như sau đây:

Đã không hề có một sự thừa nhận đây không là  một cuộc tấn công ‘hèn nhát’ vào “nền văn minh” hay vào “tự do” hay vào “nhân loại” hay cả vào “thế giới tự do”, nhưng chỉ là một cuộc tấn công vào một siêu cường tự xưng của thế giới, đã được thi hành như là một hệ quả của các liên minh và hành động cụ thể của Mỹ quốc?

Bọn Chơi Trò Chính Trị

George McGovern

George McGovern đã từng tuyên bố với James Webb trong năm 1995, “Tôi quả thật không muốn mình sẽ thắng trận”.  5355

Staughton Lynd

Ngay Lynd thì nay cũng nhìn nhận là quyển sách  The Other Side từng viết chung với Tom Hayden quả là “một cuốn sách tồi”, nhưng như Todd Gitlen có lưu ý, Lynd “hoàn toàn không đề cập đến các mối nghi ngờ của mình trong sách đó”. Khi Hà Nội phổ biến cho báo chí nội dung các nhận xét mà Lynd từng đã trình bày trước một cử tọa về văn hóa thì chúng liền được đăng trên tờ New York Times. Nhưng sau này thì Lynd có thú nhận là việc đó đã “để lại một hương vị đắng cay trong miệng của tôi”. 5356

James Bevel

James Bevel, mà nay vẫn còn là một mục sư Thiên chúa giáo, đã từng cộng tác tích cực với các nhà thờ của người da đen hầu phổ biên một thông điệp bảo thủ nhằm chống lại “Chủ thuyết Cộng sản Vô thần” . 5357 Năm 1980 thì Bevel có đi vận động cho Ronald Reagan và vào năm 1984 thì ông có ra ứng cử để dành ghế đại biểu đảng Cộng Hòa hầu ứng cử sau đó vào chức dân biểu Hạ viện nhưng đã thất bại. Bevel cũng tham gia National Day of Atonement / Million Man March movement (phong trào Ngày Toàn Quốc Chuộc Tội / Cuộc Diễn Hành Triệu Người) của Louis Farrakhan nhằm khuyến khích đàn ông da đen Mỹ trở nên người chồng tốt, người con trai tốt, người cha tốt. Ông cũng cộng tác chung với Lyndon LaRouche. Ông đã cùng Ramsey Clark phản đối cuộc chiến tranh vùng Vịnh và đã tiếp tục hỗ trợ những kẻ chống đối phải phục vụ trong quân đội vì lý do lương tâm. Nhân lần bị hỏi dồn về các hội đoàn hữu phải, “Bevel chủ trương vì chủ thuyết cộng sản là một triết lý vô thần, nên với tư cách là một người theo Thiên chúa giáo, mình phải có nghĩa vụ để chống lại nó”.  5358

Joan Baez

Năm 1979, Fonda và Hayden đã hèn hạ tấn công Joan Baez và những người nào đã lên tiếng phản đối chính sách hậu chiến tàn bạo của Bắc cộng. Joan Baez đã tiết lộ nguyên nhân thực sự về người chết cùng bị thương ở Quảng Trị vào năm 1974  là vì do chính Bắc Việt đã cố tình sử dụng người dân, bắt họ đi gở các bãi mìn. Nhưng Jane thì lại sẽ phủ nhận nó mà tố cáo luôn cả Baez. Sự kiện này đã từng được nêu ra trong sách này rồi.

John McAuliff

Tên này thì đã cống hiến trọn đời để giúp Hà Nội tiếp nhận lể vật và tiền của từ Mỹ. Năm 1990, chính y đã đi đe dọa và cô lập các vũ công Campuchia  đang tìm cách xin tỵ nạn nhân một chuyến đi lưu diễn tại Mỹ. 5359 Y đã là một khách thường xuyênở Trung Tâm National Archives (Văn Khố Quốc gia), 5360 có lẽ chỉ để lục lọi hồ sơ mà thôi.

Cora Weiss

Khi Bắc Việt được nhận vào Liên Hiệp Quốc thì Cora Weiss bèn tổ chức một bữa tiệc liên hoan mừng chiến thắng. 5361 Weiss đã từng hỗ trợ cái phong trào đòi hỏi ngưng sản xuất vũ khí hạch tâm do Liên Xô hậu thuẫn để tổ chức một cuộc biểu tình lớn trong năm 1982 đòi giải trừ binh bị tại thành phố New York. Trong khi đó thì chính y thị lại đã lên tiếng chỉ trích các nhà bất đồng chính kiến ​​đangbị cầm tù của Liên Xô vì họ cũng đã chỉ phản đối chương trình vũ khí hạch tâm của Liên Xô mà thôi. Weiss đã cộng tác chặt chẽ với Riverside Church, National Council of Churches (NCC) 5362  và World Council of Churches (WCC) để ủng hộ cho việc giải trừ binh bị ở khắp mọi nơi, nhưng ngoại trừ cho các bọn Mác-xít đang làm cách mạng. Y thị Weiss vẫn còn là một tay yểm trợ tài chính chính yếu cho Institute for Policy Studies (Viện nghiên cứu về Chính sách).

Về Iraq thì Weiss cũng từng tuyên bố là al-Qaeda không hề dính líu gì ở đó cả. Weiss đã lãnh đạo hệ thống The Peace Action Network (PAN) mà chi nhánh là hệ thống Student Peace Action Network (SPAN) đã chống đối vụ xâm lấn tại Iraq. 5363

Cora Weiss đã có được đề cử giải Nobel Hòa bình vào tháng 6 năm 2005, có nhận được giải thưởng William Sloane Coffin cho Hòa bình và Công lý của trường Yale Divinity School, tháng 10 năm 2003, huy chương Peace Studies Medal của trường Manhattan College, giải thưởng George F. Kennan của nhóm New Jersey Peace Action, giải thưởng Golden Dove for Peace (Colombe d’Oro per la Pace) từ Viện Institute for International Research, Archivio Disarmo (Nghiên cứu Quốc tế ~ Archivio Disarmo), Rome, Ý-đại-lợi dành cho công trình xây dựng hòa bình và nhân quyền.

Eugene Genovese

Sử gia Mác-xít Eugene Genovese đã có kết luận là rất nhiều tên cấp tiến Mỹ đã là “bọn đồng lõa trong việc tàn sát tập thể” 5364  ở Đông Dương.

Todd Gitlen

Từng là một nhà lãnh tụ ban đầu của SDS, Gitlen sau đã trở thành một giáo sư sử và tác giả của Sixties (Thập niên Sáu mươi) để đánh bóng phong trào này, nhưng rồi y đã ngày càng chỉ trích các sai lầm về chiến thuật của chính phong trào. “Khi đề tài chiến tranh đã trở nên ít được để ý đến thì phong trào phản chiến cũng vậy thôi. Người ta đã nhìn phong trào phản chiến như chỉ là một đám non dại muốn làm cách mạng từng chủ trương phải cần phá bỏ toàn bộ nền trật tự và triển vọng của nước Mỹ”.  5365

David Ifshin

David Ifshin, tay Chủ tịch National Students Association từng cầm bản People’s Peace Treaty (Hiệp ước Hòa bình của Nhân Dân) đi Hà Nội thì rồi cũng đã hối tiếc cho “mong ước được tin” của mình về điều bọn MTGPQG Việt cộng cho  biết là chúng sẵn sàng thành lập một chính phủ liên hiệp. Y cũng hối hận là “các định kiến ​​… các cảm tình  và cảm xúc” đã từng khiến mình tin các thương vong dân sự nhìn thấy ở Bắc Việt Nam quả chứng minh được cho các “tội ác chiến tranh”. Ifshin cũng thố lộ nổi “bối rối và xấu hổ” của mình sau đó về vụ lên tiếng trên Đài phát thanh Hà Nội. Và điều chính yếu nhất là y thừa nhận đã “cố tình không lưu ý” đến việc sau này Việt Cộng đã bắt giam, tra tấn và có một chính sách tàn ác bần tiện trên toàn quốc sau năm 1975. Sự tàn tệ này đã đến mức độ là “một điều cực ác mà không thể nào còn có thể được phóng đại hơn được nữa”.  5366  Ifshin cũng đã trở thành bạn của John McCain.

Eldridge Cleaver

Sáng lập viên của tổ chức Black Panther ~ Báo Đen là Eldridge Cleaver đã trốn đi Cu-ba rồi sống trong bảy năm trời ở Algeria, Bắc Hàn, Trung Quốc và Liên Xô trước khi cuối cùng định cư tại Pháp. Năm 1975 Eldridge Cleaver bèn về nước và tuyên bố, “Cường quyền cặn bã (pig power) ở Mỹ thì gây phẩn nộ, nhưng cường quyền cặn bã trong thế giới cộng sản thì lại thật là kinh khủng và không hề bị ai tố cáo cả”. 5367  Sau khi chịu rữa tội thành người Thiên Chúa giáo thì Cleaver đã lên án chủ nghĩa cộng sản. Ông đã ghi nhận, “chỉ một số ít người đã bị giết … về các quyền công dân … bắt đầu với phán quyết về quyền công dân của Tối Cao Pháp Viện vào năm 1954. Đó đã quả là một quá trình rất ư là ít có máu phải đổ ra”. 5368

Về vấn đề tổ chức Black Panthers của y đã là một mối hiểm nguy cho  luật pháp và trật tự quốc gia thì Cleaver có nói với tạp chí Reason,

“J. Edgar Hoover … đã không thật sự đúng lắm. Chúng tôi đã là tổ chức người da đen dấn thân nhất, … Ông ta thì lại cho chúng tôi là mối đe dọa chính. Chúng tôi quả có cố gắng để được mang tiếng là cái mối đe dọa chính đó thôi …

J. Edgar Hoover đúng đã là một kẻ địch nhưng ông ta quả đã có thiện chí tốt. Chúng tôi đã … thật sự cộng tác sát cánh với các đảng cộng sản ở đây và trên khắp thế giới, và ông ta cũng dư biết điều đó. Vì vậy, trong cương vị của mình, thì dĩ nhiên ông ta đã phải cố gắng để ngăn chặn chúng tôi mà thôi”. 5369

Cleaver cho tờ Reason Magazine biết, “Tôi nghĩ là ý tưởng ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản là một lý do cao quý. … “. 5370  Vào ngày 17 tháng 9 năm 1980 thì Eldridge Cleaver đã quyết định ủng hộ Ronald Reagan tranh chức Tổng thống, và đã qua đời đúng với tư cách một giáo hữu Mormon và một đảng viên đảng Cộng Hòa.

Jerry McNerney

Năm 2006, tay sinh viên vỏ bị từng bỏ ngang không học nữa tại quân trường West Point là Jerry McNerney đã ra ứng cử chức dân biểu với chủ trương  là kẻ ái quốc phản cjiến và đã đánh bại vị dân biểu của cả ba nhiệm kỳ trước là Richard Pombo. Các màn quảng cáo truyền hình của McNerney nhắn gởi tới các cựu chiến binh đã không hề đề cập gì tới việc y đã bỏ ngang học ở West Point, cũng như cũng lặng im luôn về đám ủng hộ phản chiến “cấp tiến” của y. Mọi tài liệu ứng cử của y không hề đề cập đến cái lý do duy nhất từng được y công bố vì sao đã bỏ West Point chính là để phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. McNerney đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật hèn nhát rút quân của tay dân biểu Murtha, “Chúng ta cần phải có một chương trình công khai, một thời khóa biểu, để rút ra khỏi Iraq …”.

Louis Font

Louis Font, cũng một tên bỏ ngang ra khỏi trường võ bị West Point, đã từng từ chối đi phục vụ tại Việt Nam, đã trở thành một kẻ phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam vì lý do lương tâm mà đã thành chuyên viên về  quân luật, đã từng đứng ra biện hộ cho Trung sỹ Tham Mưu Camilo Mejia, một tên đào ngũ trong cuộc chiến tại Iraq.

Michael Ansara

Michael Ansara, tên từng lãnh đạo một đám đông biểu tình chống Robert McNamara tại Harvard thì sẽ trở thành tay giám đốc cho tổ chức Indochina Peace Campaign (IPC từ 1972 đền 1975) của Hayden-Fonda và cũng làm  hướng dẫn viên của chúng ở New England vào năm 1979. Đến năm 1997, Ansara và hai đồng bọn đã nhận tội từng đi quyên 885.000 đô bất hợp pháp theo kiểu lệ phí nghiệp đoàn hầu giúp tái bầu cho tay “cấp tiến” Ron Carey, Chủ tịch của Nghiệp đoàn Teamsters Union.

Clark Kissinger

Clark Kissinger, tên lãnh tụ của SDS, đã từng phục vụ trong Revolutionary Communist Party USA (Đảng Cách Mạng CS Mỹ) và trong Not In Our Name ~ NION (Không nhân danh Chúng Ta), một nhóm phản chiến.

“Tôi nghĩ là sự thất bại to lớn nhất mà chúng tôi đã phạm phải trong thời gian đó là đã không  gửi được một đội ngũ đến Bắc Việt Nam để chiến đấu ở bên cạnh họ. Chẳng hạn như là điều khiển các ụ súng phòng không chung quanh Hà Nội. “

“Tôi cảm thấy điều cực kỳ quan trọng cho phong trào là phải có một chủ trương phản động hơn nhiều nữa. Tôi đã chỉ muốn đẩy mạnh cuộc đấu tranh về mặt chính trị”.  5371

Jon Voight

Sau chiến tranh, tên diễn viên và dấn thân Jon Voight không chỉ đóng trong  trong bộ phim của Fonda tên là “Coming Home”, mà lại còn ủng hộ Hayden ra ứng cử Thượng viện Mỹ trong nhiệm kỳ 1975-76, đã từng gởi con cái đến trại Laural Springs có khuynh hướng cấp tiến của Hayden-Fonda, đã đi tài trợ cho phong trào Campaign for Economic Democracy (Vận động cho một nền Kinh tế Dân chủ), đã lại còn chỉ trích Thượng viện tiểu bang California khi họ từ chối bổ nhiệm Fonda vào California Arts Commission (Ủy ban Nghệ thuật California) và cũng như đã ủng hộ Hayden ứng cử vào Hạ viện Tiểu bang trong năm 1982.

Ấy vậy, tới thập niên 2000 thì Jon Voight mới chịu nhìn nhận là đã từng có việc uốn nắn “rất, rất là kinh khủng” đầu óc và cách suy  tư của giới trẻ và cái “chính sách tuyên truyền Mác-xít của cái gọi là phong trào chủ hòa”.

Vivian Rothstein

Vivian Rothstein, một mụ tà lọt từng bám theo đít Hayden tại Hà Nội, đã gặp mụ  Trung Mỹ Hòa trong những năm đầu chín mươi , kẻ tự mô tả từng bị “bỏ vào cái Chuồng Cọp (một cái hang hình chữ nhật đào sâu trong đất với lưới thép làm trần)” cùng với năm phụ nữ khác mà đã “sống sót qua ngày được trong hoàn cảnh như loài thú hoang .. Chúng đổ thuốc tẩy áo quần  xuống chúng tôi  … (làm) … da người chúng tôi khô héo và đóng vảy”. Đó cũng chính là nơi y thị đã gặp được vị dân biểu Harkin mà đã ” tiết lộ sự việc của các Chuồng Cọp … “. 5372

Julius Lester

Tay dấn thân da đen Lester đã từng nói với James Clinton vào năm 1991 là  Việt cộng “sẽ chiến đấu cho tới đứa con cuối cùng còn lại của họ … Mỹ đã chỉ đi tuyên truyền và đầu độc … Hoa Kỳ đã không bao giờ ý thức được rỏ ràng là mình phải gì”.

Bill Zimmerman

Bill Zimmerman từng làm cho IPC và Medical Aid for Indochina rồi sẽ trở thành tay cố vấn về chính trị và về báo chí truyền tin cho Tom Hayden cùng với các sáng kiến ​​nhằm chống lại giới công ty tư bản. Zimmerman đã làm việc trong các cuộc vận động nào là bầu Harold Washington làm Thị trưởng Chicago, nào là cho phép y sĩ giúp tự tử, nào là hợp pháp hóa cần sa và đám MoveON.org. 5373

Bọn The Weathermen

Đám Weathermen Underground Bất Hợp Pháo và Chìm

Một số sẽ vẫn đào tẩu mãi cho tới đầu những năm 1980.  5374  Các thành viên của tổ chức Weather Underground đã vẫn không bị bắt trong vòng từ 7 cho đến 11 năm, không những nhờ gia đình, bạn bè, các nhà chứa an toàn của bọn cánh tả và thành công qua mặt được tình báo Mỹ, mà cũng nhờ sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan tình báo Cu-ba, Đông Đức và Bắc Hàn mà cũng chỉ là đầy tớ của  KGB Liên Xô mà thôi.

Cuối cùng rồi thì đám lãnh tụ hàng đầu của Weather Underground cũng đã phải bỏ dở các kế hoặch mưu tính và đành chịu thua hay vì  bị bắt giữ về sau này.

Tới năm 1975 thì Leonard Handelsman đã bị bắt nhờ các tang vật tìm thấy được trong một ngôi nhà mà Patty Hearst và Wendy Nishamuri đã từng cư ngụ; Mark Rudd từng nổi tiếng tại Đại học Columbia, kẻ đã trốn đi sống chìm bất hợp pháp thì lại là kẻ sớm tình nguyện đầu thú lộ diện vào năm 1977. Y đã đầu hàng vào năm 1977, bị tuyên phạt 2.000 đô Mỹ cộng hai năm quản chế và nay thì đang giảng dạy tại một trường cao đẳng ở New Mexico.

Bị chận bắt ở Houston vào ngày 19 tháng 11 năm 1977 vì đang mưu đồ ám sát  Thượng nghị sĩ John Briggs tiểu bang California, bọn thành viên Weather là Judith Bissell, Leslie Mullin, Thomas Justesen, Mark Perry và Clayton van Lydegraf đều chỉ bị tuyên án chiếu theo những tội phạm nhẹ hơn. 5375

Cathy Wilkerson mà đã bỏ trốn sống ngoài vòng pháp luật từ khi thoát khỏi được vụ nhà cháy vào tháng 3 năm 1970 thì đã ra đầu thú vào năm 1980 dể nhận lãnh một bản án tù ba năm vì tội tàng trữ thuốc nổ.

Sau nhiều năm lẩn trốn, có cả đặt bom cho nổ nhưng bất thành cũng như là  cướp vũ trang, Bernardine Dohrn và Bill Ayers cuối cùng ra đầu thú ở Chicago vào tháng 11 năm 1980.

Jeff Jones và vợ thì đã bị chận bắt vào cuối tháng giêng năm 1981.

Các vụ cướp của và giết người của hãng Brinks, Tháng Mười 1981

Một số thành viên chìm Weathermen đã nhập bọn với tụi Liberation Army ~ Quân Đội Giải Phóng (con đẻ của Black Panthers) để đi cướp cả hàng loạt. Kathy Boudin thì đã bị bắt vào năm 1981 trong một vụ cướp 1.600.000 đô có dùng vũ khí để tấn công một xe bọc sắt Brinks tại một chi nhánh của Nanuet National Bank  ở Nanuet, Rockland County, New York vào ngày 20 tháng 10 năm 1981. Đám SLA / WUO đã lái xe xuống đường số 59 hướng về phía Nyack nơi chúng đã gặp nút chận ở lối vào của New York State Thruway (Xuyên Cao Tốc Tiểu Bang Nữu Ước).

Chui Ferguson và Sam “Solomon Bouines” Brown đã bắn chết hai sĩ quan cảnh sát và bắn bị thương một người khác ở Nyack. Nhân viên an ninh của Brinks là  Peter Paige và hai sĩ quan cảnh sát Nyack là Waverly Brown và Trung sĩ Edward O’Grady đã bị thiệt mạng.

Một sĩ quan cải huấn đã vật bắt được Boudin khi y đang cố chạy trốn. Cùng bị bắt chung với Boudin thì đã có Dave Gilbert và Judith Clark Boudin, 5376  kẻsẽ bị kết án và đã thụ hình được hai mươi hai năm của một bản án tù chung thân  trước khi được phóng thích với điều kiện. David Gilbert, cha của con trai của Boudin Chesa, và thành viên Weatherman Judy Clark đã hợp tác đi đánh cướp công ty Brinks. Dấu tay của Gilbert đã cho thấy y cũng liên quan đến thêm ba vụ đánh cướp xe bọc sắt khác. Còn Clark, con gái của một tên cộng sản gốc Do Thái là  Joseph Clark, đã từng học tại cái trại huấn luyện về khủng bố và chống Do Thái của Tổ chức PLO (Giải Phóng Palestine)  ở Lebanon do Liên Xô tài trợ trước khi tham gia vào các vụ cướp của và giết người của hãng Brinks.

Những thành viên Weathermen bị tình nghi từng dự các vụ cướp của và giết người của hãng Brinks đã là Jeffrey Jones và Eleanor Stein Raskin 5377  và rất có thể cả Bernardine Dohrn (cũng có tên là Lydia Adams, Elizabeth Hartwell). Dohrn đã là quản lý viên của Broadway Baby mà thẻ lý lịch khách hàng đã bị giả mạo để sử dụng thuê xe hơi đi đánh cướp hãng Brinks.

Bernardine Dohrn

Bernardine Dohrn, trước đây từng nằm trong danh sách Ten Most Wanted ~ Mười Kẻ Cần Bắt Nhất của FBI, đã là một luật sư thuộc Luật Sư đoàn New York và cũng đã một giáo sư phụ giảng cũng như là giám đốc Northwestern University’s Children and Justice Center (Trung tâm Nhi đồng và Công lý thuộc Đại học Northwestern). Ron Chepesiuk đã có phỏng vấn Bernardine Dohrn.

Ron Chepesiuk: Ông đã có đi đến kết luận rằng bạo lực chính là con đường để phải theo?

Bernardine Dohrn:  … Tôi chưa bao giờ nghĩ bạo lực như là một điều tốt theo ý nghĩa về chiến lược. … Tôi đã khám phá ra được là sự kết hợp về chiến đấu và … hành động trực tiếp … thì rất là hấp dẫn … việc bọn cấp tiến sa-lông cứ tuyên bố nào là theo gương Mao, Castro và Hồ Chí Minh nhưng lại không sẵn sàng hành động theo đúng niềm tin của chúng thì đã không chính đáng mà thậm chí lại còn có tính cách phá hoại. …  cả 200 người Mỹ và có thể là cả ngàn người Đông Dương … đã bị giết mỗi tuần tại Việt Nam … việc dấn thân chiến đấu vẫn chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi. Chúng tôi gọi đó là “propaganda of the deed ~ tuyên truyền bằng hành động”.  5378

Linda Evans

Đúng ngày cuối cùng của nhiệm kỳ thì Tổng thống Clinton đã ký ân xá Susan Rosenberg cho vụ cướp Brinks và Linda Sue Evans cho vụ đặt bom nổ tại Điện Capitol. 5379  Evans đã từng bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 1985 cùng với 740 ký thuốc nổ. Y thị bị kết tội và bị kết án 40 năm tù về các mưu đồ khủng bố và hành động ở Điện Capitol, National War College (Viện Cao đẳng Quốc giavề chiến tranh), Navy Yard Computer Center (Trung tâm Điện toán Công xưởng Hải quân), Navy Yard Officers Club (Câu lạc bộ Sĩ quan Công xưởng Hải quân), công ty Israel Aircraft Industries, FBI và New York Patrolman’s Benevolent Association (Hiệp hội Thiện nguyện của các Cảnh sát Tuần tra New York). 5380

Năm 1993 Linda Evans lại sẽ xuất hiện đấy nước mắt trong một phim của Robert Kramer là “Starting Place” với cái đề tài là nhân dân đầy lãng mạn tính tại Việt Nam nay đang sinh sống thật là an nhàn sau khi được giải phóng. 5381

Bill Ayers

Nguyên là thành viên khủng bố của Tổ chức Weather Underground và chồng của Dohrn, Bill Ayers đã từng khoe khoang chính mình đã đặt bom trụ sở cảnh sát thành phố New York vào năm 1970, điện Capitol vào năm 1971 và Ngũ-giác-đài vào năm 1972 và cũng có tuyên bố: “Tôi không hề hối hận về các vụ đặt bom. Tôi nay vẫn cảm thấy là chúng tôi đã không làm đủ như đã cần phải làm”.. 5382  Ayers đã trở thành một tên chủ trương phải cải tổ các trường học, một giáo sư về thể dục tại Đại học Illinois ở Chicago và là thành viên của bọn dân Chicago cấp tiến.

Ayers, Dohrn và Barak Obama

Barak Obama, với tư cách là một nhà tổ chức cộng đồng, đã từng đứng ra tổ chức  tại nhà của Ayer và có mời Dohrn, Tiến sĩ Quinton Young và Thượng nghị sĩ tiểu bang Illinois là Alice Palmer để họp bàn chuẩn bị trang cử để đưa người kế tiếp Palmer tại Thượng viện. 5383  Ayers đã từng bổ nhiệm Obama quản lý 100 triệu đô Mỹ của quỹ Annenberg nhằm cải tổ hệ thống các trường công lập Chicago. Nhưng Obama thì lại tuyên bố là chỉ có quen sơ sơ Ayers mà thôi.

Naomi Jaffe

Jaffee, kẻ từng la lớn đã bắn rớt được một phi cơ Mỹ ở Bắc Việt, đã là một giám đốc điều hành của một hiệp hội nhằm hỗ trợ cho phong trào dấn thân của phụ nữ.  5384

John Jacobs

John Jacobs, tác giả chính của bản tuyên ngôn của tổ chức Weatherman, đã sống chui nhủi trốn lánh suốt hai mươi bảy năm trời và cuối cùng chết vì ung thư trong năm 1997. Y đã quả đúng là “thành viên đầu tiên mà cũng là cuối cùng của đám Weatherman”.  5385

Larry Grathwohl

Từng là mật báo viên của FBI, Larry Grathwohl có xuất hiện vào cuối năm 2008 trong cuộc tuyển cử Tổng Thống để mô tả lại các thành tích về khủng bố của Bill Ayers và Bernardine Dohrn.

Đám Việt Cộng

Thành Phố Hồ Chí Minh

Sau khi cưởng chiếm đượcmiền Nam thì bọn Việt cộng đã đổi tên thành phố Sài Gòn qua Thành phố Hồ Chí Minh. Mãi đến cuối tháng 9 năm 2007, Randy Keck, phóng viên về du lịch đã có viết kể lại, “Trong suốt thời gian ở Sài Gòn thì tôi đã không bao giờ nghe nó được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh bởi người địa phương cả. 5386  Còn trong suốt chuyến đi của tác giả trong tháng 3 năm 2008, thì tất cả mọi người cũng chỉ gọi thành phố là Sài Gòn mà thôi.

Phạm Xuân Ẩn

Vào thời kỳ cuối của cuộc chiến Việt Nam thì Phạm Xuân Ẩn đã được nâng lên chức phóng viên văn phòng kiêm trưởng chi nhánh của tạp chí Time. Sau chiến tranh, Hà Nội bèn tuyên dương Phạm Xuân Ẩn là một anh hùng của Quân đội Nhân dân, khác xa với giải thưởng Pulitzer về báo chí, nhờ đã thi hành các công tác quân sự về thu thập tin tình báo chiến lược và phổ biến tin phản tuyên truyền về Việt Nam cho đám phóng viên Mỹ non trẻ và / hoặc cả tin như là Robert Shaplen, Stanley Karnow, Frank McCulloch, David Halberstam, Henry Kamm, Frances “Frankie” Fitzgerald, Robert Sam Anson và Neil Sheehan.

Nhờ công tác tình báo chiến lược của mình, tay Ẩn đã được thưởng 16 huy chương,5387 trong đó có bốn Chiến công Giải phóng, sáu huy chương Bộ đội Thi đua và được thăng chức Tướng trong Quân đội Nhân dân. Hành vi dối trá và lừa dối của y rất có thể đã gây ra cái chết cho cả hàng ngàn sinh mệnh Mỹ, theo quan điểm của người bạn học cũ của y là Ross Johnson và phóng viên tờ Time là Zalin Grant, dường như không đã hề làm chút bận tâm bọn phóng viên mà đã từng đề cao y như là một tay bạn hữu ích. Grant nói là An đã “chỉ đóng kịch làm một nhà báo trong khi góp tay trong việc giết người Mỹ mà thôi”.

Hầu hết các phóng viên đều đề cao cá tính nhân bản của con người tên Ẩn, giống như FDR đã từng thích tay “Good Old Joe ~Tay Bạn Gìa Tốt” Sì-ta-lin. Adolf Hitler cũng đã từng mê hoặc Neville Chamberlain và nhiều người khác, cũng như y vẫn rất tốt với chó và trẻ em. Ác quỷ vẫn thường mang bộ mặt khá quyến rũ. Grant công nhận là tên Ẩn “nguyên là một bậc thầy trong việc giúp ghi tên binh sĩ Mỹ lên trên bức tường The Wall mà vẫn chinh phục được lòng ngưỡng mộ của ngay những người Mỹ”.

Giống như Hồ Chí Minh, Ẩn tự xưng là ái quốc nhưng y đã phải đi học tập cải tạo sau chiến tranh cũng như không hề được phép tiếp các du khách Mỹ trong cả chín năm trời và không bao giờ được phép xuất ngoại cả. Phạm Xuân Ẩn từng nổi tiếng là có dám tuyên bố với Morley Safer, “Tất cả những mẫu chuyện nào là về “giải phóng” hai mươi, ba mươi năm trước đây, tất cả mọi âm mưu, bao nhiêu là người chết, đã chỉ đưa đến cái này, cái đất nước nghèo đói nát tan này mà đang bị cai trị bởi một băng đảng của một đám bạo tàn và gia trưởng lý thuyết gia thất học nữa mùa”.

Trên thực tế thì tên Phạm Xuân Ẩn đã từng lên tiếng phủ nhận là đã không hề có chính sách tàn ác gì cả và chỉ duy nhất đổ lỗi cho bọn Cộng sản là ngu dốt mà thôi. Thomas Bass thì chỉ nói sơ qua về việc Ẩn đã công nhận một cuốn sách là “cực kỳ quan yếu, một cuốn sách trung thực đúng nghĩa”, cái quyển của Gerard Tongas ‘I have lived in the Communist Hell of North Vietnam, and I have Chosen Liberty ~ Tôi từng sống trong địa ngục Cộng sản Bắc Việt và tôi đã quyết định chọn Tự do’. 5388 Tên gián điệp bậc thầy về lừa dối, từng được thăng chức lên tới Tướng, đã không hề có thú nhận như vậy với tay viết tiểu sử cho y là Larry Berman với quyển The Perfect Spy ~ GiánĐiệp Tuyệt Hảo. 5389 Nói chung thì Ẩn đã câm miệng không dám công khai chỉ trích chế độ Cộng sản đối với hầu hết đám Mỹ đang ngưỡng mộ y. 5390  Vàcái loạitruyền thống kiểu gia đình này thì cứ vẫn tiếp tục như vậy thôi.

Con trai của Ẩn tên là Phạm Xuân Hoàng An, kẻ từng được tài trợ đi học đại học tại North Carolina và Duke nhờ tiền đóng góp của cái đám nhà báo ái mộ Mỹ thì nay là một viên chức Việt Cộng cấp cao mà đã từng được bắt tay Tổng thống George W. Bush tại Hà Nội vào năm 2006 và có đi cùng với Chủ tịch Nhà Nước Việt cộng tới Washington vào năm 2007.

Hà Văn Lâu

Nguyên từng là một tên Đại tá, Hà Văn Lâu, tay bạn thơ từ ngoại quốc của Hayden đã trở thành một Phó Bộ trưởng Ngoại giao sau thời chiến tranh.

Vũ Văn Thái, tên chụp phóng ảnh tài liệu Pentagon Papers để phổ biến về Hà-nội. 

Nguyên là một cựu đại sứ Nam Việt Nam tại Mỹ và cũng là một đồng lõa trong vụ tài liệu Pentagon Papers, từ ngày 5 đến 8 tháng 10 năm 2004, Vũ Văn Thái đã đại diện Bộ Công nghiệp Việt Nam để phúc trình với bản “Báo cáo của Quốc gia Việt Nam” tại Manila và ở IEA tại Ba-lê thì từ ngày 1đến 5 tháng 9 năm 2003. Y đã được xác định là Phó Tổng Giám đốc của Bộ Công nghiệp và lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam và cũng là một thành phần trong nhóm chuyên gia APEC về Dữ liệu Năng lượng và phân tích trong các ngày 12 và 13 tháng 3 năm 2003 tại Hà Nội mà đã bị xác định là Phó Giám đốc Cục Hợp tác Quốc tế Bộ Công nghiệp, Hà Nội, Việt Nam.

Nay thì ta có thể minh định được tên Thái này đã là một gián điệp được cấy vào  chính phủ miền Nam Việt Nam trước khi ra tay giúp chụp các phóng ảnh để phân phối về tài liệu Pentagon Papers.

Đoàn Văn Toại và một số khác, với Tâm Tư Chuyển Ngược Lại

Sau “giải phóng”, Đoàn Văn Toại, nguyên phó chủ tịch của Liên minh Sinh viên Sài Gòn, cũng đã cùng bị tống như cả hàng trăm ngàn người khác vô trong các trại “cải tạo”. Sau khi được thả ra, ông xuất ngoại đi Pháp và có viết: “800.000  công dân Nam Việt Nam, mà phân nửa … hoàn toàn không dính líu gì với chế độ cũ, đã [bị đày vô] các nhà tù và trại cải tạo”. Nay thì ông ta mới thú nhận, “chế độ nhà tù dưới chế độ mới” đã “cực kỳ tồi tệ hơn dưới Thiệu nhiều”. 5391  Một người châu Âu tại Hà Nội có nói với tờ Newsweek, “Để bên cạnh Bộ Chính trị của Việt Nam thì đám ‘Tứ Nhân Bang’ của Trung cộng cũng chỉ như là bọn thiếu nhi hướng đạo viên mà thôi. Một ngày nào tới đây thì một thế hệ lãnh đạo mới rồi sẽ tố cáo chúng đã từng biến đất nước này thành cả một trại tù ‘gulag’ khổng lồ thôi”. 5392

Ngoài Đoàn Văn Toại, Bill Laurie cũng có nêu tên những kẻ từng đã thay nguợc suy tư sau khi cộng sản chiến thắng, như là Dương Thu Hương, linh mục Chân Tín, Hoàng Minh Chính, Phan Khôi, Trương Như Tảng, Hoàng Cầm, Nguyễn Công Hoan và Dương Quỳnh Hoa. 5393

Kim Phúc, Em Bé Gái Bị Trúng Bom ‘Napalm’

Kim Phúc, em bé gái từng bị bom ‘Napalm’ rồi chạy trần truồng dọc đường thì đã đi du học tại Cuba và kết hôn với đồng bạn học là Bùi Huy Toàn vào năm 1992. Sau đó cô và chồng đã được chấp thuận cho tỵ nạn chính trị tại Canada. Vì là  một người theo Thiên chúa giáo nên cô đã tha thứ cho những ai đã gây tổn thương cho mình và hiện đang phục vụ cho các nạn nhân dân sự vì chiến tranh khác với tổ chức Kim Foundation.

Thật không may, có lẽ vì trí nhớ nay quá yếu kém, vào ngày 11 tháng 9 năm 2009, Kim Phúc lại đã  tuyên bố tha thứ cho cái người Mỹ nào mà đã lên kế hoạch cho vụ không kích. Đã không hề có người Mỹ nào tham dự trong vụ đó, vì nó chỉ là hậu quả hành vi của một phi công Nam Việt thôi.

 Hannah Hà-nội

Sau chiến tranh, Hannah Hà Nội, cũng có tên là Thu Hương đã chuyển về sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1976 với chồng, nguyên là một sĩ quan trong quân đội Bắc cộng. Với tư cách là giọng nói tiếng Anh đầu tiên của Đài phát thanh Hà Nội, y thị đã phụ trách chương trình này từ năm 1965, sau khi Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ tại Đà Nẵng cho đến năm 1973. Cũng đã có nhiều Hannah Hà Nội khác, nhưng Thu Hương đã là Hannah cao cấp và thường xuyên được  nghe nhất . Cùng với Nguyễn Văn Tùng, y thị phụ trách viết để thu  âm ba bài bình luận mổi ngày hầu phát thanh đến các quân nhân Mỹ.

Võ Nguyên Giáp

Vào ngày 30 tháng tư năm 2004, dùtuổi đã 92 mà Võ Nguyên Giápvẫn cứ “nói tiếng Việt cùng tiếng Pháp … thoải mái và linh động suốt một buổi kéo dài đến hai tiếng đồng hồ, [đã] tay thì nắm lại dơ cao, ngón tay thì cứ quay quay, đùa giỡn, [và] cảm ơn đám Mỹ phản chiến thời Việt Nam …”. Và TTX Việt cộng thì loan tin “Nhờ tính cách sáng tạokhi áp dụng chính sách đấu tranh nhân dân, Việt Nam đãphát huy được việc đoàn kết dân tộc, đồng thời khuyến khích và sử dụng đầy đủ các hỗ trợ quốc tế” vào ngày 30 tháng 4 năm 2004.  5394

Hoàng Minh Chinh

Từng là Giám đốc Viện Mác-Lê-nin, Hoàng Minh Chínhđã bị quản thúc tạigia vì dám lên tiếng ủng hộ dân chủ.

Trần Độ

Tướng Trần Độ, mộtỦy viên Trung ương Đảng Cộng sản và người từng nhận Huân chương Hồ Chí Minh, cũng đã bị quản thúc tạigia chỉ vì chủ trương phải dân chủ hóa đất nước.  5395

Đại Tá Bùi Tín

Bùi Tín đã từng đứng ra chấp nhận sự đầu hàng của miền Nam Việt Nam vào năm 1975, nhưng sau đó đã đào thoát và đến định cư tại Pháp.

Đại Tá “Harry” Trần Ngọc Huề,

Người hùng chiến đấu bảo vệ Huế từng được truy thưởng huy chương Silver Star đã ở tù tới 13 năm và thêm 8 năm quản thúc tại gia trước khi đến được Mỹ để được nhập tịch vào năm 1997 và đã từng là một khách danh dự của đài tưởng niệm về Trận chiến Huế. 5396

Các Tín Đồ Phật Giáo:

Nay Thì Lại Đâm Ra Hối Tiếc Thời  Diệm và Thiệu

Chế độ mới của CS đãdẹp bỏ và tịch thu chùa chiền Phật giáovà luôncả  các di tích tôn giáo, rồi còn tống giam sưsãi và hạn chếviệc đi lại cũng như là rao giảng của họ. 5397  Thời chế độ Diệm, dùtừng bị mang tiếng một cách bất công thì số chùa Phật giáo đã tăng hơn gấp đôi từ 2.206 trong năm 1954 đến 4.776ngôi thực sự có sinh hoạt vào năm 1963. Chính phủ  Thiên chúa giáo của Diệm đã xây lên được 1.275ngôi chùa mới và phục hồi 1.295 ngôi chùa củ.  5398

Các nhà lãnh đạo chính của Phật giáo đều bị bắt giữ, kể cả cái tay cộng tác viên đồng lõa Thích Trí Quang và những người khác như Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Thích Thiện Minh, Thích Quảng Liên, Thích Thông Bửu, Thích Thông Huệ, Thích Thuyền Ân, Thích Thanh (?). Hình ảnh của Đức Phật và Chúa Giê-su đều bị tẩy xóa và thay thế bằng tượng bán thân của Hồ Chí Minh.  5399

Vào ngày 2 tháng 11 năm 1975, mười hai nam nữ tăng ni đã cùng tự thiêu tại chùa Dược Sư ở Phụng Hiệp, Cần Thơ. 5400 Một số nổi tiếng trong đó đã là Nguyễn Thị Thu, Hồ Tấn Anh và Thích Chân Hỷ.

Một dân biểu Quốc hội miền Nam Việt Nam, Nguyễn Công Hoan, một Phật tử thuần thành từng chỉ trích Thiệu, đã được yêu cầu tham gia một “quốc hội thống nhất” mới.  Nhưng sau đó thì lại bị tống vô trại cải tạo, nhưng đã trốn thoát được vào năm 1977 để đi định cư tại Pháp và đã có tuyên bố, “cái Quốc hội đó chỉ là bù nhìn, các thành viên … chỉ được quyền nói có … không bao giờ … dám nói không cả “. 5401  Ông ta nói với Newsweek:

Chút ít tự do dưới thời Thiệu thì nay cũng không còn nữa.

Bọn. . . công an chìm … thì tồi tệ hơn bất kỳ chế độ Việt Nam nào trước đó.

Hoàn toàn không hề có tự do đi lại hay lập hội; không hề có tự do báo chí, hay tôn giáo, hay tư doanh, hay thậm chí luôn cả cũng không được quyến có ý kiến ​​cá nhân riêng tư. . . Sợ hãi tràn lan khắp nước.  5402

Nguyễn Công Hoan đã nói với Bill Laurie, “Sai lầm chính yếu  của chúng tôi đã là vì nghĩ rằng bọn cộng sản cũng chỉ là người Việt Nam, cũng là những người như chính chúng tôi thôi. Chúng tôi đã quá ư sai lầm. Bọn chúng chỉ là hiện thân của ma quỷ mà thôi”. 5403

Thích Nhất Hạnh

Sau Hiệp định Paris, Thích Nhất Hạnh đã quyết định không trở lại Việt Nam, đã cố gắng để giúp đỡ các “thuyền nhân” và vẫn sống lưu vong ở phương Tây gần 40 năm, nơi ông đã viết 80 cuốn sách, có được một số tín đồ quốc tế lớn và có chỉ tríchchính sách đàn ápcủa cộng sản trên quê hương của mình. (!)  Cho tới ngày hôm nay, Việt cộng vẫn không chấp nhận tôn giáo, đã đặt ngoài vòng pháp luật Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), đã bắt giam các vị nhà lãnh đạo và thành lập một giáo hội nhà nước chính thức với tên gọi là  Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN).

Sokhom Hing

Một trong những nhà dấn thân hoạt động cho Campuchia nổi bật nhất trong phong trào phản chiến thì đã lở dại nghe lời thúc giục của Thiounn Prasith, tên đại diện Khmer Đỏ tại Liên Hiệp Quốc để trở về Campuchia. Từ đó thì Hing đã không bao giờ được nhìn thấy nữa. Sự kiện này đã cho thấy rỏ ràng anh ta đã là một nạn nhân của ngay bọn Khmer Đỏ, bọn mà anh đã từng đảm nhận vai trò đại diện trong phong trào chủ hòa tại Mỹ. 5404

Đỉ  Điếm và Trẻ Em Lao Động

Mãi cho tới năm 1989 thì Bắc cộng vẫn thừa nhận tình trạng không dẹp được gái mãi dâm, ngay cả sau 35 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào năm 2000 thì tệ trạng đỉ điếm và nô lệ lao động đã là hai trong số ít món hàng kinh tế xuất khẩu được của Cộng sản Việt Nam mà có thể tin cậy được.

 image004

Hình: Hình chụp lén về trẻ em lao động, ở một địa điểm giữa

Hà-nội và Hải-phòng, Tháng Ba 2008 (Roger Canfield).

Tù Chính Trị

Vào năm 1979thì đài BBCđã có loan tin là nước Việt Nam từng được đề cao là đã được giải phóng thì nay số tù chính trịlại nhiều hơn tại bất kỳmọi quốc gia nào khác trên thế giới.  5405

Các Nhóm PhảnChiến

Tổ chức Clergy and Laity Concerned

Peter Berger thuộc tổ chức Clergy and Laity Concerned About Vietnam sau cuộc chiến Việt Nam đã thú nhận,”Tôi đã sai và cũng như là đa số thành viên … của [phong trào] phản chiến. [Các] dân tộc Đông Dương từ năm 1975đã là nạn nhân của  khổ đaucòn tồi tệ hơn bất cứ những gì đã từng phải gánh chịu với Hoa Kỳ và đồng minh”. 5406

AFSC

Nhóm AFSC thì lại rất ư là tự hào về cuộc chiến tranh và vai trò hậu chiến của mình ở Đông Dương nhưng William Hawkins có lưu ý là họ đã không hề “đề cập đến cái chi tiết là nỗ lực này đã trùng hợp cùng với các chính sách độc tài tàn bạo đày tính cách Sì-ta-li-nít mà đã giết chết đến cả hàng triệu người”.  5407 Lawrence Reichard thì lại tuyên bố: “Phong trào phản chiến  … vô hình chung đã bó tay quốc gia này để không có được khả năng  … chiến đấu … mà khã dỉ chỉ cần có thể kéo dài hơn sáu tháng thôi hay chỉ bị thêm một vài trăm sinh mạng quân nhân Mỹ mà thôi”. 5408

Trong Peace and Revolution (Hòa bình và Cách mạng), Guenter Lewy có mô tả tính cách đồng thuận rộng rãi về những nguyên tắc hòa bình của mấy bọn American Friends Service Committee (AFSC), Fellowship of Reconciliation (FOR), War Resisters League (WRL) và Women’s International League for Peace and Freedom (WILPF)

Ngay cả trước và sau cuộc chiến Việt Nam, trong khi Liên Xô và Cu-bacứ tăng cường hỗ trợ các cuộc nổi dậy, thì các đám tự xưng là chủ hòa đã cứ tìm cách giải giới nước Mỹ để giúp đở mấy mặt trận nổi loạn theo chủ nghĩa Mác và Lê-nin ở khắp mọi nơi. Từng là đồng minh với Cộng Sản ngay vào đầuthập niên sáu mươi, chúng đã luôn luôn công khai ủng hộ cho một chiến thắngcuối cùng của Bắccộng.

Kể từ khi kết thúc cuộc chiến Việt Nam, bọn tổ chức chủ hòa bèn trở thành những biện hộ viên cho đại nạn diệt chủng Campuchia, cho các chế độ “tiến bộ”, cho Tổ chức Giải phóng Palestine cùng các bọn khủng bố khác. Họ đã lạnh lùng dửng dưng đối với những “thuyền nhân” mà đã phải ra đi bỏ quê hương trốn khỏi Đông Dương. Jim Wallis của tờ Sojourners, thì lại còn cáo buộc những người ra đi tỵ nạn thì đều bị tiêm nhiểm với kiểu sống chỉ biết thừa hưởng tiêu thụ mà thôi. Còn đối với John McAuliff  của ASFC thì các tin tức về nạn diệt chủng Campuchia chỉ là một “phản tuyên truyền” của  Mỹ hầu vu cáo “một gương mẫu thay thế khác về phát triển và tổ chức xã hội”. Bọn AFSC đã chuyên môn bào chữa cho đặc tính tàn bạo của Cộng Sản Việt Nam trong thời kỳ thuyền nhân và  trong thời kỳ “những cánh đồng tử thần” Campuchia thời Pol Pot.  5409  Và tên Jim Wallis của Sojourners thì cũng vậy thôi.

Fellowship of Reconciliation

Choáng váng vì những nỗi kinh hoàng đang xẩy ra trong một nước Việt Nam gọi là ‘được’ giải phóng , tổ chức FOR đã cố gắng giúp các “thuyền nhân” và tham gia cuộc biểu tình phản đối những vi phạm nhân quyền do Joan Baez tổ chức. Tuy nhiên, FOR vẫn không chịu lột chiếc áo tả phái đang mặc, để vẫn cứ từ chối treo cờ Mỹ tại trụ sở trung ương của họ, vẫn tham gia vào phong trào kêu gọi ngưng sản xuất vũ khí hạch tâm do Liên Xô tài trợ và dẫn dắt, và vào thế kỷ 21 đã tự đi liên kết với bọn khủng bố buôn lậu bạch phiến Columbia hầu chống lại chính phủ Uribe.

VVAW

Ấy vậy vào cuối tháng 2 năm 1990, một nhóm VVAW nhỏđộ hai mươi thành viên lại đã bị bắt vìhành vi ném máu vào một cổngvô Tòa Bạch Ốc chỉ để phản đối chính sách của Mỹ ở Nicaragua.  5410  Nhiều nămsau cái màn trình diển “Winter Soldier”  của bọn VVAWthì Robert Muller, một phát ngôn viên lâu dài của bọn VVAWthì vẫn cứ bị chất vấn dàidài, “Thưa ông Muller, ông từng chiến đấu cho bên nào,  Bắc cộng hayVNCH?”.  5411

Bill Lemmer, một điềm chỉ viên của FBItừng trà trộn vô được bọn VVAW thì đã cứ bị bám sát gây khó khăn trong công ăn việc làm, mãi cho tới khi đãm nhiện vai trò chủ bút tờ báo hoạt họa cho Nighline, và cuối cùng với tạp chí Washington Business Journal,để rồi qua đời vào năm 1996, đúng thật với hình ảnh của một đồng nghiệp đáng  quý.

Các Lữ Đoàn Venceremos Brigades

Cho tới năm 1977 thì đã có khoảng 2.500 tên Mỹ sẽ bỏ đi Cu-ba theo danh nghĩa các Lữ đoàn Venceremos, và đã trở về Mỹ để rồi tuyên bố được duy nhất một điều là đã thi hành xong nghĩa vụ quốc tế xã hội chủ nghĩa bằng công tác cắt mía cây dùm cho nhân dân Cu-ba. Nhiều tên vẫn cứ  tuyên truyền cho Castro trong nhiều năm sau đó. Đến cuối những năm 1970 thì:

Các  Lữ đoàn Venceremos… vẫn tiếp tục duy trì … và … đã thực hiện được một thông lệ đi hành hương hàng năm vừa kết hợp với tham quan, … làm lao động lẫn tuyên truyền ủng hộ rất có hệ thống cho Cu-ba sau khi trở về.

Suốt cả năm … đám Lữ Đoàn đã là rất sinh động, đã tổ chức những buồi hội thảo và các cuộc biểu tình, đã bảo  trợ cho những cuốn phim theo quan điểm phe chúng, đã ráng tham dự những chương trình hội luận, trong một nỗ lực để phá bỏ bức tường phản tuyên truyền về Cuba. 5412

Mộtsố nổi bật nhất của các tên phục vụ cho chính sách tuyên truyền này đã là Saul Landau, Mike Klare, Nancy Stein, Paul Jacobs, John Gerassi, Gail Ann Grynbaum, John Frappier, Michael Locker.5413

Women Strike for Peace

Vào ngày 20 tháng 11 năm 1980, WSP có nhận được mộtchi phiếu rất ư là “thiệt tội” với trị giá chỉ 5.000 đô Mỹ là số tiền nhận được nhân một vụ kiện hộ chống chính phủ Mỹ vì CIA đã cứ bám theo dõi WSP. 5414 Đó quả là một khoản tiền quá ư là nhỏ nhoi nhưng chắc chắn là khá lớn khi so vớicái giá trịrất là khiêm tốn của bất kỳ mọi thu thập tình báonào mà CIAđã từng có được của các nhómphản chiến mà ngay chính họ cũng đã từng phân tích một cách rất là sai lầm .

FBI

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001 thì các nhà phê bình đã càng soi mói vào hoạt động tình báo thiếu kém của FBI.Lần này thì quả là FBI đã không làm đủ và đúng vai trò của họ. Mãi đến năm 2006 thì FBI vẫn còn đang tìm cách lấy lại các tài liệu mậtvề hồ sơ của bình luận gia Jack Anderson từng bị đánh cắp. Bill Carter, một phát ngôn viên của FBI có cho biết, “Chiếu theo luật thì không một tư nhân nào có quyền sơ hữu các tài liệu mậtmà đã được cung cấp một cách bất hợp pháp chođương sự”.  5415

Việt Nam

Mãi cho tới năm 2011 thì Freedom House vẫn liệt kê nước “Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Cộng Hòa” trong danh sách những nước “tồi tệ nhất của tận cùng tồi tệ”,cũng như là một trong những chế độ cực kỳ đàn áp chính trị nhất trên thế giới. 5416  Vào năm 2004, Jeff Jacoby đã viết trên tờ Boston Globe Việt Nam là “một quốc gia với 82 triệu con người mà đang phải sống dưới một trong những chế độ độc tài áp bức nhất trên trái đất này”.  5417

Các Tội  Ác Về Chiến Tranh

Mãi cho tới năm 1988 thì bọn Liên Xô đã vẫn cứ phổ biến tuyên truyền vu cáo Mỹ đã đang buôn bán nhi đồng tại Guatemala, cũng như nội tạng của các em để ghép cho nghững người khác.  Ấy vậy vẫn có một số người đã tin như vậy. 5418

*****

5332  Vietnam War Statistics,  http://www.mrfa.org/vnstats.htm

5333  Michael Kelly có kiểm tra cặn kẻ cái huyền thoại này trong “The Three Walls Behind the Wall”, trong quyển Vietnam Conflict tại deanza.edu/faculty/swensson/essays_mikekelly_walls.html

5334  John Lingan, “Interview: Jon Voight”,  Splicetoday.com.

5335  http://www.pownetwork.org/bios/j/j038.htm

5336  Tác giả có biết một lần Hayden/Fonda từng cố hủy bỏ buổi chiếu phim Hanoi Hilton qua trung gian của một kẻ thuộc trong giới phim ảnh. “The Suppression Of ‘The Hanoi Hilton’: How Critics Killed A Politically Inconvenient Movie”,  Insight Magazine, The Washington Times; Washington, D.C.,  8 tháng 6 năm 1987. 

5337  Allen Breed, “POW benefit claimants exceed recorded POWs”, AP, 11  tháng 4 năm 2009.

5338  Eddie Morin FIRST TO ESCAPE,  “Vietnam” magazine, Sồ Tháng Sáu 2000, http://members.aol.com/bear317d/camacho.htm

5339  “Keeping His First Promise”, Time, 31 tháng giêng năm 1977.

5340  Adams trong quyển của Santoli, Bear Any Burden, trang 185.

5341  Quỳnh Dao, “Two sides to Every Story: Perspectives on the Vietnam War and the Iraq War”, Perspectives on World History and Current Affairs, 26 tháng 5 năm 2004 tại pwhce.org. 

5342  Military, “Uncle Walter”, Số Tháng Hai 1989, trang 53.

5343  Joseph Farah, “Meet the real Walter Cronkite”, WorldNet Daily, 18 tháng 7 năm  2009.

5344  Washington Post được nêu trong Newsmax http://www.newsmax.com/archives/ic/2006/7/12/104624.shtml?s=a

5345  Anne Morse, “The First Rathergate”. “CBS anchor’s precarious relationship with the truth”, 15 tháng 9 năm 2004  www.nationalreview.com/script/printapage.p?ref=/comments/morse200409150552.asp;

Phil Brennan, “Rather’s Final Days”,  7 tháng 3 năm  2005 newsmax.com/archives/articles/2005/3/6/182319.shtml  có nêu ra Mike Walker, Rather Dumb—A Top Tabloid Reporter Tells CBS How to do News.

5346  Turner viện dẫn James M. Griffiths, Vietnam Insights: Logic of Involvement and Unconventional Perspectives (New York: Vantage, 2000), trang 223.

5347  Larry Berman, A Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, trang 10.

5348  Bill Laurie, điểm sách của Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam, lcounterparts.net/message3_NEW.cfm?threaded=120&messages=6

5349 Martha Ann Overland, “Corruption Undermines Vietnam’s Stimulus Program,” Time Magazine, Thứ hai 23 tháng 2 năm 2009

http://www.time.com/time/world/article/0,8599,1881227,00.html 

5350  Accuracy in Media’s “AIM Report”, Số Tháng Tám 1994, Bộ XXIII-16.

5351  Turner viện dẫn Ginetta Sagan, “Vietnam’s Postwar Hell,” Newsweek, 3 tháng 5 năm 1982, trang 13.

5352  Được viện dẫn trong sách của Berrier, Background to Betrayal: The Tragedy of Vietnam,  Boston: Western Islands, 1965, từng được nêu ra trong sách của William F. Jasper, “Seven Myths About the Vietnam War”, New American, 25 tháng 3 năm 2002.

5353  Được viện dẫn trong Congressional Research Service (Library of Congress), Human Rights Conditions in Selected Countries and the U.S. Response (25 tháng 7 năm 1978), trang 79.

5354  Turner viện dẫn sách của James M. Griffiths, Vietnam Insights: Logic of Involvement and Unconventional Perspectives (New York: Vantage, 2000), trang 224.

5355  James Webb, “Sleeping With the Enemy”,  Rothrock, Divided, trang 263

5356  Gitlen, trang 260.

5357  http://www.publiceye.org/huntred/Hunt_For_Red_Menace-10.html#P962_221167

5358  http://www.publiceye.org/huntred/Hunt_For_Red_Menace-10.html#P962_221167  http://www.publiceye.org/rightwoo/rwooz9-22.html

5359  Mike Benge nói với Roger Canfield và nhiều người khác, 29 tháng chạp năm 2008; Fox Butterfield, “U.S. Will Interview Dancers Of Cambodia on Defecting”, New York Times, 12  tháng 10 năm1990.

5360  Friedman nói với Canfield.

5361  Đọc:  Michael Otten và Dan Walters, Sacramento Union, 1982.

5362  Information Digest,  29  tháng chạp năm 1978, trang 417.

5363  Michael Tremoglie, “Red Queen of ‘Peace,” FrontPageMagazine.com, 11 tháng chạp năm 2002,  http://www.frontpagemag.com/Articles/Printable.asp?ID=5039

5364  Robert Turner được viện dẫn trong sách của James M. Griffiths, Vietnam Insights: Logic of Involvement and Unconventional Perspectives, (New York: Vantage, 2000), trang  225.

5365  Ron Jacobs, “Todd Gitlen Does the Boss Man’s Work”, Counterpunch, 17 tháng 10 năm  2002.

5366  David Ifshin, trong tài liệu của Collier và Horowitz, Second Thoughts…

5367  Phỏng vấn Eldridge Cleaver tại căn phòng trong chung cư ở Berkeley bởi hai chủ bút tờ  REASON là Bill Kauffman và Lynn Scarlett. Tháng Hai 1986.

5368  Như trên.

5369  Như trên.

5370  Như trên.

5371   Tom Wells, The War Within.

5372  Vivian Rothstein, “Notes From Vietnam”, được nêu ra trong sách của D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 200-1.

5373  http://www.zimark.com/BillBio.txt

5374  Đọc: Weather Underground, bản điều trần của tiểu ban Committee on Judiciary phụ trách điều tra về việc thi hành luật Internal Security Act (An Ninh Quốc Nội) cùng các điều luật khác, Thượng viện Mỹ, Tháng Giêng 1975.

5375  Information Digest,  13 tháng 11 năm 1981, trang 348.

5376  Zaroulis, Who Spoke Up, trang 13.

5377  The American Sentinel, Số #271, 16 tháng 11 năm 1981, trang 4.

5378  Ron Chepesiuk, trang 235.

5379  Herbert Romerstein, “What Was the Weather Underground”, America’s Survival, 2009, trang 14; Herbert Romerstein, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability”, McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm 2003 tại  iwp.edu.

5380 David Horowitz, “Pardoned, but unforgiving”, Jewish World Review, 6 tháng 9 năm 2001,  http://www.jewishworldreview.com

5381 Stephen Holden, “Starting Place (1993) fILM REVIEW: To Vietnam, With Love And a Deep Respect”,  New York Times, 26 tháng 4 năm 1995.

5382 Ronald Radosh, “Don’t Need a Weatherman: The clouded mind of Bill Ayers” 10/08/2001, Bộ 007, Số 04.

5383 Herbert Romerstein và Cliff Kincaid, “Investigators Release Reports of Obama’s Communist Connections”,  American Survival, 2008 tại  usasurvival.org. 

 5384 Castellucci, John. The Big Dance. New York: Dodd, Mead, & Company, 1986; Chepesiuk, Ron. Sixties Radicals, Then and Now. Jefferson, North Carolina, 1995; Collier, Peter và David Horowitz. Destructive Generation. New York: Summit Books, 1989; Gitlin, Todd. The Sixties: Years of Hope, Days of Rage. New York: Bantam Books, 1987; Raynor, Thomas P. Terrorism: Past, Present, Future. New York: Franklin Watts, 1982; được nêu ra tại  http://www.geocities.com/southernscene/edu3.html

5385 Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009,  trang 284.

5386 Randy Keck, “Far Horizons: Saigon and the Mekong,” International Travel News, Tháng Chín 2007, trang 104.

5387 Thomas Bass.

5388  J’ai Vecu dans l’Enfer Communiste au Nord Viet Nam et J’ai Choisi la Liberte của Thomas A. Bass; The Spy Who Loved Us, New York: Public Affairs, 2009, trang 240.

5389 Tướng Phạm Xuân tuyên bố với Morley Safer, được viện dẫn bởi Victor Davis Hansen, Carnage and Culture, New York: Anchor, 2001, trang 416.  

5390 Larry Berman, A Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, và diển thuyết cùng ký sách của Berman, Davis, California, 16 tháng 6 năm 2007.

5391  Newsweek, 26 tháng 6 năm  1978, trang 17. Đọc thêm Joseph Fitchett, “Saigon Residents Found Intimidated by ‘Occupational Force’”, Washington Post, 6 tháng 11 năm 1978, trang A8.

5392 “Inside Bleak Vietnam”, Newsweek,  28 tháng 5 năm 1979, trang 57.

5393 Bill Laurie, “Biased in Vietnam War Atrocities Reports”, vnafmamn.com/VNWar_atrocities.html.

5394 AP,  30 tháng 4 năm 2004; Reuters, 30 tháng 4 năm 2004.

5395 “Tran Do, a dissident in Vietnam, died on August 9th, aged 78”, The Economist,  15 tháng 8 năm 2002; Quỳnh Dao, “Two sides to Every Story: Perspectives on the Vietnam War and the Iraq War”, Perspectives on World History and Current Affairs, 26 tháng 5 năm 2004 tại  pwhce.org.

5396 Eugene Patterson, “A Hero of Vietnam finds victory in defeat”,  Tampa Bay Times, 20  tháng 9 năm 2010.

5397 Stephen Denney, Religion and Communism in Vietnam, 1975-1992, (bản viết tay), Tháng Tám 1992 có viện dẫn bức thơ ngày 17 tháng 3 năm 1977 của Giáo hội VN Thống nhất do Thượng Tọa Thích Huyền Quang gởi cho Thủ Tướng Phạm Văn Đồng; và trong Tháng Sáu 1977, bản Kêu gọi về Nhân quyền của  Hội đồng Chấp Hành Trung Ương Giáo hội VN Thống nhất (đã di tản ra ngoại quốc). Cả hai văn kiện có được in lại trong sách của Jim Forest, The Unified Buddhist Church of Vietnam: Fifteen Years of Reconciliation, International Fellowship of Reconciliation, Alkmaar, Holland: 1978).

5398 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York; Harper & Row, 1965, trang 45.

5399 Nguyễn Công Hoan, khai trình, Human Rights in Vietnam, trước tiểu ban  Subcommittee on International Organizations of the Committee on International Relations of the House of Representatives, Quốc hội Nhiệm kỳ thứ 95, Khóa 1,  26 tháng 7 năm 1977, trang 151.

(?)     Có thiếu sót trong nguyên bản tiếng Anh: chỉ có 2 chữ ‘Thich Thanh’ (phụ chú của người chuyển ngữ)

5400 Lê Thị Anh, “Second Anniversary: the New Vietnam,” National Review, 29  tháng 4 năm 1977, trang 487; Stephen Denney, “Return to Vietnam: An Exchange”, New York Review of Books, Bộ 39, Số 7, 29  tháng 4 năm 1992; Bill Laurie, “Biases in Vietnam War Atrocities Reports”,  vnafmamn.com/VNWar_atrocities.html.

5401  Đoàn Văn Toại, “A Lament for Vietnam”,  New York Times Magazine,  29 tháng 3 năm 1981, trang 12 trong tổng số 13 trang.

5402  Nguyễn Công Hoan, “Why I Escaped from Vietnam”, Newsweek, 31 tháng 10 năm 1977,  trang 25.

5403  Bill Laurie từng tuyên bố với tác giả vào ngày 17 tháng 7 năm  2008.

(!)  Tác giảRoger Canfield không có được tin chính xác về thủ lãnh Làng Mai, kẻ từng về để mưu toan bưng bô cho VC trong năm 2007 (phụ chú của người chuyển ngữ).

5404 Barbara Crossette, “Ex-Official Life in U.S. Evokes Fear”, New York Times, 14 tháng 8 năm 1995.

5405 Jonathan Power, Like Water on Stone: The Story of Amnesty International, Penguin Press, 2001, trang 149 được viện dẫn bởi Quỳnh Dao, “Two sides to Every Story: Perspectives on the Vietnam War and the Iraq War”, Perspectives on World History and Current Affairs, 26 tháng 5 năm 2004 tại  pwhce.org.

5406 Turner viện dẫn theo sách của James M. Griffiths, Vietnam Insights: Logic of Involvement and Unconventional Perspectives, New York: Vantage, 2000, trang 224.

5407  William R. Hawkins, “American Friends of Saddam Committee”, FrontPageMagazine.com | 28 tháng 10 năm 2003

5408  http://nucnews.net/nucnews/2003nn/0301nn/030109nn.htm

5409 Rael Jean Isaac, Review of Peace and Revolution: The Moral Crisis of American Pacifism by Guenter Lewy [Điểm sách, Tháng Chín 1988] trên tờ Commentary, Bộ 87, Số 1 (Tháng Giêng 1989), Letters, trang 14-15],  http://www.fortfreedom.org/l24.htm

5410 AP, Sacramento Union, 18 tháng 2 năm 1990, trang 55.

5411 Robert Muller, trong sách của Salisbury (ed.), Vietnam…, trang 267.

5412 Hollander, trang 227 ghi chú 17; trang 210 ghi chú 105.

5413 Powell, Covert Cadre…, trang 230 ghi chú 26, có nêu ra các hồ sơ của FBI, S.F. # 100-66966, Airtel, 10 tháng 8 năm 1972, trang 4-5, và # 109-86160 trên NACLA.

5414 James W. Clinton phỏng vấn Ethel Taylor, 13  tháng 10  năm 1990  trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 163.

5415 Adam Liptak, “In Leak Cases, New Pressure on Journalists,” New York Times, 30 tháng 4 năm 2006,

5416 Freedom House, “World’s Worst Regimes Unveiled”, 2 tháng 4  năm 2004, có thể truy tìm tại  http://www.freedomhouse.org/media/pressrel/040204.htm.

5417 Jeff Jacoby, “Vietnam Today,” Boston Globe, 8 tháng 8 năm 2004, có thể truy tìm tại  http://www.boston.com/news/globe/editorial_opinion/oped/articles/2004/ 08/08/vietnam_today/.

5418  Walter Friedenberg, “Baby Part Resolution Angers U.S.”, Sacramento Union, 20 tháng 10 năm 1988.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #186”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #186 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: