Roger Canfield’s Americong #14

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 14

Hà-nội Tấn Công về các chủ đề Tội Phạm Chiến Tranh của Mỹ

Mùa Xuân 1966

Chuyến đi Hà Nội của Hayden Aptheker-Lynd vào tháng 12 năm 1965 báo hiệu cường độ ngày càng tăng trong các nỗ lực chống chiến tranh quốc nội trong năm 1966. Cánh tả đã hồi phục nhanh chóng từ các thất bại nhỏ do việc bị tiết lộ sớm là đã liên hệ với Cộng Sản ngoại quốc và Cộng Sản Mỹ. Phong trào phản chiến cánh tả đã thể hiện mức độ trung thành tuyệt đối bằng cách khuếch đại các thông điệp của Hà Nội về tội ác chiến tranh. Bắc Việt đã quay qua chính sách tuyên truyền rất  thô sơ về “tội phạm chiến tranh” và chính thức công nhận rằng Mặt trận thứ hai chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã là phong trào phản chiến Mỹ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “…. Chúng tôi có một lý thuyết  [chiến tranh] khác với của người Mỹ … …. Trong quá trình của nó, cuộc đấu tranh vũ trang và  chính trị cùng được phối hợp rất chặt chẽ, hỗ trợ và kích thích lẫn nhau.”  1391

Các Tội Ác Chiến Tranh, Sức Thu Hút của Hố Chí Minh trên Thế Giới

Ngày 24 tháng giêng năm 1966, Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho các lãnh tụ các quốc gia trên toàn thế giới.

Hồ đã quả quyết, “Mọi tiêu chuẩn của  luật quốc tế . . . đều đã bị vi phạm trầm trọng … “.

Ở Havana vào tháng Giêng, dân Cuba đã tụ hợp để “hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước.” Các biểu ngữ đã tố cáo cung cách Mỹ tiến hành chiến tranh Inhumana y Criminal la Guerra Esteril de los Imperialistas Yankis en Viet-Nam.”  1392

Khắp thế giới, các quốc gia cộng sản từ A đến Z đều cùng đến trợ giúp Hà Nội vào năm 1966. Bên cạnh cuộc biểu tình Havana vào tháng Giêng, 1393  những hội nghị và biểu tình đã xảy thêm tại Havana vào ngày 19 tháng 3, 1394 tại Bắc Kinh ngày 19 tháng 3, 1395 tại Budapest ngày 1 tháng 5 1396  và tại Sophia vào tháng 7. 1397 Tổ chức Manila Tự Do đã nhập cuộc với bọn cộng sản quốc tế vào ngày 24 tháng 10 năm 1966. 1398

Trong tháng 4 và tháng 7, Hồ một lần nữa lại nhấn mạnh về chủ đề tội phạm chiến tranh và đã kêu gọi sự hỗ trợ của bên ngoài khối cộng sản. Có lẽ đã dựa theo  lá thư vào tháng giêng của Hồ gởi các nhà lãnh đạo thế giới, trong số tháng 2 năm 1966 của tờ Libération, Dave Dellinger và Eric Norden đã viết về “các sự tàn bạo của Mỹ tại Việt Nam” như là những bản tin để phổ biến.  1399 Các tin tức đúng ra đã phải là Bắc Việt đang tuyên truyền cổ xúy cho các tội ác chiến tranh của chúng trên khắp thế giới. Bắc Việt bắt đầu tập trung phổ biến các chủ đề tuyên truyền của chúng vượt ra ngoài cả chiến trường và thôn làng của miền Nam Việt Nam và ra luôn bên ngoài của khối cộng sản, đánh thẳng vào yết hầu của con thú dữ Hoa Kỳ. Hồ đã nhận được sự chú ý của mọi người ở khắp mọi nơi,  kể cả Quốc hội Hoa Kỳ.

Các Phiên Điều Trần của Fulbright, Johnson bị Phản Đối tại Hạ-Uy-Dy

Vào đầu tháng 2 năm 1966, J. William Fulbright (Dân chủ – Arkansas), một người theo chủ nghĩa quốc tế và cũng là một kẻ ái mộ văn hóa Trung hoa, khi chủ tọa Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, đã thực hiện một việc phá tiền lệ là tiến hành luôn trong sáu ngày liền các phiên điều trần về Việt Nam mà được truyền hình (được kế tiếp bằng các phiên điều trần trong tháng 8 năm 1966 và tháng 10 với 11 năm 1967). Fulbright đã không tin Hoa Kỳ có thể chiến thắng tại Việt Nam và đã lo sợ sẽ phải gây ra một cuộc thế chiến với Trung Quốc.

Để đáp lại các buổi điều trần Fulbright, LBJ đã tổ chức một Hội nghị Việt Nam ở Honolulu vào ngày 5 tháng 2 mà đã bị bọn biểu tình tới phản đối và mang theo những bản hiệu  “Quý vị đã giết bao nhiêu người hôm nay?”  và “Johnson, Hãy chấm dứt Chiến tranh .”  1400

Hà Nội đã nói với các chính khách phương Tây rằng việc phản đối của Quốc hội và của các giới báo chí nổi tiếng đã chứng tỏ một “sự thiếu tín nhiệm”  đối với chính sách của Mỹ. Họ tin rằng “Mỹ đang bị khó khăn vì thiếu một mục tiêu rõ ràng ngõ hầu đoàn kết công luận Mỹ ” đứng sau để yểm trợ chính sách của chính phủ. Cộng sản đã phổ biến cho cán bộ của chúng  là “việc gia tăng căm hờn  của dư luận thế giới về các hành vi của Mỹ” sẽ đã là một trong những “lý do” quan trọng để buộc Mỹ phải “bỏ cuộc và cút đi.”  1401

CIA đã nhấn mạnh là một số người Việt cho biết họ đã “không tin” là có thể dựa trên ý kiến thiểu số để giành chiến thắng. CIA suy luận là nếu “không thúc đẩy được phong trào đối kháng trong nước” thì Bắc Việt sẽ chỉ còn quyết định chấm dứt chiến tranh. Dù sao thì bọn Bắc Việt vẫn thiếu tinh tế và đã quá háo hức về những triển vọng của phong trào phản chiến. Cái gì làm được tại Pháp thì không chắc gì làm được ở Mỹ.  1402

LBJ ra lệnh cho FBI: Hãy Truy Cho Ra Bọn Đã Đi Gặp Địch

Và vào tháng 2, Tổng thống Johnson đã yêu cầu FBI cung cấp tin tức về những lần tiếp xúc giữa các dân biểu của Hạ Viện, “những người Mỹ nổi tiếng” với các viên chức nước ngoài đang chống lại Hoa Kỳ về vụ Việt Nam. Các thơ và các sứ giả của Hồ có thể đã thuyết phục Tổng thống Johnson rằng các quan chức nước ngoài đang thúc đẩy “đa số các cuộc biểu tình … đặc biệt là các phiên điều trần tại Thượng viện.” Dù có yêu cầu của LBJ, FBI đã vẫn “núp lén”  tiến hành theo dõi về điện tử , nhắm vào các nhân viên ngoại quốc, nhưng FBI đã không điều tra bất kỳ dân biểu nào của Quốc hội.  1403

Các bản ghi khi theo dõi Đại sứ quán Liên Xô đã tiết lộ rằng các tay chỉ trích chính của Johnson đã từng tới ăn tối tại Đại sứ quán hay đã gặp riêng Đại sứ Liên Xô. 1404  Sau đó đặc biệt có Carl Marcy, Trưởng Văn Phòng của Thượng nghị sĩ William Fulbright đã đi gặp Igor Bubnov, Đại sứ và cũng là điệp viên KGB tại Capitol Hill kể từ năm 1967. 1405  Có lẽ lần đó họ đã chỉ nói chuyện về việc  đánh cá thu để lấy trứng đen và nhâm nhi  bánh mặn dòn cùng nhậu rượu vodka chăng?

Mục Tiêu của Dubois Club, Unafaid

Trong khi muốn tránh trực tiếp đối đầu với phong trào phản chiến, chính phủ Mỹ lại đã hành động chống lại một tàn dư cũ của tả phái mà đã bị sát nhập vào  phong trào phản chiến. Ngày 2 tháng 3 năm 1966, vị Chưởng lý Mỹ Nicholas Katzenbach ra lệnh cho các  câu lạc bộ DuBois phải ghi danh là một tổ chức Cộng sản. (Tối Cao Pháp Viện sau đó đã phán quyết đồng ý như vậy). Ngay ngày hôm sau, một vụ nổ đã phá hủy trụ sở chính của DuBois San Francisco. Thật kỳ lạ, hoàn toàn không có hồ sơ gì đã được tìm thấy trong các mảnh vụn của văn phòng chính của câu lạc bộ DuBois . 1406 Các tài liệu về chuyển tiền từ sáng lập viên của câu lạc bộ là CPUSA, và có lẽ các thơ từ với Moscow và Hà Nội về các chuyến đi chắc hẳn nếu có thì sẽ có thể  thú vị mà đọc, nhưng ai đó đã cẩn thận xếp cất đi mất rồi.

Dù đang bị tấn công nhưng một thành viên của Câu-lạc-bộ DuBois là Bettina Aptheker đã không hề sợ hãi.

Y thị hầu như không nhìn ra được sự thật là đang có một triều đại khủng bố áp buộc lên người dân ngay như y thị  – bọn Cộng sản và các tên hoạt động phản chiến. Các hoạt động công khai của hàng ngàn người tự nhận là nạn nhân của  đàn áp đã chứng minh từng ngày việc gian dối của các cáo buộc rằng họ bị ngược đãi và áp bức. Các hoạt động phổ biến rộng rãi cho “hòa bình” cũng đã chứng minh cả việc tôn trọng của chính phủ Mỹ về tự do ngôn luận và luôn sự rụt rè trong việc chống lại mưu đồ lật đổ và phản bội.

Trong một lá thư được phổ biến rộng rãi, Bettina Aptheker, con gái của Herbert Aptheker, tay lãnh tụ về ý thức hệ của CPUSA, Bettina đã kêu gọi: 1) khuếch trương cơ sở nhân dân trong các phong trào chống chiến tranh; 2) tránh việc cánh tả bị cô lập và 3) tăng cường sự tham gia về chiến thuật. 1407  Đặc biệt, y thị đã kêu gọi một cuộc biểu tình toàn quốc cho hòa bình. “Chúng tôi sẽ, nếu cần, chiếm lấy các trường đại học ở đất nước này”, y thị đã nói vậy.  1408

Việc chiếm lấy các trường đại học này cuối cùng đã được hoàn tất sau khi nhiều thế hệ giáo sư thù  Mỹ được mời giảng dạy, kể cả không ít một số bọn thánh chiến Hồi giáo (Islamic Jihadists) .

Trong thời gian đó, trong số các tay tài trợ lúc ban đầu cho cuộc phản đối của sinh viên vì hòa bình mà Bettina tổ chức đã là: các giáo sư như  Donald Kalish của UCLA, Howard Zinn thuộc Đại học Boston, các  thành viên SDS Carl Oglesby, Alex Stein và Quinton Bassett; bọn em bé mang  tã đỏ Anthony Wilkinson, Jacqueline “Jackie”Goldberg và Emspak Frank cùng với  một sinh viên tên là Leslie Cagan, Ủy ban kết thúc chiến tranh ở Việt Nam (Committee to End the War in Vietnam), và Đại học New York. 1409 Cuộc biểu tình của sinh viên cho hòa bình “trong bản chất đã hỗ trợ cho lập trường của Bắc Kinh và Moscow về Việt Nam.”  1410 Và chắc chắn đó cũng là lập trường của Hà Nội mà thôi.

Hà-nội tức thì lên tiếng hổ trợ. Tạ Quang Bữu đã gởi một búc thư cho các giáo sư và sinh viên:

Các bạn thân mến,

Cuộc đấu tranh ngày càng gia tăng của các bạn . . . một nguồn động viên  lớn Chúng ta phải đoàn kết và chiến đấu … Chúng tôi tha thiết kêu gọi các bạn hãy nô lực tăng cường tham gia . . . để:

Khiến cho người dân Mỹ … thấy rõ ràng rằng cuộc chiến tranh xâm lược … là một chiến tranh bất công, tàn nhẫn, vô nhân đạo, bất hợp pháp và phi đạo đức

Chúng tôi gần đây đã được thông báo rằng Ủy ban điều hợp quốc gia Kết thúc chiến tranh ở Việt Nam (National Coordinating Committee to the End the War in Vietnam)  sẽ  phát động một phong trào phản đối mới  . . .  vào ngày 25 tới 26 tháng 3 năm 1966.

Chúng tôi nôn nóng mong đợi sự tham gia tích cực của quý bạn.  1411

Cũng vậy, Liao Cheng của ủy ban China Peace Committee đã tuyên bố trong tờ People’s Daily:

Người Trung Quốc ngưỡng mộ và cương quyết hỗ trợ phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ … [Nhân]  dân Mỹ cùng đứng chung với người Việt Nam

Phật Tử Náo Động ở Vùng I Chiến Thuật

Trong tháng 3, một Hội đồng Quân nhân của Thiệu-Kỳ  đã cách chức một tướng lãnh thân thiện với Phật giáo là Nguyễn Chánh Thi. Chỉ trong thời gian 24 giờ, hàng ngàn Phật tử và sinh viên đã xuống đường tại Đà Nẵng. Thiệu và Kỳ đã hứa sẽ có bầu cử, nhưng các cuộc nổi loạn đã vẫn lan đến Sài Gòn, Pleiku và Nha Trang. Các Phật tử đã tổ chức cướp lấy vũ khí của quân đội VNCH.

Một viên tướng không theo các Phật tử là Huỳnh Văn Cao đã thay thế nắm quyền chỉ huy Quân Đoàn I  và đã được lệnh tấn công các chùa chiền Phật giáo. Dù trong hoàn cảnh gần như là bị súng kê vào màng tang là phải tuân lệnh, tướng Cao vẫn từ chối thi hành lệnh.  Một cố vấn Mỹ là  Arch Hamblen đã đến tại chổ để cứu Cao.

Sau cuộc đối đầu giữa các đơn vị QLVNCH kình chống nhau và nhiều cơ sở của Mỹ bị đốt cháy, cuối cùng Cao đã ra lệnh đột kích các ngôi chùa Phật  giáo đang được trang bị đầy đủ vũ khí mà không gây ra thêm lộn xộn nào khác nữa. Mặc dù được sự hỗ trợ tích cực của báo chí Mỹ, kể luôn cà việc tái tổ chức cho một ni cô Phật giáo tự thiêu, tay cấp tiến Thích Trí Quang đã mất sự hỗ trợ của Phật tử ôn hòa và đành phải chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị đầy bạo lực trên các đường phố của miền Nam Việt Nam. 1412

Các Cuộc Phản Kháng Đều Được Phối Hợp Chung Trên Toàn Thế Giới

Kể từ các Ngày Biểu Tình Phản Đối Quốc Tế trong tháng 10 năm 1964, Uỷ ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee)  và Ủy ban Fifth Avenue Parade đã tìm cách điều động để phối hợp các cuộc biểu tình trên toàn thế giới. Có lẽ một phần do sự khuyến khích gần trước đó của Tạ Quang Bửu và Liao Cheng, vào ngày 26 tháng 3, ủy ban Fifth Avenue Peace Parade Committee  của Norma Becker đã thu hút tới 50.000 người tham dự để phản đối chiến tranh.

Becker, một tên từng tích cực hoạt động trong các mặt trận cộng sản, kể cả Liên đoàn Quốc tế Phụ nữ vì Hòa bình và Tự do (Women’s International League for Peace and Freedom WILPF), đã có một sự nghiệp lâu dài như là một giáo viên và một tay chuyên tổ chức các cuộc biểu tình chính trị có lợi cho cộng sản Liên Xô và Cuba, trước và sau thởi kỳ Việt Nam. 1413  Tay văn sĩ xã hội chủ nghĩa Barbara Ehrenreich đã gặp chồng y thị tại một cuộc biểu tình phản chiến về Việt Nam ở New York vào đầu năm 1965, 1414  rất có thể là do Uỷ ban Fifth Avenue Parade tổ chức.

Đoàn kết trong cung cách của các chính phủ cộng sản không phải lúc nào cũng xẩy ra được trong bọn tả phái ở Mỹ.

Không Thề Có Tội Ác Xô-viết mà Chỉ Có Tội ác Mỹ

Trong khi đồng nhất tố cáo chính phủ Mỹ về mọi vấn đề thì bọn tả phái Mỹ lại rất chia rẻ trong cách đáp ứng với những việc không hoàn hảo của bọn bạn cộng sản của chúng.

Trong tháng ba cả Hayden, Lynd, Dave Dellinger, Krassner, Goodman và Sid Lens cùng ký một tuyên bố có lướt sơ qua việc ngược đãi những người bất đồng chính kiến của Liên Xô . 1415  Họ từ chối ký một tuyên bố mạnh mẽ hơn mà đã so sánh các hành vi quân sự của Mỹ tại Cộng hòa Dominica với “việc can thiệp đầy tội lổi của Nga tại Hungary”  vào năm 1956.

Đầu tháng 4, Joan Baez và 300 người khác đã không chịu trả tiền thuế thiếu của họ để phản đối việc Mỹ can thiệp hầu lập lại trật tự ở Cộng hòa Dominica và việc Mỹ tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Baez và đồng bọn đã cương quyết so sánh các sự kiện này với các “tội phạm của Nga khi can thiệp vào Hungary.”  Cả  Aptheker cũng như  Hayden – cả hai đều chấp thuận là sự can thiệp của Liên Xô vào Hungary là có tính cách “phòng thủ”  –  đều không đồng ý  ký bất cứ điều gì mà có liên quan tới tội phạm của Liên Xô tại Hungary. 1416

Các nước chư hầu của Moscow như Hungary, mà bọn tả phái từng mơ tưởng  là nơi sẽ đạt tới được một xã hội chủ nghĩa không tưởng trên thế gian hay cho ngay chính tham vọng trên con đường tiến thân nhằm dành quyền lực trước những kẻ khác của chúng, quả đã không là địa ngục trần gian đối với chúng .

Lên Tới Được Thiên Đường – Sứ Mệnh Moscow

Cách nhìn lạc quan của Hayden về tiến trình của cộng sản ở Hungary đã trùng hợp với cách nhìn của Herbert và Bettina Aptheker trong một số vấn đề nào đó. Ngày 6 tháng 3 năm 1966, Hayden đã viết từ tiền đồn cách mạng của y trong giới lao động tại Newark, New Jersey bài “Lời nói đầu” cho quyển Sứ mệnh Moscow (Mission to Moscow)  của Herbert Aptheker:

Báo cáo Aptheker đáng lý đã phải được in trên các tạp chí tin tức lớn nhất của nước ta …

Herbert đã viết … như Người  Của Thế Kỷ này … [nhiều]  (sự kiện và tuyên bố) … chứng minh …Cộng sản đáp ứng được khao khát của người dân đối với công bằng xã hội và cuộc sống độc lập hơn là ngay chính phủ của mình [Aptheker].

Rằng Chính phủ Hà Nội (và Mặt Trận Giải Phóng Quốc gia) … là những đại diện không còn có thể nghi ngờ nữa, bât kể mọi nổ lực tuyên truyền thường xuyên từ Washington … [Để] chống lại ý tưởng của một cuộc chiến tranh cách mạng mà có được sự hỗ trợ của nhân dâncái Chính phủ Mỹ lại gợi ý  về  bom hydro …

Hoa Kỳ đang giết người Việt, tôi nghĩ vậy, để cảnh cáo là những cuộc cách mạng làm xáo trộn cân bằng quyền lực thế giới sẽ không được dung thứ.  1417

Sau khi viết về một chính sách khủng bố hạt nhân của Mỹ  và đề cao tôn thờ Aptheker, một tên điệp viên hoạt động cho chủ nghĩa đế quốc Liên Xô, Hayden đã ủng hộ y để làm ứng cử viên chính thức của đảng Cộng sản Mỹ vào Quốc hội  năm 1966,  1418 cùng với Robert Scheer  của tờ Rampart  mà chủ đề tranh cử đã là Việt Cộng phải chiến thắng .  1419

Chính quyền Johnson trong thực tế đã loại trừ việc sử dụng vũ khí hạt nhân nhằm chống lại một cuộc xâm lược của Cộng sản Trung Quốc, nếu có, vì bất kỳ việc sử dụng vũ khí hạt nhân nào thì cũng “đã đến lúc bị xem như đáng để cự tuyệt, đáng ghê tởm và không đáng thậm chí để nghỉ tới nữa.”  Tuy nhiên, “chấp nhận một thảm họa quân sự, có thể cả tới việc thất trận … sẽ có những tác động sâu xa” cho vị trí của Mỹ và cho cán cân quyền lực.  1420

Tin chắc là sẽ có một số phản ứng thuận lợi trong giới cấp tiến, vào ngày 8 tháng 4 năm 1966, Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Bọn Mỹ xâm lược … [đã] đang  tung ra hàng loạt khủng bố với quy mô lớn.”

Hồ cho biết các chiến thuật của Mỹ đang theo một chính sách “đốt tất cả, giết tất cả, và phá hủy tất cả” mà theo đó, quân đội Mỹ đã sử dụng “bom napalm, khí độc và hóa chất độc hại để tàn sát đồng bào của chúng tôi và tàn phá làng xóm của chúng tôi.” Tiếp tục với chủ đề của mình, Hồ đã đề cập đến “quyền lực man rợ” và “các tội ác cực kỳ man rợ.”

Sau này tại Iraq, Hoa Kỳ đã bị gọi là quốc gia khủng bố lớn nhất trên toàn cầu  bất kể tính cách man rợ chưa từng thấy của các bọn phát xít Hồi giáo khi tàn sát bừa bãi dân thường vô tội trên đường xá, chợ búa cùng đánh bom tự sát với những vụ xử tử bằng cách chặt đầu mà có quay video để làm bằng chứng.

Hồ Chí Minh, tên đồ tể từng giết cả dân chống thuế tại thành phố  mà y được sanh ra đời, đã chấm dứt với lời cảm ơn cho sự hỗ trợ của “các nước anh em xã hội chủ nghĩa … nhân dân tiến bộ trên thế giới [và của Mỹ] … chống lại cuộc chiến tranh tội lỗi.”  1421

Tới tháng 4 năm 1966 chỉ có 32% người dân Mỹ, khi được hỏi “cảm tưởng chung” về Việt Nam, có thể được phân hạng như là phản chiến (muốn rút ra, sợ chiến tranh và lên án bao sinh mệnh bị mất mát). 1422

Tay Tuyên Truyền của Hà-nội Giảng Dạy cho Tù Binh Chiến Tranh Stockdale

 Hà Nội đã biết phải làm gì nhưng bị cái là quá tự tin về mục tiêu phải đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam bằng các biện pháp chính trị.

Tay đầu sỏ của Hồ Chí Minh mà đang điều khiển chiến dịch hầu thu phục các giới truyền tin trên toàn thế giới tại Hà Nội là Nguyễn Khắc Viện, đã thích thú trao đổi trong một tiếng đồng hồ với tù binh chiến tranh Mỹ cao cấp nhất và cũng là một triết gia, Jim Stockdale vào mùa xuân năm 1966.  1423  Stockdale nói rằng Nguyễn Khắc Viện đã mô tả cái cách Việt Nam “kế hoặch hóa việc tuyên truyền đổ dồn tràn ngập tin ở phương Tây.” Viện đã tổ chức thành công các cuộc biểu tình làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng Pháp với chiến tranh ở Đông Dương.

Và bây giờ thì Nguyễn Khắc Viện đã cho tù binh của mình biết một điều, “Quốc gia chúng tôi không có khả năng để đánh bại bạn trên chiến trường. Nhưng chiến tranh không bị quyết định nhiều bởi vũ khí hơn là ý chí quốc gia . . . Chúng tôi sẽ thắng cuộc chiến này trên các đường phố của New York.” Bọn thánh chiến Hồi giáo cũng đã tìm thấy một sự trợ giúp tương tự, không chỉ trong các cuộc biểu tình ngoài đường phố, mà còn ngay cả trong những lời tuyên bố của các thượng nghị sĩ và dân biểu Quốc hội.

Người tù binh chiến tranh Stockdale đã chợt lạnh mình có “một cảm giác kinh hoàng mới.” 1424

Tương tự như vậy, Hải quân Đại úy tù binh chiến tranh James A. Mulligan sau này đã nói với một ủy ban Hạ viện, “Đã rất, rất sớm, vào  lúc đó quan điểm của tôi là Bắc Việt đã cảm thấy được cuộc chiến sẽ dành lấy chiến thắng ở Washington, DC, chứ không phải tại Việt Nam. Họ đặt niềm tin rất lớn trong phong trào phản chiến.”  1425

Bọn chủ hòa thì dể bị gạt hơn là các chiến binh bị bắt làm tù binh chiến tranh.

*****

1391   Giáp “Once Again We Will Win” (Anh quốc) báo Việt năm 1966.

1392  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_341, 342 có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1393  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_341, 342 có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1394  Một Hội luận của Giới Trẻ Á, Phi và Mỹ La-tinh thuộc bộ Viet II DSC_380, 381 của tác giả có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1395  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_382, 372 có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1396  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_352, 353, 354  có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1397  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_345, 346  có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1398  Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_364, 365  có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

1399  Đọc Dellinger, Revolutionary Nonviolence, trang 29.

1400   Ghi chú và hình của tác giả thuộc bộ Viet ÌI DSC_363, 364  có được từ Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn .

 

1401   Phúc trình CIA, “The Vietnamese Will to Persist.” Phụ đính  X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8 năm 1966, X-3**.

1402   Phúc trình CIA, “The Vietnamese Will to Persist.” Phụ đính  X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8 năm 1966, X-3-5.

1403   Tóm tắt phúc trình FBI, “Information Concerning Contacts Between [Certain Foreign officials] and Members or Staff of the United States Congress Furnished to the White House at the Request of the President, 2/3/75 viện dẫn trong  “Church Committee Report.” Intelligence Activities and the Rights of Americans, Quyển II, Final Report of the Select Committee to Study Governmental Operations with Respect to Intelligence Activities, United States Senate Together with Additional, Supplemental, and Separate Views, 26 tháng 4 (thời khóa biểu của Quốc hội là 14 tháng 4) năm 1976, E. Political Abuse of Intelligence Information, Major Findings. Truy cập tại :  http://www.icdc.com/~paulwolf/cointelpro/churchfinalreportIIce.ht

1404   Wells, The War Within, trang 69 do David Garrow viện dẫn trong  Bearing the Cross, New York: Morrow, 1986, trang 543.

1405   Fedora, Free Republic www.speak-up-now.com/soviet-activemeasures/ 

1406   Các tên bênh vực cho những DuBois Clubs từ “Red Baiting” gồm có một số lớn tổ chức tả phái và tự do, chẳng hạn như SDS, WSP, SNCC, NCCEWV, SCLC, cũng như lá các cá nhân như :  James Bevel, Norman Thomas, Staughton Lynd, Julian Bond, David Dellinger, John Lewis (S.N.C.C.), Paul Potter and Carl Oglesby (S.D.S.), Bob Scheer, Saul Landau, Dave McReynolds, Ted Weiss, Frank Wilkinson, Herbert Aptheker và William Kunstler.  [Tài liệu mà tác giả có được.  Đọc thêm:  Gannon.] Sau đó thì Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã xác nhận là các DuBois Clubs đã ghi danh như là những Mặt Trận Cộng Sản.  Trong khi vài người tuyên bố là hành vi của Chính phủ Mỹ đối với các Câu-lạc-bộ DuBois đã khiến cho họ quay qua với SDS thì thật sự việc này đã xẩy ra từ cuối 1964.

1407  Bettina Aptheker, “Perspective to the Peace Movement,” Dimensions (Mùa Xuân năm 1966).  Dimensions đã tự mô tả như là “tờ báo dành về tranh luận của W.E.B. DuBois Clubs.”

1408  Diễn văn của Bettina Aptheker ở đại hội toàn quốc tháng 6 năm 1966 của DuBois Club tại Chicago Coliseum.

1409   Tang chứng 1-C, “Initial Sponsors for the Student Strike,” H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week (8-15 tháng 4 năm 1967), 31 tháng 3 năm 1967,  trang 12-14.

1410   H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week (8-15 tháng 4 năm 1967), 31 tháng 3 năm 1967, trang 15.

1411   “Stand By Your Side,” Vietnam Courier, Bộ Ngoại giao Hà-nội , tháng 3 năm 1966, trang 52, hồ sơ lưu trử TTU đã viện dẫn trong Rothrock trang 129-30, ghi chú số N3.

1412   Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, trang 222-229.

1413   S. Steven Powell, Covert Cadre: Inside the Institute for Policy Studies, Ottawa (Il): Green Hill Publishers, 1987, trang 303, 307, 308;  

1414   Barbara và John Ehrenreich, Long March, Short Spring: The Student Uprising at Home and Abroad, New York: Điểm báo hàng tháng, 1969, trang bìa sau; 1966 thường được viện dẫn trong các tiểu sử của Ehrenreich. 

1415   Liberation, tháng 3 năm 1966, trang 3, viện dẫn trong Farber, trang 23.

1416   New York Times, 10 tháng 4 năm 1966.

1417  Tom Hayden, “Preface” của Mission to Hanoi do Aptheker viết, N.Y: International Publishers, 1966  trang 7-9.

1418   Sau này thì Hayden đã sẽ nói: “Ngay cả ủng hộ Aptheker thì tôi cũng không làm. Tôi nghỉ là cần phải ghi tên anh ta để ứng cử . . . Nếu các đảng viên của đảng Cộng sản  . . . mà có thể tham gia một cách hợp pháp . . . thì ít ra sẽ không là một vụ lường gạt.”  Đọc:  HCUA, 1968,

1419   Houston Post , 7 tháng 8 năm 1966.

1420   CIA, Office of National Estimates, Abbott Smith, Quyền Giám đốc, Phúc trình TỐI MẬT cho Giám đốc, “Use of Nuclear Weapons in the Vietnam War,” TS# 185929-e, 18 tháng 3 năm 1966, trang 5, trang 12.

1421  Hồ Chí Minh, “Our Entire People, United As One Man, Are Resolved to Defeat the U.S. Aggressors,” Vietnam Courier (Hanoi, 8 tháng 4 năm 1966.)

1422   Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’s Griffin, 1997, trang 15.

1423   James và Sybil Stockdale, In Love and War: The Story of a Family’s Ordeal and Sacrifice during the Vietnam Years, Maryland: Naval Institute Press, 1990, trang 179-181 viện dẫn bởi Craig Howe strong Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 35 ghi chú 89, trang 247-8 ghi chú 50.

1424   Như trên

1425   Hạ viện, Điều trần về Restraints on Travel to Hostile Areas: Hearings before the Committee on Internal Security, nhiệm kỳ thứ 93 Hạ viện, khóa 1, 1973, trang 3-4 viện dẫn bởi Rothrock trong Divided… trang 186 ghi chú 9.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #14”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #14 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: