QĐVNCH và Khẩu M-16

Lewis Sorley

Diễn văn đọc tại Saigon Arts, Culture & Education Institute Conference,

 Tysons Corner, Virginia vào ngày 24 Tháng 9 Năm 2011

 Lê Bá Hùng chuyển ngữ

~ Ngày Quân Lực 2017 ~

 

 

M16A1 với hộp tiếp đạn 30 viên

 

 Từ trên xuống: M16A1, M16A2, M4 Carbine, M16A4

M16 trong đợt thao dợt quân sự tại Hawaii (2003).

Ảnh của quân đội Hoa Kỳ do TS Bradley Rhen chụp

https://vi.wikipedia.org/wiki/M16

Không một chi tiết duy nhất nào mà lại có thể tỏ lộ rõ ràng hơn được thái độ bỏ bê quên lãng quân đội VNCH của Tướng Westmoreland hơn là vụ súng M-16, mà lúc đó, đang là một vũ khí mới, nhẹ và tự động mà đã đang được xem là rất lý tưởng cho chính môi trường Việt Nam.

Đại Tướng William Childs Westmoreland “Westy” (1914 – 2005)

Với chiến lược Search and Destroy ~ Tìm rồi Diệt

Khi có được các vũ khí cùng các trang thiết bị khác mà đã được cải tiến tốt hơn nhiều, thì chính các lực lượng Hoa Kỳ mới đã được ưu tiên được trang bị, như đã từng với loại súng trường M-16, loại đại liên M-60, loại phóng lựu M-79 và các máy liên lạc vô tuyến tốt hơn. Trong phần lớn thời gian của cuộc chiến, người quân nhân Nam Việt Nam chỉ được trang bị bằng loại vũ khí của cái thời Thế Chiến Thứ II mà lính Mỹ từng đã sử dụng rồi, như là các loại súng trường M-1 và khẩu cạt-bin mà thôi.

Đại Liên M-60

 

 Phóng lựu M-79

 Trong khi đó, thì Bắc Cộng và Việt Cộng đã từng được trang bị trước rồi, cho mọi loại vũ khí hiện đại nhất mà các quan thày của chúng đã có được, kể cả khẩu súng tấn công lừng danh AK-47. Hậu quả là, xuyên suốt những năm mà việc điều hành cuộc chiến đã nằm dưới quyền chỉ huy của tướng Westmoreland, Nam Việt Nam đã luôn luôn bị yếu thế về phương tiện súng ống, cái việc dĩ nhiên rồi thì cũng phải đưa đến những kết quả có thể tiên liệu trước được mà thôi, về các kết quả sẽ phải có tại chiến trường cùng tinh thần chiến đấu, mà đó là chưa nói đến khía cạnh tiếng tăm. Westmoreland thì cũng từng có tuyên bố: “Chúng tôi vẫn đặt nặng vấn đề liên tục canh tân hóa QĐVNCH”, i nhưng thực tế thì lại không phải là như vậy.

Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ sau này đã có nhớ lại một cách đắng cay về cái cảnh “người quân nhân Mỹ to con vai đeo khẩu súng trường Colt M-16 rất nhẹ ký và hoàn toàn tự động để đi hành quân, mang được với cả hàng trăm viên đạn, rất cân xứng với khẩu AK-47 của địch. Ngược lại, mãi cho đến sau Trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968, những người lính nhỏ con của chúng tôi thì vẫn cứ bị phải kéo lê những khẩu súng M-1 Mỹ chỉ với 8 viên đã quá ư là lỗi thời mà ngay cả U.S. National Guard (Lực Lượng Bảo An Hoa Kỳ) cũng đã không thèm”. ii Trung Tướng Ngô Quang Trường, người từng đã được đa số coi như là vị chỉ huy tại chiến trường giỏi nhất nhất của miền Nam Việt Nam, thì cũng đã đồng ý mà thôi. Nhân khi nhận xét về các đơn vị của QĐVNCH trong những năm đó, ông đã có ghi nhận, “Nói chung thì họ đã không hề được trang bị đúng đáng, hầu có thể chống trả được một cách có hiệu quả, chiếu theo các đòi hỏi về hành quân”. iii

Garand M-1

Sự chênh lệch về khả năng vũ khí đã sẽ trở nên cực kỳ rõ ràng nhân Trận Tết Mậu Thân 1968. Đại tá Hoàng Ngọc Lung, iv ►1 Trưởng Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, vị sĩ quan quân báo cao cấp nhất của Nam Việt Nam, thì cũng đã có nhớ lại, “QĐVNCH đã chỉ được trang bị với vũ khí hiện đại sau khi bộ đội địch đã từng được trang bị trước như vậy rồi từ đã rất lâu rồi. Súng M-16 đã chỉ được cung cấp cho tất cả các đơn vị của QĐVNCH sau Trận Tổng Tấn công Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968 khi mà nhân đó, đa số bộ đội của địch thì đã sử dụng toàn súng AK-47 mà thôi”. Các hồi tưởng của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận của VNCH, v thì lại đã đặc biệt rất ư là chua chát: “Suốt thời gian xảy ra Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, những tiếng nổ vang dòn rộn rã của loại súng AK-47 khắp Sài Gòn và tại một số thành phố khác, dường như là để chế giễu mấy khẩu Garand và cạt-bin chỉ bắn được từng viên một mà thôi trong tay các quân nhân quốc gia đang đứng sửng sờ. Khẩu M-1 thì nặng hơn mười một cân Anh với đạn đã nạp và dài 43 ‘inch Anh’. Theo một tính toán nào đó, thì trung bình một người lính VNCH thì chỉ cao độ 5 ‘feet Anh’ và nặng 90 ‘pound Anh’ mà thôi.

Đại tá Hoàng Ngọc Lung (1932 – )

 

 Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên (1927 – 2015)

 Sau này thì Westmoreland có tuyên bố là vào năm 1964, ông có yêu cầu vị Phụ tá là Trung Tướng John Throckmorton, cần nên đặc biệt xem xét “tính khả thi của yêu cầu cung cấp súng M-16 của tôi cho các lực lượng Việt Nam”, vi và khi Throckmorton đưa ra đề nghị chống lại, vì lý do sẽ quá ư là tốn kém, ông ta đã chấp thuận đề nghị này, tuy nhiên “cũng khá ư là miễn cưỡng mà thôi”. Một năm sau đó, sau các trận đánh với quy mô lớn dạo ban đầu ở Ia Drang, Westmoreland đã nói, “Tôi nhận được ra là súng M-16 quả tối cần, không chỉ cho quân nhân Mỹ mà luôn cả cho binh lính Việt Nam. Tôi bèn đã đưa ra một yêu cầu vào tháng chạp năm 1965”. Nhưng rồi Westmoreland cũng đã phải thừa nhận, “khi tôi rời nhiệm sở vào mùa hè năm 1968, chỉ mới có một phần nhỏ các lực lượng Nam Việt mới đã được trang bị như vậy mà thôi”. Dĩ nhiên, yêu cầu đó thì cũng đã bị đưa xuống hàng ưu tiên hạng chót thôi về nhu cầu trang bị vũ khí mới, và cũng đã có những quan chức đầy quyền uy từng đã hoàn toàn chống lại việc cung cấp cho QĐVNCH các vũ khí hiện đại, nên do đó, kết quả thì cũng đã được như từng được dự đoán mà thôi. vii

Chuẩn Tướng John Lathrop Throckmorton (1913 – 1986)

 Vào tháng 4 năm 1968, Tạp chí Time đưa tin là vị tân Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford đã tuyên bố sẽ “tăng mạnh cực kỳ việc Mỹ sản xuất M-16, hầu hoàn tất việc trang bị cho xong mọi  đơn vị của QĐVNCH vào giữa mùa hè tới”. viii Đó cũng là điều mà chính cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara đã không bao giờ đồng ý, và Westmoreland thì cũng chỉ thỉnh thoảng, tuy có đề nghị, nhưng cũng không có chút gì là sốt sắng cho lắm, một thái độ chứng minh cho chủ trương của đương sự là quân đội Hoa Kỳ rồi thì cũng có thể chỉ việc cần phải tới và quét sạch nhà cữa dùm cho người dân Việt mà thôi, nên cũng không cần phải trang bị cho họ để chính họ phải làm điều đó mà thôi.

Clark McAdams Clifford (1906 – 1998)

 Charles MacDonald đã từng đi phỏng vấn rất nhiều người để có được cái nhìn chính xác về  hòan cảnh thực sự thời đó, hầu chuẩn bị viết bộ hồi ký của Westmoreland, mà ông là người sẽ viết dùm mà dấu tên. Một trong số những người mà ông đã có phỏng vấn là Tướng Harold K. Johnson, ix Tham mưu trưởng Lục Quân trong những năm 1964-1968. MacDonald đã giải thích mục đích của mình: “Sau vài lần trao đổi với Tướng Westmoreland, tôi đã được biết là ông ta đã có đề nghị trang bị súng M-16 cho QĐVNCH sớm nhất là từ trận [âm thanh không nghe rõ được: Ia Drang?] tận mãi vào mùa Thu năm 1965. Và tôi cũng đã từng có cơ hội được hỏi ông ấy: Vậy sao mà điều này thì nay chỉ mới vừa được hoàn tất mà thôi?’ Và câu trả lời duy nhất mà ông ấy có thể cho tôi biết là – có lẽ là vì những khó khăn về sản xuất ở bên Mỹ. Ông có thể giải thích thêm về chi tiết đó không? “

Đại Tướng Harold Keith “Johnny” Johnson (1912 – 1983)

 Tướng Johnson thì đã có thể và cũng đã giải thích sự việc. Ông không nhớ chính xác ngày tháng khi lần đầu tiên mà Tướng Westmoreland đệ đạt thỉnh cầu về cho Trung Ương để xin trang bị các súng đó cho QĐVNCH, và ông đã cho biết, “Nhưng rồi thì ông cũng sẽ thấy được là – tôi nói ở đây là theo quan điểm cá nhân, và đó cũng có thể là một điều quá thành thật của tôi mà thôi – Tướng Westmoreland đưa một thỉnh cầu chỉ nhằm sẽ ứng phó cho được với mọi tình huống mà thôi về sau này. Ông ta có luôn cả một hồ sơ cực quý về tất cả những gì liên hệ đến Việt Nam”. x

Đại Tướng Frank Schaffer Besson Jr. (1910 – 1985)

 Tướng Frank Besson dạo đó chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân Nhu Lục Quân, và ông có nhớ lại thỉnh cầu của Westmoreland về 100.000 khẩu súng trường M-16. “Tôi cũng đề nghị là nên chuyển giao chúng cho phía Việt, cho các quân nhân Nam Việt”, Besson đã nhớ lại như vậy, “bởi vì tôi cảm thấy chúng ta có trách nhiệm phải cung cấp cho các đồng minh những gì tốt nhất có thể được. Nhưng họ đã tuyên bố là, “Không. Chúng ta không thể đưa chúng cho phía Nam Việt Nam, bởi vì chắc chắn rồi các súng đó rồi sẽ bị bọn Việt Cộng và Bắc cộng nắm bắt được, để rồi sẽ lại bị dùng để đánh lại chúng ta mà thôi”. Cái lập trường theo kiểu Chúa-định – và đúng đó là điều mà họ từng tuyên bố”. xi (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Chuẩn Tướng James Lawton Collins Jr. (1917 – 2002)

 Phải chờ mãi đến tháng 3 năm 1967 thì phía Nam Việt mới lại được phân phối cho một lô súng M-16, với các chuyến hàng đầu tiên đến được trong tháng sau đó. Chuẩn tướng James Lawton Collins Jr. lại cho biết, “Nhưng cho đến năm 1968, thì cũng chỉ vừa đủ để trang bị các tiểu đoàn Dù và TQLC của Lực Lượng Tổng trừ Bị mà thôi“. xii (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Đại Tướng Frederick C. Weyand (1916 – 2010)

Trong bản phúc trình về thời gian phục vụ tại Việt Nam ngay sau khi chấm dứt nhiệm kỳ vào tháng 8 năm 1968, Tướng Fred Weyand cũng đã có nhấn mạnh đến các hậu quả: “Việc trì trệ kéo dài trong công tác trang bị vũ khí và thiết bị hiện đại cho QĐVNCH, ít ra cũng cho được cân xứng được với những gì đã do Nga và Trung Cộng đã cung cấp cho địch, đã từng là một yếu tố chính yếu gây ra hòan cảnh bất lực của QĐVNCH”. xiii

Westmoreland vẫn đã cứ luôn luôn cố tìm cách trốn tránh để phải chịu trách nhiệm về việc đã từng để quá lâu mà không chịu trang bị đúng đắn cho quân đội Nam Việt Nam, và dường như cũng đã thậm chí chưa bao giờ chịu nghĩ đến việc cung cấp cho họ loại súng trường M-16 cùng các loại vũ khí tân kỳ khác, trước khi đã trang bị xong rồi cho chính các lực lượng Hoa Kỳ của mình. Ông cũng từng đã được Tướng Earle Wheeler, vị Tham Mưu Trưởng Liên Quân, mà một cách thật là khó hiểu được, tán thành theo, một kẻ mà cũng từng đã có một lần, đánh một công điện cho Westmoreland là: “Chắc ông cũng sẽ nhanh chóng nhận thức được ra liền những khó khăn tế nhị về giao tế công khai mà sẽ bị xảy ra, nếu chúng ta đi trang bị loại súng M- 16 cho các đơn vị không phải của quân đội Hoa Kỳ, trong khi mà các đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ thì lại chỉ được cung cấp cho loại súng ít được ưa chuộng hơn”. Vì vậy: “Tôi cần phải yêu cầu ông tạm dời lại việc trang bị cho các đơn vị không thuộc quân đội Mỹ với loại súng trường M-16, cho đến khi chúng ta có thể giải quyết rõ ràng xong cho được cái tình hình súng ống này thôi“. xiv (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Đại Tướng Earle “Bus” Gilmore Wheeler (1908 – 1975)

 ◊◊◊

Westmoreland đã quá ư là hăng say để rồi không ngừng nghỉ chỉ lo ưu tiên cho các đơn vị Mỹ, còn xem phía Nam Việt Nam như chỉ là sẽ dành cho vào giai đoạn cuối cùng mà thôi, mà thậm chí, còn chủ trương áp dụng chính sách này luôn cả về mặt đạn dược luôn. Westmoreland có viết trong hồi ký của mình, “Có một dạo, trong thời gian vào năm 1966, lượng dự trữ đạn dược bị xuống khá thấp, buộc tôi phải hạn chế phía pháo binh VNCH chỉ còn có hai trái cho mỗi ngày cho mỗi khẩu pháo, nhưng không có đơn vị Mỹ nào mà lại phải thiếu thốn đạn dược cả“. xv (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Trong khi đó thì toàn bộ kho vũ khí của các lực lượng địch lại đã được cải thiện một cách cực kỳ đầy hiệu quả. Một tài liệu sử của cộng sản về cuộc chiến tranh có cho biết: “Trong năm 1966, nhiều loại vũ khí mới cùng nhiều quân nhu quân dụng đã được gửi ra chiến trường, nhằm gia tăng trang thiết bị của lực lượng chính quy và các đơn vị địa phương”. Việc nâng cấp kể cả gia tăng thêm số lượng vũ khí và cũng cung cấp thêm các loại được cải tiến, gồm loại phóng hỏa tiễn B-40 và B-41. Súng xung kích AK-47 thì cũng đã được cấp cho các đơn vị xuống tận các địa phương”. Và rồi thì nào là các loại súng trường không giật mới và tốt hơn, nào là súng cối, súng phòng không cũng đã được phát xuống tận cho các tiểu đoàn địa phương của các tỉnh. xvi

QĐVNCH cũng đã từng bị chỉ trích khá nhiều trong những năm tháng đó, kể cả bởi vài người Mỹ mà cũng đã từng phục vụ ở đó. Nhưng Tướng Fred Weyand thì lại đã đi liên kết các thất bại từng được ghi nhận của các lực lượng đó với sự hỗ trợ xem ra thì cũng không ra là gì cả của Westmoreland đối với họ. Weyand đã tuyên bố, “Lý do tại sao một số tiểu đoàn của QĐVNCH, cũng như các đơn vị ĐPQ và NQ, đã không hề bao giờ chịu hành quân xa với các căn cứ kiên cố của họ dạo 1965 và 1966, thì là vì họ đã đang bị, nói theo đúng nghĩa, hoàn toàn bị bao vay bởi một kẻ địch mạnh mẽ, nhưng lại rất ư là vô hình và các đơn vị của họ thì chỉ được trang bị với các loại súng nhẹ mà thôi, cũng như họ rất thiếu quân số, thì cũng đơn giản là họ không có khả năng để mà đối phó với chúng mà thôi”. xvii

Sự chênh lệch về các trang bị, đặc biệt là vũ khí, đã cứ vẫn tồn tại suốt trong nhiệm kỳ chỉ huy của Westmoreland tại Việt Nam. Đại sứ Bunker cũng đã ghi nhận điều đó trong một công điện báo cáo gởi về cho Tổng thống lúc chỉ còn vài tuần nữa thì Westmoreland ra đi. Trong một công điện gởi đi vào ngày 29 tháng 2 năm 1968, Bunker đã cho biết: “Địch đã có khả năng trang bị cho bộ đội của chúng những vũ khí tân tiến; thường thì chúng được trang bị tốt hơn là các đơn vị của QĐVNCH, một sự kiện mà cũng đã có một ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần của QĐVNCH”.

 ◊◊◊

Những năm tháng từng bị lãng phí đó – cái thời gian mà quân đội Nam Việt Nam đáng lý đã phải dành ra để có thể phát triển về mặt lãnh đạo, về kinh nghiệm chiến đấu, và về khả năng sử dụng các loại vũ khí hiện đại hơn – đã có những hệ quả không cưỡng lại được như thác nước tuôn trào trong những năm mà quân đội Mỹ cứ đang rút đi. Ít ra nay nếu mà chịu nghiệm lại, thì ta cũng thấy là nhiều cộng tác viên cao cấp của Westmoreland thì cũng đã hiểu trước được những hậu quả tiêu cực sẽ có của chính sách lơ là quân đội Nam Việt Nam trong những năm tháng đó, và họ cũng đã từng lên tiếng như vậy về việc này. Nhân cuộc nghiên cứu điều tra với các vị tướng từng có chỉ huy tại Việt Nam thì Douglas Kinnard đã đưa ra một lô chính sách hành động mà, nếu được có một cơ hội khác, họ sẽ muốn được dành cho nhiều ưu tiên hơn. Chín mươi mốt phần trăm số tướng chịu trả lời (tỷ lệ cao nhất trong số tám mục của danh sách soạn bởi Kinnard) thì đã cùng chọn “cải tiến QĐVNCH. xviii (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Chuẩn Tướng lúc đã về hưu Douglas Kinnard (1922 – 2013) ►2

 Đại sứ Maxwell Taylor đã gảy gọn mô tả những năm tháng dưới thời của Westmoreland: “Chúng ta chưa hề bao giờ chịu quan tâm đến quân đội VNCH, Chúng ta đã không thèm đếm xỉa gì đến họ hết cả“. xix (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

◊◊◊

 

Tướng Creighton Williams Abrams, Jr. (1914 – 1974) 

Với chiến lược “Clear and Hold ~ Giải tỏa rồi Bám trụ

 Ngay khi Creighton Abrams chỉ mới tới Việt Nam có một tháng thôi (trong thời gian ông làm phụ tá cho Westmoreland), dạo đầu tháng 6 năm 1967, ông đã có đánh đi một công điện quan trọng về cho vị Tham Mưu Trưởng Lục Quân là Tướng Harold K. Johnson. Abrams đã nói: “Điều thật rõ ràng đối với tôi, thì chính là giới quân sự Hoa Kỳ ở đây và ở nhà, đã đều cùng chỉ đặt nặng và lưu tâm đến các chiến djch phát động bởi quân đội Mỹ và cũng chỉ để lo yểm trợ họ mà thôi”. Do đó: “Quân đội VNCH cùng ĐPQ và NQ đành phải để lại cho các cố vấn phụ trách mà thôi”. Abrams bèn nói thêm, “Tôi cũng hoàn toàn ghi nhận là tôi cũng đã có phần trách nhiệm trong sai lầm này như bất cứ ai. Hậu quả đã là sự thiếu hụt về trang thiết bị thiết yếu và về tiếp liệu, ngay trong một chính sách đã rất ư là khắc khổ rồi, thì lại vẫn không được giải quyết một cách khẩn cấp và năng động như chúng ta đã từng giải quyết với các nhu cầu của quân đội Mỹ. Trong khi đó thì trách nhiệm của chúng ta đối với QĐVNCH thì đã thật là rõ ràng mà thôi. Và cuối cùng, ông kết luận: “Việc làm căn bản thì lại phải bắt đầu bây giờ mà thôi. Tôi đang xúc tiến hoàn thành việc đó”. xx

Tướng Harold K. Johnson (1964 – 1968)

Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ

 Từ đầu tới cuối, thì Westmoreland cũng đã chỉ dành ưu tiên cho các lực lượng Hoa Kỳ, về tiêu chuẩn vũ khí tân tiến và các khả năng tăng gia tiềm năng chiến đấu như là không trợ cận kề, các phi vụ của B-52, pháo binh và phi cơ trực thăng. Lại còn cứ tăng thêm nhiều lực lượng Hoa Kỳ vào cuộc, để rồi đương nhiên họ sẽ phải tranh dành lẫn nhau con số quân nhu quân liệu đó, thì cũng sẽ đương nhiên càng làm cho ưu tiên của các đơn vị của QĐVNCH càng bị đẩy lùi xa mà thôi, thay vì là tiến gần lại, hầu đạt được vị thế sẽ đủ khả năng đứng lên đảm nhận vai trò chính yếu, trong việc bảo vệ đất nước của họ, hầu chống lại bọn cộng sản.

Westmoreland thì đã mãi cứ lo cho các lực lượng Hoa Kỳ của ông ta – mà đã quá ư là vượt xa quân đội Nam Việt Nam về mọi phương diện rồi – để được trang bị các khẩu súng M-16, các đại liên M-60, các súng phóng lựu M-79 mới, các thiết bị hiện đại nhất, trước khi ông ta quyết định chịu trang bị cho bên phía Nam Việt Nam. Quân đội Mỹ thì cũng đã quá ư là sung túc về phi cơ trực thăng có vũ trang, về không trợ cận kề, về pháo binh và về mọi loại súng cối, cũng như là muôn trùng phương tiện di chuyển trên bộ cùng trên không. Trong khi đó, Không Quân VNCH, từng bị đối xử không được gì là tốt cả, đã phải chống lại bọn VC và Bắc Cộng xuyên suốt trong nhiều năm, trong khi mà chúng thì đã được trang bị rồi với các loại vũ khí phòng không dành cho bộ binh hiện đại nhất do bọn Liên Xô thiết kế.

Với chủ trương của Westmoreland chỉ duy nhất chuyên chú vào một lực lượng lâm chiến duy nhất, và với phương cách cá nhân của ông ta chỉ sử dụng các lực lượng Mỹ mà thôi, thì cũng rõ ràng là ông ta cũng đã không bao giờ tin là phương thức hành động sáng suốt hơn đã sẽ phải là cung cấp mọi thiết bị hiện đại tân tiến nhất trước tiên cho phía Nam Việt Nam, và sau đó thì mới đến phiên các đơn vị Mỹ, nếu có còn lại dược thêm phần nào đó.

Vào cuối nhiệm kỳ của mình tại Việt Nam, tức là độ nữa năm sau khi ông ta lớn tiếng cho biết là mình đã tìm ra được giải pháp là Việt Nam hóa cuộc chiến, thì một bản danh sách đặt ưu tiên trong vấn đề cung cấp quân nhu quân liệu cho VNCH lại đã bác bỏ lời tuyên bố đó. Ưu tiên số 1 đã được dành cho các lực lượng Mỹ đang ở Đông Nam Á. Ưu tiên số 2 thì là cho lực lượng Hoa Kỳ đang được triển khai đến Đông Nam Á. Ưu tiên số 3 thì cho hậu cứ ngay tại quốc nội Mỹ để huấn luyện. Ưu tiên số 4 thì dành cho lực lượng Hoa Kỳ ở Nam Hàn. Ưu tiên số 5 được dành cho lực lượng trừ bị Mỹ khi được trưng dụng. Mãi cho đến cái Ưu tiên số 6 thì các lực lượng VNCH mà từng đã được nhắc đến biết là bao nhiêu lâu nay, mới lại đã được đề cập đến, và thậm chí sau đó, thì cụ thể cũng chỉ là có tính cách nhỏ giọt mà thôi với thời gian: “Trang thiết bị chiếu theo chính sách tối tân hóa theo định kỳ QĐVNCH. Trang thiết bị trong hoàn cảnh tự biên tự diễn nhằm cải tiến và hiện đại hóa các Nhóm Phòng Vệ Dân Sự Bất Chính Quy”. Cũng đã có ba ưu tiên thấp hơn trong danh sách đó, và cái vị trí cuối cùng thì cũng có tính khá ư là rã ràng. Ưu tiên số 9: “Trang thiết bị nhằm tăng trưởng QĐVNCH trong Tài Khóa 1969“. xxi (Đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

 

Đại Tướng Richard Giles Stilwell (1917 – 1991)

Từng chỉ huy Lực Lượng Mỹ tại Nam Hàn từ 1973 đến 1976 và Chỉ huy Quân Đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ từ tháng 9 đến tháng chạp năm 1974.

Tướng Richard Stilwell thì cũng đã có một tầm nhìn dứt khoát về hiện tình lúc đó: “Tôi nghĩ là một trong những khác biệt quan trọng nhất giữa hai nhiệm kỳ của Westmoreland và của Abrams là, với vị tiền nhiệm, ưu thế vượt trội đã được dành cho việc tổ chức và duy trì cho các lực lượng Hoa Kỳ. Và chương trình huấn luyện, trang bị, nuôi dưởng, giúp đở QĐVNCH cũng đã bị đẩy vào hàng thứ yếu – mãi cho tới khi Abrams thay thế”. xxii Trong cuộc khảo sát của Douglas Kinnard về những nỗ lực trong việc Việt Nam Hóa “được bắt đầu từ năm 1969”, 73 phần trăm các tướng từng đã chỉ huy tại Việt Nam mà đã chịu trả lời, đã cho biết là chính cái chương trình đó “đúng ra thì đã phải được được đặt nặng nhiều năm trước rồi”. xxiii Vị quân nhân cao cấp nhất của Việt Nam, Tướng Cao Văn Viên, sau cuộc chiến, thì cũng từng đã nói: “Quân Đội Hoa Kỳ và QĐVNCH đã lãng phí mất đi bảy năm trời kể từ năm 1961, khi mà chỉ có một chính sách khá ư là miển cưỡng trong việc phát triển QĐVNCH”. xxiv (Những đoạn này KHÁC màu do người chuyển ngữ để nhấn mạnh)

Lịch sử của Ban Tham Mưu Liên Quân (JCS ~ Joint Chiefs of Staff),thì có trình bày sự thật: “Hoa Kỳ đã có nhằm sẽ tăng cường cho QĐVNCH, chung trong số các mục tiêu được đưa ra, kể từ khi bắt đầu can dự vào Nam Việt Nam, nhưng trong giai đoạn từ năm 1965 đến đầu năm 1968, sự chú tâm chính yếu của Mỹ thì đã lại chỉ tập trung vào việc xúc tiến các chiến dịch mà thôi. Mãi cho đến sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968, khi Tổng thống Johnson bác bỏ việc gia tăng thêm quân số Mỹ ở Nam Việt Nam, thì Hoa Kỳ mới chịu tiến hành một cách nghiêm túc để chuẩn bị cho VNCH rồi đây sẽ đãm nhận gánh nặng chiến đấu”. xxv Vào lúc đó thì cũng là lúc Westmoreland quy cố hương.

_____________________________

i.

Lời phê của Westmoreland bên lề trên bản cuốn sách ‘The War Managers’ mà Douglas Kinnardc đã gởi cho ông ta, rồi sau đó thì cũng đã bị ông ta ghi chú phê bình đậm trước khi gởi trả lại cho Kinnard, trg 23.

ii. 

Buddha’s Child, trg 336.

iii.

Ngô Quang Trưởng, RVNAF and US Operational Cooperation and Coordination, trg 166.

iv.

Hoàng Ngọc Lung, Strategy and Tactics, trg 73.

v.

Đồng Văn Khuyên, RVNAF Logistics, trg 57.

vi.

Ghi chú của Westmoreland, Thùng 41, WPSCL.

vii.

Westmoreland, “General John Throckmorton”, tài liệu ghi lại lời của ông ta để chuẩn bị cho viết hồi ký, Thùng 41, WPSCL. Cựu Giám đốc Ban Quân Sử Lục Quân là Chuẩn Tướng James Lawton Collins Jr., “Sau năm 1965 việc bành trướng của lực lượng Mỹ đã tư từ các nhu cầu về quân nhu và quân liệu của quân đội VNCH vô hậu trường. Tới tháng chạp năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng cũng đã ta chỉ thị là vụ chuyển giao súng M-16 cho quân đội VNCH và Cộng Hòa Hàn Quốc mà từng đã được bố trí cho họ thì nay sẽ phải bị chuyển qua cho các đơn vị Hoa Kỳ”. The Development and Training of the South Vietnamese Army, trg 101.

viii.

Time (19 Tháng 4 Năm 1968).

ix.

Tướng Harold Keith Johnson trong cuộc phỏng vấn CMH, 20 Tháng 11 Năm 1970.

x. 

Như trên.

xi.

Tướng Frank S. Besson Jr. trong Oral History, MHI.

xii.

Collins, Development and Training of the South Vietnamese Army, trg 101.

xiii.

Weyand, Debriefing Report, Headquarters, II Field Force, Vietnam, 4 Tháng 10 Năm 1968, Thùng 15, WPCMH.

xiv.

Điện thơ, Wheeler gởi cho Sharp và Westmoreland, JCS 6767-66, 4 Tháng 11 Năm 1966, Thùng 4, WPCMH.

xv.

Westmoreland, A Soldier Reports, trg 243.

xvi.

Military History Institute of Vietnam, Official History, trg 193.

xvii.

Weyand, Debriefing Report, Headquarters, II Field Force, Vietnam, 15 Tháng 7 Năm 1968.

xviii.

Kinnard, The War Managers, trg 176. Có thể chọn hơn một câu trả lời, và cùng một số tướng – 91% – cũng đã chọn “tuyển định các mục tiêu”.

xix.

Như đã được viện dẫn bởi Andrew F. Krepinevich, trong tác phẫm “Vietnam: Evaluating the Ground War, 1965-1968”, và trong sách của Showalter và Albert, xuất bản, An American Dilemma, trg 99. Krepinevich đã nêu ra một cuộc phỏng vấn với Taylor vào ngày 17 Tháng 6 Năm 1982.

xx.

Điện thơ, Abrams gởi cho Johnson, MAC 5307, 040950Z Tháng 6 Năm 1967, CMH.

xxi.

Army Chief of Staff’s Weekly Summary (21 Tháng 5 Năm 1968).

xxii.

Phỏng vấn Stilwell, 26 January 1989.

xxiii.

Kinnard, The War Managers, trg 144.

xxiv.

Viên và Khuyên, Reflections, trg 80.

xxv.

 JCS History 1969-1970, trg 177.

*****

  http://www.banvannghe.com/a3493/cuoc-song-cua-nguoi-linh-chien-dia-phuong-quan-va-nghia-quan-nguyen-van-quan

M-16 cùng Người Lính VNCH vào Những Ngày Cuối Cùng

 

Nghĩa Quân và khẩu M-16

http://www.tqlcvn.org/tqlc/bk-nhungchiensi-dpq-nq.htm

 

 AK-47 và M16 được xem là chuẩn mực, đại diện cho hai trường phái quân sự lớn nhất thế giới

 

Nòng súng M16 dài hơn nên tầm bắn thiết kế xa hơn AK-47

http://soha.vn/quan-su/ak-47-va-m16-sung-nao-ban-chinh-xac-hon-20141209095535102.htm

M16 là tên của một loạt súng trường do hãng Colt cải tiến từ súng ArmaLite AR-15 dân sự. Đây là loại súng tác chiến bắn đạn 5,56×45mm của NATO.

http://www.baomoi.com/sung-truong-tan-cong-m16-cua-my-vu-khi-co-do-tin-cay-cao/c/17129397.epi

 *****

Chú thích của người chuyển ngữ

Tất cả các hình trong tài liệu là do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

►1

Xem thêm trang về Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, là người rất xứng đáng với vai trò kín đáo nghề nghiệp!

http://nguyentin.tripod.com/dt_hoangngoclung.htm

►2

Chuẩn Tướng Douglas Kinnard từng được truy thưởng nhiều huy chương về các chiến công trong cuộc chiến Việt Nam và nhiệm sở cuối cùng tại đó là Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Dã Chiến II (II Field Force). Năm 1948, ông tưng tốt nghiệp Cao Học về Chính Trị Học tại Đại Học Princeton rồi năm 19973, thì lấy bằng Tiến Sĩ cùng môn cũng tại đó.

Tới năm 1970 thì ông xin xuất ngũ.

Sau đó, ông đã làm phụ tá giáo sư (assistant professor) từ 1973-1976 về môn chính trị học tại Đại Học Vermont, Burlington, rồi lên phụ giảng (associate professor) từ 1976-1979 và giáo sư thực thụ (professor) tư 1978-1984.

Khác với nhiều sử gia khác, ông đã cung cấp một quan niệm khá dị biệt về cuộc chiến đó, đặc biệt nhất là trong tác phẫm “The War Managers” (1977 ~ New Hampshire xuất bản), mà theo đó, các tướng lãnh từng tham chiến tại Việt Nam thì đều chỉ trích cái chiến lược từng đã được áp dụng. Trong số nhiều băn khoăn của họ, thì họ cũng ghi nhận là các con số báo cáo về số tử vong của địch đều đã bị thổi phồng chỉ để ráng chứng minh là chiến lược đang thành công, cũng như là các chiến thuật của Quân đội Mỹ với các chiến dịch hầu tìm-và-diệt địch thì đều hoàn toàn vô hiệu quả mà thôi.

Rồi ông cũng dã hoàn thành một công trình phỏng vấn bằng hình thức một danh sách câu hỏi được gởi tới hơn cả 170 tướng lãnh Mỹ mà từng đã tham dự cuộc chiến đó từ 1965 tới 1972, (ông đã tự loại ra khỏi danh sách này), mà theo đó, chỉ có 100 vị chịu tham dự và kết quả đã được University Press of New England xuẩt bản.

►3

Một số tài liệu về khẩu M-16 nổi tiếng trên Liên Mạng:

Comparison of the AK-47 and M-16

https://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_the_AK-47_and_M16

****

Here’s why the US military is replacing the M16

http://www.businessinsider.com/heres-why-the-us-military-is-replacing-the-m16-2015-10

****

TÌM HIỂU SÚNG TRƯỜNG CÁ NHÂN CỦA QUÂN ĐỘI VNCH

https://dongsongcu.wordpress.com/2016/05/08/tim-hieu-sung-truong-ca-nhan-cua-quan-doi-vnch/

*****

Cuộc sống của người lính chiến Địa Phương Quân và Nghĩa Quân – Nguyễn Văn Quan

Thursday, August 22, 201312:00 AM(View: 10064)

http://www.banvannghe.com/a3493/cuoc-song-cua-nguoi-linh-chien-dia-phuong-quan-va-nghia-quan-nguyen-van-quan

*****

AK-47 và M16 súng nào bắn chính xác hơn?

http://soha.vn/quan-su/ak-47-va-m16-sung-nao-ban-chinh-xac-hon-20141209095535102.htm

 

*****

 

 

 

%d bloggers like this: