Kế Hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt

Chiến Dịch Móc Vịt

Operation Duck Hook

Nếu đám ếch VC dưới dáy giếng mà cứ mãi oang oang “Đánh Mỹ Cút, Ngụy Nhào” đã biết được Chiến Dịch Móc Vịt (Operation Duck Hook) thì không những chúng đã phải câm tiếng ca hát mà cũng đã phải lăn quay ra chết vì quá kinh hãi.

Nếu Chiến Dịch Móc Vịt (Operation Duck Hook) đã vẫn tiến triển thì người Việt Quốc Gia đâu bị Đau Thương 30 Tháng 4 Năm 1975!

Vụ này vẫn còn là một đề tài được bàn cải nóng bỏng vì chỉ mới rải rác có vài tài liệu giải mật đã đề cập tới nó mà thôi, nên cũng không tránh được những chi tiết dị biệt, đôi lúc còn mâu thuẩn nhau nữa, nhất là khi các nhân vật liên hệ chính yếu như Tổng Thống Nixon thì đã ra người thiên cổ còn tay Kissinger thì chúng ta không thể bao giớ tin được và khã dỉ những người có biết được như Đại tá Alexander Haig thì cũng né tránh vụ bàn cải chi tiết vô đề tài này!

Chúng ta có thể lưu ý là có nhiều bình luận khác nhau như ở mục số 8 dưới đây, AP Washington lại nói là cả hai vị bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại Giao Melvin Laird và William Rogers đều cùng phản đối kế hoạch này trong khi ở mục số 7 thì lại nói là hai người này không hề hay biết về kế hoặch này!

 

Theo TS Roger Canfield (trong sách Americong) thì chính Đề Đốc Moorer, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã soạn thảo Duck Hook ~ Móc Vịt vào ngày 20 tháng 7 năm 1969 nhưng bộ trưởng Quốc phòng không chấp thuận. Còn theo vài tài liệu mới được giải mật của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thì lại chính là Đại Tá Rembrandt C. Robinson là cha đẻ của kế hoặch khi phục vụ trong Ban Tham Mưu Các Tham Mưu Trưởng Liên Quân vào cùng năm. Trong khi đó, ở mục số 2 dưới đây, trang liên mạng http://www.history.com  thì lại nói là chính văn phòng của Tham Mưu Trưởng Hành Quân Hải Quân soạn thảo.

Khởi đầu thì cái tên mật cũng quả là kỳ lạ: Duck Hook ~Móc Vịt. Một lối giải thích đã là nhóm tác giả từng là những tay mê đánh ‘golf’, vì đây cũng là một trong những danh từ chuyên biệt được dùng với môn giải trí (hay thể thao) này.

Tuy nhiên, những nét chính và tối yếu đã là kế hoặch được dự trù sẽ kéo dài chỉ trong bốn ngày và có thể được lặp đi lặp lại, nếu cần thiết.

Khái niệm chính đã rất khác xa với các kiểu hành quân không và hải trước đó.

Nói chung thì nó có tính cách rất ư là KHỐC LIỆT!

1/

Trong thời gian ngắn chỉ 4 ngày.

2/

Để đạt hậu quả quân sự và kinh tế lâu dài.

3/

Nhằm tác động tâm lý mạnh mẽ vào giới lãnh đạo Hà Nội và đương nhiên luôn vào nhân dân Bắc Việt.

4/

Trên biển thì phong tỏa bằng việc dùng phi cơ thả thủy lôi để cô lập các hải cảng Bắc Việt và luôn cả các hải cảng Kampuchia.

5/

Trên bộ thì có những phi vụ không tạc các mục tiêu chiến lược từ trước đến nay vẫn bị cấm. Trong số đó thì sẽ có cả hệ thống đê điều ở đồng bằng sông Hồng, các các mục tiêu quân sự và kinh tế trong và xung quanh Hà Nội và Hải Phòng luôn.

6/

Dùng vũ khí hạch nhân chiến thuật để phá hủy hệ thống hỏa xa, nhất là các đường sắt nối liền với Trung cộng.

7/

Phá hủy, có thể bằng các thiết bị hạt nhân với năng suất thấp các đường đèo chính dọc đường mòn Hồ Chí Minh.

8/

Đổ bộ đánh chiếm Bắc Việt.

9/

Sử dụng vũ khí hạch nhân, NẾU CẦN, như khi Trung cộng hay Liên Xô phản ứng mạnh lại!

Theo mục số 5 ở phần dưới thì:

Tuy nhiên, liệu đã sẽ ra sao nếu Tổng thống Nixon đã không bao giờ từ bỏ kế hoặch Duck Hook ~ MócVịt  trong tháng 11 năm 1969 và chiến dịch đã thực sự khởi đầu vào đầu năm 1970?

Liệu mưu tính của Tổng thống để buộc Bắc Việt đến bàn hòa đàm qua việc gia tăng leo thang quân sự có sẽ thành công hay không? Liệu cuộc chiến tranh Việt Nam đã có thể khác hẳn nhờ việc sử dụng các vũ khí hạch nhân chiếu theo đề nghị của Kissinger hay ngay cả chính Tổng thống Nixon? Các câu hỏi liên quan đến kế hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt quả là vô tận nhưng cũng không kém phần thú vị.

Nhưng, để rồi, người Việt chúng ta lại vẫn mãi mãi lệ thuộc vào ‘người khác’ đề quyết định vận mệnh đất nước của chúng ta sao!!!

 

Lê Bá Hùng

Quốc Hận 2013

*****

1/

http://en.wikipedia.org/wiki/Duck_Hook

 Móc Vịt ~ Duck Hook (mà giới quân sự đặt tên mật mã là Dao Tỉa ~ Pruning Knife) đã chính là tên mật mã của một chiến dịch mà Tổng thống Richard Nixon đã từng đe dọa sẽ tung ra tấn công Bắc Việt vào thời chiến tranh Việt Nam trong trường hợp Bắc Việt không nhượng bộ chấp thuận các đòi hỏi của Washington tại cuộc hòa đàm Ba-lê. Móc Vịt ~ Duck Hook gồm luôn việc không tạc bằng bom hạch nhân các mục tiêu quân sự và kinh tế nằm trong và chung quanh Hà Nội, đặt thủy lôi phong tỏa Hải Phòng và các hải cảng khác, không tạc các đường liên lạc phía đông bắc của Bắc Việt Nam cũng  như các đường đèo và cầu xá ở biên giới với Trung Cộng và phối hợp với các trận tấn công trên không cùng trên bộ vào các mục tiêu khác trên khắp toàn cõi Việt Nam.

Các tài liệu từng được giải mật đã tiết lộ là Móc Vịt ~ Duck Hook có dự trù sử dụng vũ khí hạt nhân. Một tài liệu đính kèm theo một bản ghi nhớ mà Henry Kissinger đã gởi trình lên Nixon có đặt câu hỏi: “Chúng ta có nên chuẩn bị để sử dụng vũ khí hạt nhân hay không?” Bản ghi nhớ có cảnh cáo là “Bởi vì chúng ta không thể dự đoán được thời điểm chính xác mà Hà Nội sẽ bị buộc phải đáp ứng thuận lợi, chúng ta phải chuẩn bị để làm được bất cứ điều gì cần thiết.”  Bản ghi nhớ của Kissinger cũng nói là “Để đạt được hiệu quả tối đa trên cách suy luận của Hà Nội, hành động này cần phải tàn bạo.” [phần nhấn mạnh đã có ngay trong bản gốc]

Một vài ngày trước đó, một tài liệu từ hai phụ tá của Kissinger là Roger Morris và Anthony Lake đã có nói trước là Tổng thống cần chuẩn bị “để quyết định trước cho câu hỏi định mệnh là chúng ta sẽ đi bao xa. Chẳng hạn, Ông không thể chờ để chỉ phải quyết định có dùng tới vũ khí hạch nhân chiến thuật hay không ngay trong khi kế hoặch đã đang tiếp diển rồi. Ông phải đã chuẩn bị trước để hành xử đúng theo những gì đã từng tính toán trước trong trường hợp cần thiết này.” Cách hành văn tương tự trong bản ghi nhớ của Kissinger đưa ra rõ ràng là đã đề cập đến vấn đề vũ khí hạch nhân khi ông nói là để “làm được bất cứ điều gì cần thiết.”

Kissinger đã khuyến cáo chống lại kế hoặch Móc Vịt ~ Duck Hook vào ngày 17 tháng 10.  Vào ngày 1 tháng 11 năm 1969, Nixon tự quyết định từ bỏ nó. Điều này đã được xem như vì là:

• đã có những dè dặt về khã năng hiệu quả của Móc Vịt ~ Duck Hook;

• sự hỗ trợ của công chúng cho cuộc chiến đang tiếp tục giảm;

• có những dấu hiệu của những sự bất ổn về chính trị và

• Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird cùng Ngoại trưởng William P. Rogers chống lại việc leo thang quân sự. [*]

Cùng lúc hủy bỏ kế hoặch Móc Vịt ~ Duck Hook, có vẻ như là Nixon đã bắt tay vào một chiến lược mới để bắt đầu một “loạt gia tăng hăm dọa là sẽ có những biện pháp [hạch nhân] nhằm cho Liên Xô biết sự sẵn sàng đang gia tăng của các lực lượng chiến lược của Mỹ”, theo lời của phụ tá của Kissinger là Đại tá Alexander Haig.

*****

[*]

William Burr and Jeffrey Kimball, eds., “Nixon White House Considered Nuclear Options Against North Vietnam, Declassified Documents Reveal: Nuclear Weapons, the Vietnam War, and the ‘Nuclear Taboo,'” National Security Archive Electronic Briefing Book No. 195, 31 July 2006.

*****

 2/

http://www.history.com/this-day-in-history/duck-hook-plan-completed

Một nghiên cứu tối mật, theo yêu cầu của Phụ Tá Tổng thống là Henry Kissinger, mà đã được hoàn thành bởi văn phòng của Tham Mưu Trưởng Hành Quân Hải Quân. Có tên mật mã là Móc Vịt ~ Duck Hook, bản nghiên cứu đề nghị các biện pháp leo thang quân sự chống lại Bắc Việt Nam. Các biện pháp quân sự gồm một vụ không tạc khổng lồ đánh xuống Hà Nội, Hải Phòng và khu vực quan trọng khác của miền Bắc Việt Nam; một cuộc đổ bộ vào Bắc Việt Nam; bỏ thủy lôi phong tỏa các hải cảng và sông ngòi;  một chiến dịch không kích nhằm cắt đứt các đường sắt chính với Trung Cộng. Tổng số 29 mục tiêu chủ yếu ở Bắc Việt Nam đã được liệt kê một cách chính xác để tiêu hủy trong một loạt không tập dự trù kéo dài trong bốn ngày đêm và sẽ được tái diễn cho đến khi Hà Nội phải đầu hàng. Kế hoạch này quả là cho một sự leo thang chiến tranh cực kỳ và cuối cùng đã không hề được lệnh của Tổng Thống Richard Nixon cho thực hiện. Tuy nhiên, Nixon cũng đã có đưa ra một số quyết định tiên liệu trong kế hoặch này, chẳng hạn như các vụ gia tăng không tạc Hà Nội và Hải Phòng và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt Nam để đáp ứng với vụ Bắc Việt tấn công vào năm 1972 .

*****

 3/

http://www.paperlessarchives.com/vw_nuclear_option.html

 

TÒA BẠCH ỐC ~ HỒ SƠ MÓC VỊT / DUCK HOOK

91 trang tài liệu liên quan tới các kế hoặch “Duck Hook ~ Móc Vịt”. Các hồ sơ của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia từ 29 tháng 9 đến 2 tháng 10 năm 1972.

Khi Tổng thống Richard Nixon nhậm chức vào tháng Giêng năm 1969, một ưu tiên hàng đầu đã là tìm cách kết thúc của Chiến tranh Việt Nam theo một cách thuận lợi cho Hoa Kỳ. Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger đã đưa ra một chiến lược, kết hợp ngoại giao với mổi đe dọa gia tăng không tạc chiến lược. Henry Kissinger đã thành lập một ủy ban để soạn thảo kế hoạch mà NSC đặc biệt gọi là “September Group ~ Nhóm Tháng 9″ còn được gọi là “nhóm ngẫu nhiên,” để đánh giá các kế hoạch bí mật do các nhân viên văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ở Washington và các nhà hoạch định quân sự ở Sài Gòn soạn thảo. Các nhà hoạch định quân sự đã phát huy chiến lược của Kissinger vào kế hoặch “Duck Hook ~ Móc Vịt”.

Duck Hook ~ Móc Vịt (tên mật mã quân sự là “Pruning Knife ~ Dao Tỉa“) là tên mật mã mà Tòa Bạch Ốc dùng cho một chiến dịch được đệ trình cho Tổng thống Richard Nixon xem xét nhằm trừng phạt Bắc Việt Nam trong thời chiến tranh Việt Nam, trong trường hợp nếu Bắc Việt đã sẽ không nhượng bộ các đòi hỏi của Washington tại các cuộc hòa đàm Ba-lê. Vài nhà sử học tin là Hook Duck ~ Móc Vịt nhằm có thể thả bom hạch nhân vào các mục tiêu quân sự và kinh tế trong và xung quanh Hà Nội, bỏ thủy lôi phong tỏa các hải cảng và sông ngòi, không tập nhằm cắt đứt các đường sắt chính ở đông bắc Bắc Việt cũng như là đèo và cầu xá nối liền với Trung Cộng cùng các trận đánh trên không và trên bộ vào các mục tiêu khác trên khắp Việt Nam.

Bộ tài liệu gồm một biên bản tóm lược ngày 29 tháng 9 năm 1969 do hai phụ tá Roger Morris và Anthony Lake của Henry Kissinger gởi Đại úy Rembrandt  Robinson thuộc văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân và đơn vị liên lạc quân sự của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Toà Bạch Ốc. Trước đó, Robinson đã từng soạn thảo các kế hoạch Hook Duck ~ Móc Vịt cho các cuộc tấn công vào Bắc Việt Nam. Lake và Morris đã chỉ trích kế hoạch này và nói là kế hoặch phải “làm cho rõ ràng là ”September Group ~ Nhóm Tháng Chín” đã chủ trương Tổng thống cần phải chuẩn bị trước để chấp nhận hai khái niệm về hành quân: “Duck Hook ” phải khốc liệt và bền vững” cũng như “tự chế”. Về yêu cầu thứ hai thì Tổng Thống sẽ cần phải dứt khoát trước để “trả lời cho câu hỏi định mệnh là liệu chúng ta chấp nhận tiến xa tới mức nào? Chẳng hạn, Tổng Thống  không thể chờ và chỉ quyết định có nên dùng vũ khí hạch nhân chiến thuật không vào lúc chiến dịch đã đang tiếp diễn rồi. Tổng Thống  lúc đó đã phải sẳn sàng để làm điều  cần thiết trong một trường hợp như vậy.” Biên bản tiếp tục là kế hoạch cần phải nêu, “rõ ràng và đầy đủ tất cả các hậu quả gây ra bởi quyết định đó, trong trường hợp mà Tổng thống quyết định làm điều đó.”

Một bản phụ đính kèm vào biên bản ngày 2 tháng 10 năm 1969 mà Henry Kissinger gởi cho Nixon có đặt câu hỏi: “Chúng ta có sẳn sang để sử dụng vũ khí hạch nhân không?” Biên bản đã cảnh cáo là “Bởi vì chúng ta không thể dự đoán được thời điểm chính xác mà Hà Nội sẽ bị buộc phải đáp ứng thuận lợi, chúng ta phải chuẩn bị để làm được bất cứ điều gì cần thiết.” Bản ghi nhớ của Kissinger cũng nói là “Để đạt được hiệu quả tối đa trên cách suy luận của Hà Nội, hành động này cần phải thật là khốc liệt.” [phần “hành động này cần phải thật là khốc liệt” được nhấn mạnh ngay trong bản gốc]

Biên bản trước đó của hai phụ tá của Kissinger là Roger Morris và Anthony Lake đã nói là Tổng thống phải được chuẩn bị “để quyết định trước câu hỏi định mệnh là chúng ta sẽ đi bao xa? Chẳng hạn, Tổng Thống không thể chỉ quyết định có nên dùng vũ khí hạch nhân chiến thuật không vào lúc chiến dịch đã đang tiếp diễn. Tổng Thống lúc đó đã phải sẳn sàng để làm điều cần thiết trong một trường hợp như vậy.” Cách hành văn tương tự trong bản ghi nhớ của Kissinger đã khiến vài sử gia tin là Kissinger đã ám chỉ tới vấn đề vũ khí hạch nhân khi ông nói là để “làm được bất cứ điều gì cần thiết.”

Các tài liệu có bao gồm phác thảo những loại mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam. Đại cương khái niệm quân sự liên quan đến một số chiến dịch không và hải quân, được tiến hành song song trong thời gian ngắn nhưng cực kỳ khốc liệt.” Một báo cáo dành cho Tổng Thống đã tóm tắt là những hành động này sẽ rõ rệt rất khác với các chiến dịch không và hải quân đánh vào Bắc Việt trước đó”.

Trong hồ sơ cũng có một bản thảo dài mười tám trang để Tổng thống Nixon đọc gởi toàn dân Mỹ vào ngày phát động chiến dịch Hook Duck ~ Móc Vịt. Trong khi đã không đề cập gì đến việc sử dụng vũ khí hạch nhân chiến thuật, bài diển văn cũng đã nhấn mạnh tới từng điểm trong diển tiến của kế hoặch chỉ trong một thời gian ngắn, nhằm để gây ra ngở ngàng cho Bắc Việt. Cách hành văn cho thấy đó sẽ là một hành động cực kỳ quyết liệt. Bài phát biểu đã không bao giờ được sử dụng và đã được một số người cho đó là một thông báo trước cho công chúng về việc Mỹ sẽ sử dụng vũ khí hạch nhân chiến thuật ở Việt Nam .

Một đoạn trong bài diển văn đã là, “Lời cảnh cáo này được gởi riêng đến trưởng đoàn đàm phán của Hà Nội ở Ba-lê vào đầu tháng 8. Ông ta đã được thông báo là nếu không có tiến bộ quan trọng nào trong việc giải quyết chiến tranh để đạt được vào ngày đấu tháng 11, chúng ta sẽ được bắt buộc phải có những biện pháp mà hậu quả sẽ cực kỳ trầm trọng.” Nhưng tối hôm nay – sau nhiều tháng nghiên cứu và thảo luận kỷ càng nhất – tôi phải báo cáo với toàn dân là Hà Nội đã thực sự lính toán sai lầm một cách bi thảm về ý chí và mục tiêu của chúng ta. Họ đã khước từ nghe lời cảnh cáo rất rõ ràng của chúng ta. Đối với thế giới, họ đã từ chối không chịu tin Hoa Kỳ.” Trong một đoạn sau đó của bài phát biểu, cách phát biểu đã trở thành rất ư là dứt khoát,” Quyết định này thuộc trách nhiệm của tôi. Đó là trách nhiệm chung của chúng ta – quý vị và tôi – để chứng minh quyết chí không thể nào suy suyển của chúng ta nhằm giải quyết để chấm dứt cuộc chiến này “.

Các đề tài trong hồ sơ này: Kế hoạch Khái niệm về các Chiến sự. Đánh giá các Hoạt động quân sự: Thực hiện các cuộc không kích chính nhắm vào Bắc Việt, Khả năng Đối Không, Phong Tỏa các hải cảng Bắc Việt, Lảm Tê liệt hệ thớng hỏa xa vùng Đông Bắc và các Cuộc không tạc vào các mục tiêu quan trọng khác, Đánh vở hệ thống đê điều ở đồng bằng sông Hồng. Các Hoạt động của Bắc Việt và Tiến Trình của các chiến dịch  Mỹ: Ước tính của Hà Nội về các Dự tính Hoa Kỳ, Khả năng của Hà Nội để tiếp tục nhận được viện trợ kinh tế bên ngoài, Ước tính của Hà Nội về các điều kiện chính trị nội bộ, Các Mục tiêu chính trị cần thực hiện nhờ các Hoạt động Quân sự. Thái độ của Liên Xô và các biện pháp đối lại của Mỹ. Các Hoạt động của Trung cộng và cách Mỹ phản ứng lại. Những kịch bản phối hợp ngoại giao và quân sự.

Bốn ngày sau khi có bản ghi nhớ của Kissinger, vào ngày 6 thángt 10 năm 1969 thì Nixon đã quyết định không tiến hành chiến dịch Duck Hook ~ Móc Vịt nữa.

Những lý do cho quyết định này đã được cho là: đã có những dè dặt không tin lắm về tiềm năng hiệu quả của Duck Hook ~ Móc Vịt, hỗ trợ của công chúng về cuộc chiến đang tiếp tục giảm, có những dấu hiệu lộn xộn về chính trị và Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird cùng Ngoại trưởng William P. Rogers chống lại việc leo thang quân sự. Những người khác thì đã tin là các mục tiêu của Duck Hook nhằm đánh một mục tiêu một lần thôi mà không cần phải quay trở lại để không tạc thêm nữa đã sẽ chỉ là kiểu phô trương sức mạnh cực đoan nhằm buộc Bắc Việt chịu đàm phán để chấm dứt chiến tranh theo với các quy định có lợi cho Mỹ chỉ trong trong một chiến dịch chỉ kéo dài có bốn ngày thì chắc chắn phải cần sử dụng vũ khí hạch nhân chiến thuật, do đó kế hoạch này đã bị bác bỏ.

Cùng lúc với quyết định của Tổng thống Nixon hủy bỏ kế hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt, có vẻ như là Nixon đang phát động một chiến lược mới để bắt đầu một loạt cảnh cáo bằng cách gia tăng các vụ báo động cảnh giác về những biện pháp đánh trả bằng vũ khí hạt nhân để bắn tiếng cho Liên Xô về một sự gia tăng sẵn sàng của các lực lượng chiến lược Mỹ. Sự kiện này đã được gọi là “Kiểm tra về Mực Độ Sẳn Sàng của Văn Phòng Các Tham Mưu Trưởng Liên Quân.”

******

 

4/

http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB195/


image001

Tòa Bạch Ốc Đã Nghiên Cứu Các Khã Năng Hạch Nhân Chống Bắc Việt,

Các Tài Liệu Được Giải Mật Tiết Lộ Về Các Vũ Khí Hạch Nhân, về Cuộc Chiến Việt-nam và về “Đề Tài Hạch Nhân Cấm Kỵ” *

Tài Liệu Điện Toán Lưu Trử về Bộ Thuyết Trình Số 195

Được biên soạn bởi William Burr và Jeffrey Kimball

 

Nếu cần, xin liên lạc:

William Burr – 202/994-7000
Jeffrey Kimball – 513/529-5121

Đăng ngày 31 tháng 7 năm 2006

 image002

 

Tổng Thống Nixon họp với Henry Kissinger trong Oval Office,

 ngày 13 tháng 2 năm 1969.

(Tài liệu Quốc Gia, Dự án Các Tài liệu của Tổng Thống Nixon)

 image003

Rembrandt C. Robinson (1924-1972)

Bức ảnh này được chụp vào tháng 6 năm 1969, thời gian mà Đại Tá Hải quân Robinson bắt đầu soạn thảo kế hoặch bí mật “Duck Hook ~ Móc Vịt” cho Hội đồng An ninh Quốc gia.

Trước khi thi hành nhiệm vụ với tư cách nhân viên thuộc trong Ban Tham Mưu Trưởng Liên Quân vào đầu năm 1969, từ 1964 đến 1968, Robinson đã phục vụ trong bốn năm với tư cách phụ tá và tùy viên cho Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương CINCPAC, nơi ông đã nằm ngay tại trung tâm đầu não của các hoạt động quân sự ở Việt Nam.

 

Trong thời gian từ 1969 tới 1972, Robinson cũng phục vụ như là liên lạc viên giữa Hội đồng An ninh Quốc gia NSC với Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Joint Chiefs of Staff  JCS. Ngoài việc từng nắm một vai trò chính yếu trong ban tham mưu của NSC, vào năm 1970 thì Robinson cũng đã khởi xướng chương trình tình báo của JCS nhằm theo dõi Kissinger hầu giúp cho Chủ tịch của JCS là Moorer biết được mọi quyết định về chính sách của Toà Bạch Ốc mà khã dỉ sẽ ảnh hưởng đến quân đội. Được thăng cấp lên là Chuẩn Đề Đốc (Rear Admiral) vào năm 1970, Robinson đã tử nạn phi cơ trực thăng tháng 5 năm 1972 trong khi đang chỉ huy một hạm đội trong Vịnh Bắc Việt. Vụ này xẩy ra trong Chiến dịch Linebacker số 1 nhằm tấn công Bắc Việt mà kế hoạch Hook Duck ~ Móc Vịt trước đó của  Robinson đã từng phát họa. (Hình của Photographic Section, Naval Historical Center, Washington, D.C.)

 *****

Washington, DC – 31 tháng 7 năm 2006

Trong năm qua, việc có nhiều dấu hiệu cho thấy TT Bush đã thực sự xem xét một “giải pháp hạch nhân” nhằm đánh các trung tâm hạt nhân của Iran đã rất dễ hiểu khi gây lo lắng nhiều trên báo chí và công chúng cũng như đối với các giới chức chỉ huy cao cấp của Hoa Kỳ. Một số thì cho là việc này chỉ có tính cách thùng rổng kêu to nhằm hăm dọa mà thôi, trong khi một số khác thì coi đó như là thêm một ví dụ về chiến lược của một người điên mà thôi. Những gì đang xẩy ra đã không phải là không có một tiền lệ lịch sử. Suốt trong thời gian Chiến tranh Lạnh và ngay cả sau đó, các giới chức Mỹ đã cố gắng để sử dụng vũ khí hạt nhân, không chỉ để nhằm răn đe khã năng Liên Xô có thể mở cuộc tấn công trước nhưng mà còn là như những vũ khí “chiến thuật” trong các cuộc xung đột địa phương hay như là một yếu tố cốt yếu trong một chiến lược kềm chế đe dọa bằng phương pháp “ngoại giao nguyên tử.”

Các tài liệu vừa được giải mật đã cho thấy trong năm đầu tiên khi Richard M. Nixon lên làm Tổng Thống, các cố vấn trong Tòa Bạch Ốc đã sẵn sàng để nghiên cứu lại vấn đề  liệu có thể sử dụng vũ khí hạch nhân tại Việt Nam hay không. Các sĩ quan cấp cao và các cố vấn về chính sách trong chính quyền của Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson trước đó đã từng xem xét khả năng sử dụng vũ khí hạch nhân để đối phó với các cuộc khủng hoảng quân sự, để tạo áp lực vào các cuộc đàm phán hay để giải quyết các xung đột, nhưng rốt cuộc các cuộc thảo luận của họ đều đã vô ích vì bị “điều cấm kỵ hạt nhân” ăn sâu.

Điều cấm kỵ này gồm nhiều cân nhắc có tính cách luân lý mà cũng thực tế: giới chức sự sẽ phải quyết định sau khi hiểu rỏ các hậu quả tàn phá của vũ khí hạch nhân quả thật không tương xứng với các mục tiêu được nhắm đến trong các cuộc xung đột địa phương như là tại Việt Nam; sự chấp nhận của họ về hiểm họa từ một cuộc xung đột địa phương sẽ leo thang thành một cuộc chiến toàn cầu với Liên Xô; nhu cầu của họ để cân nhắc quan điểm của toàn thế giới, của đồng minh, của Quốc hội và của nhà cầm quyền; và các đánh giá của họ về sự lợi ích chiến lược và tính khả thi của vũ khí hạch nhân trong các điều kiện khác hơn với trường hợp phải cần trả đũa một cuộc tấn công hạch nhân của đối phương. (Ghi chú   1) Cách suy tính này cũng đã quyết định cho quan điểm của Tòa Bạch Ốc của thời Nixon về vũ khí hạch nhân liên quan đến vấn đề Việt Nam và, có vẻ như, cũng của cái Tòa Bạch Ốc của thời Bush đối với Iran. (Ghi chú  2)

Khi Nixon nhậm chức tổng thống vào tháng giêng năm 1969, một trong những ưu tiên hàng đầu của ông đã là phải kết thúc chiến tranh Việt Nam càng nhanh càng tốt theo các điều kiện thuận lợi cho chính quyền của ông. Đến giữa năm 1969, Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger đã chấp nhận một chiến lược ngoại giao quốc tế kết hợp cùng với các đe dọa và những lần biểu dương lực lượng hầu buộc Cộng hòa Dân chủ Việt Nam (Bắc Việt) phải theo ý muốn của họ. Trong nhiều lần suốt tháng 7 và tháng 8, họ và những người đại diện đã tuyên bố những lời cảnh cáo nghiêm trọng nhắm vào các nhà lãnh đạo ở Moscow và Hà Nội là nếu vào ngày 1 tháng 11 mà Bắc Việt  không chấp nhận thỏa hiệp chiếu theo các quy định của Mỹ, Nixon sẽ “có những biện pháp mà hậu quả và hiệu quả sẽ không thể nào lườn được “. (Ghi chú 3) Nếu những hăm dọa nói trên không ảnh hưởng gì tới Moscow để thuyết phục Hà Nội thỏa hiệp, thì sau đó giải pháp leo thang quân sự sẽ bắt đầu: đầy kịch tính, tạo áp lực quân sự bất ngờ bằng một chiến dịch đa diện chống lại Bắc Việt, gồm chủ yếu là các cuộc không tạc nặng nề sâu vào Bắc Việt, kể cả việc phong tỏa các hải cảng bằng thủy lôi.

Kissinger và nhân viên đã bắt đầu ít ra là vào đầu tháng 7 để phát triển các kế hoạch quân sự chuẩn bị dưới tên mật mã là “Duck Hook ~ MócVịt” (một kiểu gọi chắc có lẻ  mượn từ cách nói về chơi ‘golf’). Để đánh giá các kế hoạch bí mật được soạn thảo bởi  các thành viên của Văn Phòng Tham Mưu Liên Quân ở Washington và các nhà hoạch định quân sự ở Sài Gòn, Kissinger đã thiết lập một ủy ban kế hoạch gờm nhân viên của NSC, đặc biệt gọi là “September Group ~ Nhóm Tháng 9″ (hay còn gọi là “nhóm dự phòng”).  Kissinger đã từng thú nhận, “Tôi quả không tin là một đệ tứ quốc gia như Bắc Việt mà sẽ không có lúc phải quy hàng”.  “Đó chính sẽ là nhiệm vụ của nhóm này để nghiên cứu tìm ra giải pháp cho một hành vi khốc liệt, một đòn quyết tử đánh vào Bắc Việt. Quý vị phải bắt đầu làm việc mà không có bất kỳ thành kiến ​​nào cả.”  Ông nói thêm với họ, Tổng Thống muốn có một “kế hoạch quân sự nhằm tiêu hủy tiềm năng  quân sự của đối phương” để “buộc họ phải đi đến một kết quả nhanh chóng” cho cuộc chiến. (Ghi chú 4)

Theo một lời kể lại qua một trung gian, phóng viên Seymour Hersh đã viết là khi một nhân viên hỏi Kissinger liệu có nên bao gồm luôn vũ khí hạch nhân khi nghiên cứu hay không. Kissinger đã trả lời “Chính sách của chính quyền này là không sử dụng vũ khí hạch nhân.” Tuy nhiên, ông đã không loại trừ việc sử dụng “một thiết bị hạch nhân” để chận một đường xe lửa chính yếu đi qua được tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) nếu quả đó là cách duy nhất để làm được việc đó. Roger Morris, một thành viên của “September Group ~ Nhóm Tháng 9″ sau đó đã cho biết là mình được thấy ít ra là hai kế hoạch đánh vũ khí hạch nhân vào hai mục tiêu ở Bắc Việt. Cố vấn đặc biệt cho Tổng thống là Charles Colson – tuy không phải là một thành viên của nhóm đó nhưng khi hỏi giám đốc nhân sự H. R. Haldeman của Nixon vào năm 1970 về kế hoạch đang được nghiên cứu thì đã nói là Haldeman có nói “Kissinger đã vận động hành lang để được sử dụng vũ khí hạch nhân vào mùa xuân và mùa thu năm 1969″. Một phụ tá của Kissinger, Winston Lord, có bày tỏ sự ngờ vực với một trong những người viết phúc trình này: “Quả là tôi kông thể nào hiểu được là thậm chí họ có thể chỉ nghĩ đến điều đó.” Tuy nhiên, ông chấp nhận là Việt cộng có thể sợ vũ khí hạch nhân và phù hợp với  “lý thuyết người điên của Nixon.., chúng ta sẽ không ngại gì mà không xử sự đúng như họ từng sợ.” (Ghi chú 5)

Các tài liệu tiên khởi về kế hoạch tối mật Duck Hook ~ Móc Vịt cuối cùng đã bị lộ ra vào giữa tháng 11 năm 2005, khi dự án Nixon Presidential Materials Project của bộ Tài liệu Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ đã công bố một trong những tài liệu được giải mật hàng năm. Trong số các tài liệu về cuộc chiến Việt Nam đã có hai nguồn tin khã dỉ rõ ràng đặt ra  câu hỏi về việc liệu vũ khí hạch nhân có thể chăng sẽ được sử dụng trong các chiến dịch tại Bắc Việt.

Tài liệu thứ nhất ghi ngày 29 tháng 9 năm 1969 là một biên bản ghi nhớ do hai phụ tá của Kissinger soạn thảo là Roger Morris và Anthony Lake gởi cho Đại Tá Rembrandt Robinson (xem tài liệu 1), người đồng thời cũng là Giám đốc Văn Phòng Tham Mưu của Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Ngũ Giác Đài và cũng là Giám đốc đơn vị phụ trách liên lạc về quân sự của Hội đồng An Ninh Quốc Gia thuộc Toà Bạch Ốc. Trong cương vị người đồng nắm giữ nhiều  vai trò chủ yếu, Robinson đã là trung tâm điểm trong tiến trình soạn thảo kế hoạch Hook Duck ~ Móc Vịt nhằm chuẩn bị các cuộc tấn công vào Bắc Việt. Thông qua Robinson, hơn nữa, Hội đồng An Ninh Quốc Gia đã có thể có được cố vấn cần thiết để soạn thảo kế hoạch quân sự mà không cần phải thông qua Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, người mà Kissinger đã coi là một đối thủ về chính sách Việt Nam. Theo yêu cầu của Toà Bạch Ốc, Robinson đã chuẩn bị một tài liệu dài cho September Group ~ Nhóm Tháng 9 mà trong đó ông đã vạch ra các nét chính trong các kế hoạch tấn công Bắc Việt Nam của Ban Tham Mưu Liên Quân. Mặc dù tài liệu này vẫn chưa được tìm ra hay giải mật, rõ ràng là toàn bộ tài liệu đã không thỏa mãn được Morris và Lake – và có lẽ ngay chính cả Kissinger. Văn bản ngày 29 tháng 9 của họ gởi cho Robinson đã yêu cầu ông ta phải soạn thảo toàn thể lại để ngõ hầu có thể trình bày “rõ ràng và đầy đủ tất cả các hệ lụy có thể gây ra bởi kế hoặch [Duck Hook ~ Móc Vịt] trong trường hợp mà Tổng thống sẽ quyết định phát động nó.”

Lake và Morris đã giải thích là bản ghi nhớ của Robinson đúng ra đã phải “làm rõ ràng” cho September Group ~ Nhóm Tháng 9 để họ tin được là “Tổng thống cần phải được chuẩn bị để chấp nhận hai khái niệm hành quân: “Duck Hook ~ Móc  Vịt ” cần phải khốc liệt và bền vững ” cũng như là ” tự chế”. Về đòi hỏi thứ nhì, Tổng Thống sẽ cần phải quyết định trước “cái câu hỏi định mệnh là chúng ta chấp nhận sẽ đi bao xa. Ông sẽ không thể, chẳng hạn, đối đầu và quyết định về việc có phải sử dụng vũ khí hạch nhân chiến thuật hay không ngay trong khi chiến dịch đang tiếp diễn.  Ông sẽ phải sẳn sàng để có thể ra bất kỳ lệnh gì cần thiết trong trường hợp đó.”

Tài liệu thứ nhì mới vừa được giải mật liên hệ về vấn đề hạch nhân và được ghi ngày 2 tháng 10 năm 1969. Đó là một tập hồ sơ đệ trình hai biên bản ghi nhớ của Kissinger  gởi lên Nixon nhằm thông báo một bản báo cáo dài của ban tham mưu Hội Đồng An ninh Quốc Gia NSC về hiện trạng của kế hoạch quân sự Duck Hook ~ Móc Vịt  (xem tài liệu 2 tới 21). Báo cáo và các tài liệu đính kèm đã giải thích là mục tiêu căn bản của kế hoặch là nhằm buộc Hà Nội “phải chịu thương lượng một thỏa hiệp bằng một loạt các đòn quân sự”, mà sẽ có tính cách như một sự đi dây giữa hoặc là gây “tổn thất mà đất nước họ không thể nào chịu đựng được” và việc đưa đến “sự hủy diệt hoàn toàn đất nước hay chế độ, việc mà sẽ có khã năng khiến có các can thiệp chính yếu từ bên ngoài [của Liên Xô hay Trung cộng].”

“Khái niệm về các chiến dịch trong [Duck Hook ~ Móc Vịt]” đã là “rất khác xa với các cuộc hành quân không và hải trước đó” từng nhằm chống lại Bắc Việt. Nixon, Kissinger và các nhà hoạch định của họ đã tin là cái kiểu không tạc trước đó của Tổng thống Johnson ở Bắc Việt đã “không có tính cách liên tục” mà chỉ nhằm vào các mục tiêu hạn chế chỉ liên hệ đến cuộc chiến đang xẩy ra ở Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa). Các cuộc hành quân của Hook Duck ~ Móc Vịt, ngược lại, sẽ chuyên chú vào một loạt oanh kích “khốc liệt” bằng không và hải quân chỉ trong một “thời gian ngắn” đánh vào Bắc Việt để đạt được một “hậu quả quân sự và kinh tế lâu dài” và tạo một “tác động tâm lý mạnh mẽ vào giới lãnh đạo Hà Nội”. Phong tỏa bằng việc dùng phi cơ thả thủy lôi sẽ “cô lập”  các cảng Bắc Việt, trong khi sẽ có những phi vụ không tạc các mục tiêu chiến lược từ trước đến nay vẫn bị cấm. Trong số đó thì sẽ có “hệ thống đê điều ở đồng bằng sông Hồng.”  Bản báo cáo có nêu lên vấn đề hạch nhân trong một tập tài liệu đính kèm có tên “Các Câu Hỏi Quan Trọng” (xem tài liệu 21), trong đó đã có câu hỏi này: “Liệu chúng ta có nên chuẩn bị để sử dụng vũ khí hạch nhân hay không?”.

Những ám chỉ về vũ khí hạch nhân trong các tài liệu này đã không đủ để giải quyết thỏa đáng vấn đề liệu Nixon hay Kissinger đặc biệt có đòi hỏi những chiến dịch có sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân để chống lại Bắc Việt, nhưng chúng cũng đã tiết lộ là trong năm đầu của chính quyền Nixon, một số các cố vấn hàng đầu của Kissinger đã chủ trương là vấn đề sử dụng vũ khí hạch nhân cần được đưa ra hỏi ý kiền các nhà hoạch định quân sự. Điều này sẽ đưa đến việc là Lake, Morris và các thành viên của Nhóm Tháng 9 đã hiểu là Nixon và Kissinger đã tin vũ khí hạch nhân có tiềm năng mang lại hiệu quả trong các hoàn cảnh vào cuối năm 1969, và do đó, việc khã dỉ có thể sử dụng đến chúng cần phải được nghiêm chỉnh xem xét trong tiến trình soạn thảo kế hoạch quân sự dự phòng Duck Hook ~ Móc Vịt.

Mặc dù từng đã bắn tiếng qua những lời đe dọa nhắn gởi tới Hà Nội và Hội Đồng An ninh Quốc Gia NSC thì vẫn đang chuẩn bị cho Duck Hook ~ Móc Vịt, Nixon đã quyết định từ bỏ nó trong thời gian khoảng giữa ngày 2 và ngày 6 tháng 10. Đã có nhiều lý do khiến ông quyết định như vậy. Bộ trưởng Quốc phòng Laird và Ngoại trưởng William Rogers thì cùng phản đối mọi cuộc leo thang quân sự. Nixon bắt đầu tự nghi ngờ liệu rồi mình còn có thể duy trì được sự hỗ trợ của công chúng cho khoảng thời gian từ ba đến sáu tháng mà sẽ phải cần có để thực hiện Duck Hook ~ Móc Vịt.

Một quan ngại khác đã là cuộc biểu tình phản chiến chính trước đây dự định vào ​​ngày 15 tháng 10 và ngày 13 tới 15 tháng 11 – những lịch trình tình cờ lại bao gồm thời kỳ được dự định sẽ phát động Duck Hook ~ Móc Vịt – sẽ có thể có khã năng làm giảm niềm tin của toàn dân vào sự lãnh đạo của Tổng Thống và có thể gây ra thêm những cuộc biểu tình rộng lớn hơn nữa mà cũng sẽ làm giảm tác động tâm lý nhắm vào Hà Nội.

Dù sao thì gần đây, Nixon cũng đã đi đến kết luận là Bắc Việt đã không hề xao xuyến trước các lời đe dọa về quân sự đến từ ông như đã chỉ thị để phải thi hành từ tháng 7. Mặt trái của đồng tiền thì lại cho thấy sự kiện nay địch đã bắt đầu giảm thiểu việc phát động các cuộc chiến ở Nam Việt dường như cho thấy là chương trình Việt Nam hóa có thể đang có tiến bộ – một điềm tốt, nếu quả đúng vậy, vì nó cung ứng cho Nixon một giải pháp hầu thay thế Duck Hook ~ Móc Vịt.

Hơn nữa, các liên hệ ngoại giao cho đến nay cũng vẫn đã không khiến được Liên Xô gia tăng cộng tác làm áp lực đối với Bắc Việt, điều khã dỉ sẽ tác động vào các triển vọng thành công của Duck Hook ~ Móc Vịt.

Sau khi hủy bỏ Duck Hook ~ Móc Vịt, Nixon đã tin “điều quan trọng là không thể để bọn Cộng sản hiểu lầm là quyết định không thi hành một quyết định tối hậu như vậy đã là một điểm yếu trong cá tính của tôi.”

Trong một phản ứng kỳ lạ nhằm bù đắp cho việc hủy bỏ chiến dịch Duck Hook ~ Móc Vịt, ông đã phát động “Joint Chiefs of Staff Readiness Test ~ Trắc Nghiệm Mực Độ Sẵn Sàng của các Tham Mưu Trưởng Liên Quân”,  một thao diễn quân sự toàn cầu phức tạp và bí mật tiến hành từ ngày 13 đến 30 tháng 10 năm 1969 mà gần như là tương đương với một báo động về hạch nhân.

Nguồn gốc của ý tưởng báo động này có thể từng nằm trong một câu hỏi gián tiếp về hạch nhân trong tài liệu “Important Questions ~ Các Câu Hỏi Quan Trọng ” kèm theo báo cáo ngày 2 tháng 10 đệ trình Nixon về vụ Duck Hook ~ Móc Vịt (xem tài liệu 21): “Đồng thời chúng ta cần phải thi hành những hành động quân sự nào , ví dụ, chúng ta có nên đặt trong tình trạng báo động luôn các lực lượng chiến lược và / hoặc các lực lượng ở mọi vùng khác trên thế giới của chúng ta không? “

 

Là một trong những hoạt động quân sự bí mật lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ, cuộc thực tập đã gồm việc ngưng lại các chuyến bay huấn luyện nhằm tăng cường tình trạng  sẵn sàng ứng chiến, các báo động trên đất của Strategic Air Command  ~ Tư Lệnh Không Quân Chiến Lược và các thủ tục “bảo toàn mực độ sẵn sàng”, gia tăng tư thế sẵn sàng cao độ cho các đơn vị không quân ở hải ngoại, tăng gia các hoạt động hải quân, tăng cường việc theo dõi các tàu Liên Xô trên đường tới Bắc Việt và một màn “phô trương lực lượng” bằng một chiếc B-52 có trang bị vũ khí hạch nhân bay xuyên tiểu bang Alaska.

Mục đích của cuộc thực tập báo động đã là “ép” Liên Xô và Bắc Việt chịu nhượng bộ khi đàm phán – có lẽ cũng ngầm ám chỉ cho họ hiểu đó chỉ mới là giai đoạn chuẩn bị của kế hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt và / hoặc chứng minh khã năng sẵn sàng trong trường hợp Liên Xô phản ứng đối với việc Mỹ không tạc nặng nề như vậy. Hành vi báo động về hạch nhân này đã thất bại trong mục đích đe dọa cả Bắc Việt lẫn Liên Xô trước hạn chót 1 tháng 11 đã tuyên bố, nhưng nó lại đã có được một hậu quả không tiên liệu: nó đã buộc Trung cộng cũng báo động luôn –  phần để đáp ứng lại báo động của Mỹ và phần nào đối với những quyết định có thể có được của Liên Xô nhằm đáp ứng lại Mỹ. (Ghi chú 6)

Giải pháp hạch nhân vẫn còn trong tâm trí của Tổng thống Nixon vào năm 1972 khi ông bị dằn vặt về cách đối phó với vụ Bắc Việt tấn công vào dịp Phục Sinh.

Ngày 25 tháng 4, trong khi thảo luận về Chiến dịch ‘Linebacker’ nhằm dùng không quân Mỹ để trả đũa Bắc Việt, Nixon có tiết lộ cho Kissinger về ý muốn sử dụng “một quả bom hạt nhân” để thay thế cho việc không tạc hệ thống đê điều Bắc Việt, và đó cũng là một diển tiến mà ông rất lưu tâm. Ông cho là việc tấn công bằng hạch nhân một mục tiêu khác sẽ khã dỉ gây ra ít tổn thất dân sự hơn mà lại có được một tác động “tâm lý” mạnh mẽ  vào Hà Nội và Liên Xô. Nhưng Kissinger, các viên cố vấn và các nhà hoạch định khác đều có nhiều dè dặt và đứng trước các mối nghi ngại này, mà ông có thể đã từng được chia sẻ trong chốn riêng tư, Nixon đã từ bỏ ý định sử dụng vũ khí hạch nhân và “tạm” chấp thuận khái niệm chỉ dùng để đe dọa là có thể sử dụng chúng mà thôi. (Ghi chú 7)

Giới lãnh đạo ở Hà Nội vẫn luôn luôn nhận thức được khả năng chính quyền Nixon có thể thả bom hạch nhân Bắc Việt nhưng họ vẫn mãi tỏ ra rất là thách thức. Chẳng hạn nhân một cuộc họp ở Ba-lê vào ngày 4 tháng chạp năm 1972, trưởng đoàn đàm phán của Hà Nội là Lê Đức Thọ đã nói với Kissinger là “chúng tôi … đôi khi cũng nghĩ là quý vị cũng có thể sẽ sử dụng vũ khí hạch nhân bởi vì trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Phó Tổng thống Nixon đã từng đề xuất sử dụng vũ khí nguyên tử …. Nếu chúng tôi không đạt được … mục tiêu [của chúng tôi] trong kiếp này thì con cháu chúng tôi cũng  sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh …. Chúng tôi đã từng gánh chịu hàng chục triệu bom đạn. Tương đương bằng … 600 quả bom nguyên tử …. Sự thật đơn giản là chúng tôi sẽ không bị khuất phục mà chấp nhận trở thành nô lệ. Vì vậy, chúng tôi có thể nói thẳng với quý vị là các lời đe dọa và các lời hứa gian dối của quý vị quả thật đã không phải là  kiểu cách thực sự nghiêm túc để đàm phán. ” (Ghi chú 8)

Như với các chính quyền trước đó, việc cần phải cân nhắc tới một vài điều cấm kỵ đã khiến Nixon và Kissinger nản chí và từ bỏ việc sử dụng vũ khí hạch nhân tại Việt Nam. Tuy nhiên tính cách cường điệu về lý thuyết kẻ điên và việc họ phát động cuộc thực tập  báo động hạch nhân vào năm 1969 cũng đã cho thấy là quả họ từng nghiêm trang xem xét việc sử dụng các vũ khí hạch nhân hơn là các chính quyền trước đó. Chúng ta sẽ không thể nào trả lời dứt khoát cho vụ này chừng nào mà vẫn còn thiếu các tài liệu được giải mật hay được công bố hoặc các cựu quan chức cấp cao như Henry Kissinger với  Alexander Haig sẽ chịu sẵn sàng trả lời những câu thắc mắc về đề tài này.

Có vẻ như chính sách của chính quyền Bush đối với Iran cũng đã bị những điều cấm kỵ như vậy. Theo Seymour Hersh, “thì vào cuối tháng 4 [2006], các nhà lãnh đạo quân sự … đã đạt được một thắng lợi lớn khi Tòa Bạch Ốc không còn đòi hỏi họ phải chuẩn bị một chiến dịch không tạc mà có dự trù luôn khã năng sử dụng một thiết bị hạch nhân để hủy diệt nhà máy làm giàu chất ‘uranium’ của Iran tại Natanz”.

Lãnh đạo bởi Tướng Peter Pace, chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, các cố vấn về quân sự và về đối ngoại đã viện dẫn những thiếu thốn rất quan trọng về tin tình báo lien hệ đến chương trình hạch nhân của Iran và đã cảnh cáo sẽ có thể có những hậu quả tai hại về chính trị, quân sự, quốc tế và kinh tế nếu chính quyền chọn lựa giải pháp hạch nhân. (Ghi chú  9)

Có phải giống như vụ Việt Nam, các yếu tố lịch sử về điều cấm kỵ hạch nhân cũng đã ngăn chặn chính quyền Bush sử dụng loại vũ khí này trong một cuộc tấn công “phòng ngừa” vào một kẻ thù giả định chăng thì điều này cũng vẫn chưa được rỏ ràng.

*****

Tài liệu 1:

Document 1: Memorandum from Tony Lake and Roger Morris, NSC Staff, to Captain [Rembrandt] Robinson, Subject: Draft Memorandum to the President on Contingency Study, 29 September 1969, Top Secret/Sensitive.

Source: folder 4: VIETNAM: (General Files), Sep 69-Nov 69, box 74, National Security Council Files: Subject Files, Nixon Presidential Materials Project, National Archives.

Bản phúc trình này là phúc đáp của Lake và Morris cho bản dự thảo phúc trình của Robinson đệ trình lên Nixon về kế hoạch quân sự Duck Hook ~ Móc Vịt. Các tài liệu tham khảo liên quan đến vũ khí hạch nhân chiến thuật đều nằm ở cuối của phân đoạn.

Khi được hỏi về văn bản ngày 29 tháng 9 này cũng như là tài liệu ngày 2 tháng 10 dưới đây, Tony Lake có nói là ông “không hề nhớ đã soạn thảo kế hoạch sẽ dùng vũ khí hạch nhân” nhưng “ông chắc đã có nghe về một cái gì đó” mà đã khiến ông và Morris đã đề cập đến loại vũ khí này trong bản ghi nhớ đó.

(Các người viết đã không thể liên lạc  Morris để hỏi ý kiến; Rembrandt Robinson thì đã qua đời trong một tai nạn máy bay trực thăng ở Vịnh Bắc Việt năm 1972).

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird thì trả lời là ông chưa bao giờ thấy phúc trình ngày 29 tháng 9 và ông chưa hề bao giờ tin là vũ khí hạch nhân sẽ có thể làm thay đổi được  tình hình Việt Nam. Trong thực tế, ông lại còn tuyên bố là quả thật “nực cười” khi mà các nhà hoạch định lại đã có thể đưa ra vấn đề sử dụng vũ khí hạch nhân.

Nhưng Laird có nhớ lại là đối với Kissinger thì “không có gì là không đáng để đem ra nghiên cứu” đối với vụ Việt Nam; mối đe dọa hạch nhân đã “luôn luôn … như là một lựa chọn khã dỉ.” Đó đã “không phải là quan điểm của tôi,” và ông nói là ông từng nói với Kissinger vào dạo đó, “hãy bỏ qua đi”. (Ghi chú số 10)

Tài liệu 2 tới 2I:

Documents 2 through 21:

Document 2: Memorandum for the President from Henry A. Kissinger, Subject: Contingency Military Operations Against North Vietnam, 2 October 1969, Top Secret-Sensitive Eyes Only

Document 2A: Memorandum for the President from Henry A. Kissinger, Subject: Contingency Military Operations Against North Vietnam, 2 October 1969, Top Secret-Sensitive Eyes Only

Document 2B: Attachment A: “Conceptual Plan of Military Operations”

Document 2C: Attachment B: “Preliminary Assessment”

Document 2D: Attachment C: “Assessment of North Vietnam’s Actions and U.S. Counter-Courses”


Document 2E: Attachment D: “Soviet Reactions and U.S. Courses of Action”


Document 2F: Attachment E: “Assessment of Chinese Communist Actions and U.S. Counter-Courses”


Document 2G: Attachment F: “Integrated Diplomatic and Military Scenario”

Document 2H: Attachment G: “Draft of a Presidential Speech”


Document 2I: Attachment H: “Important Questions”


Source: Folder 2: Top Secret/Sensitive Vietnam Contingency Planning, HAK, October 2, 1969 [2 of 2], box 89, [except for 2E and 2F, which are in folder 6, box 122], NSC Files: Subject Files, Nixon Presidential Materials, National Archives.

Có lẽ do Lake, Morris, Robinson và các nhân viên tham mưu khác của Hội đồng An Ninh Quốc Gia soạn ra, các tài liệu này có thể không bao giờ đã tới được Nixon, tuy là có thể Kissinger cũng đã từng có báo cáo về tiến trình của kế hoặch này. Xấp biên bản ghi nhớ đầu tiên được gởi lên Nixon, mà Kissinger và Lake cùng soạn [xem tài liệu 2], tranh luận là nếu Tổng Thống quyết định xúc tiến các chiến dịch ném bom thì quyết định “phải được dựa trên một quyết định dứt khoát là sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để đạt được thành công “. Trang bìa tóm lược của một xấp gồm nhiều văn bản hơn [xem tài liệu 2A] đã cho thấy các mục tiêu của chiến dịch, kế hoạch khái niệm của các biến chuyển quân sự, các phản ứng rất có thể có từ Bắc Việt, Liên Xô và của Trung cộng và các phản ứng cấn thiết của Mỹ. (ghi chú số 11) (Bản sao của bản ghi nhớ dài này trong các tài liệu giấy tờ của Kissinger có dòng chữ “Duck Hook” viết tay trên trang đầu tiên.)

Mặc dù kế hoạch khái niệm về các hoạt động quân sự [xem tài liệu 2B] đã không hề đề cập đến việc sử dụng vũ khí hạch nhân, tài liệu đính kèm cuối cùng với tựa đề “Các Câu hỏi Quan Trọng” [xem tài liệu 2I], đã có bao gồm nhiều tài liệu tham khảo về hạch nhân, ngụ ý rằng vấn đề vẫn đã chưa ngã ngũ.

*****

Ghi Chú

* Các biên tập viên tri ân John Prados về những lời phê bình đối với một ấn bản trước của tài liệu phúc trình này.

Ghi chú 1

Về điều “cấm kỵ hạch nhân”, xin đọc Peter Hayes và Nina Tannenwald, “Nixing Nukes in Vietnam,” The Bulletin of the Atomic Scientists 59 (Tháng 5 – Tháng 6 Năm 2003): trang 52 – 59, cũng có tại  www.thebulletin.org; và Nina Tannenwald, The Nuclear Taboo: The United States and the Non-use of Nuclear Weapons Since 1945 (sắp xuất bản, Cambridge, MA: MIT Press). Về “lý thuyềt người khùng ~ madman theory,” hãy đọc  Jeffrey Kimball, Nixon’s Vietnam War (Lawrence: University Press of Kansas, 1998). Chương 4.

Ghi chú 2

Xem Seymour Hersh, “Last Stand,” The New Yorker, 10 tháng 7 năm 2006.

Ghi chú 3

Jean Sainteny nói với Nixon, 16 tháng 7 năm 1969, xấp hồ sơ: Mister “S,” Bộ1 (1 của 2), hộp 106, Country Files – Far East-Vietnam Negotiations, Henry A. Kissinger Office File, Nixon Presidential Materials, National Archives.

Ghi chú 4

Về việc soạn thảo Duck Hook ~ Móc Vịt, xin đọc Kimball, Nixon’s Vietnam War, trang 158-176; và Kimball, The Vietnam War Files: Uncovering the secret History of Nixon-Era Strategy (Lawrence: University Press of Kansas, 2004), trang 11-24 và chương 3.

Ghi chú 5

Viện dẫn trong Seymour Hersh, The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House (New York: Summit Books, 1983), trang 126-127; đọc thêm Tad Szulc, The Illusion of Peace: Foreign Policy in the Nixon Years (New York: Viking Press, 1978), trang 150-151. Lord đã được phỏng vấn bởi Jeffrey Kimball, 5 tháng chạp năm 1994, Washington, D.C.

Ghi chú 6

Về đề tài hủy bỏ Duck Hook ~ Móc Vịt và vụ thực tập báo động của Nixon vào năm 1969, hãy đọc William Burr và Jeffrey Kimball, “Nixon’s Secret Nuclear Alert: Vietnam War Diplomacy and the Joint Chiefs of Staff Readiness Test, October 1969,” Cold War History 3 (Tháng Giêng 2003): trang 113-156; Bulletin of the Atomic Scientists số 59, trang 1 (Tháng Giêng/Tháng 2 Năm 2003): trang 28-37, 72-73; và “New Evidence on the Secret Nuclear Alert of October 1969: The Henry A. Kissinger Telcons,”  Passport  số 36, trang 1 (Tháng 4 năm 2005): trang 12-14.

Khi bị Kimball phỏng vấn vào ngày 11 tháng 3 năm 2006 nhân một cuộc họp báo tại Thư viện Tổng Thống Kennedy về vụ báo động hạch nhân trong tháng 10 năm 1969, Kissinger tuyên bố sai lầm là Tổng Thống Nixon đã không hề phát động cuộc thực tập đó mà chỉ là một kế hoặch còn trong vòng chuẩn bị mà thôi. Nhưng trong lời giải thích thì rỏ ràng là ông ta đã lẫn lộn giữa đề tài trắc nghiệm mức độ sẳn sàng của Ban Tham Mưu Liên Quân JCS với Duck Hook ~ Móc Vịt. Đồng thời, ông cũng không hề xác nhận hay bác bỏ khái niệm là các kế hoặch gia của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia NSC đã từng có bàn cải về các giải pháp hạch nhân hay không. Mãi cho tới khi kết thúc những trao đổi ngắn về các biến cố này thì Alexander Haig nói là có nhớ quả đã từng có “readiness measures ~ những biện pháp sẳn sàng” nhưng ông ta đã quyết định không nói rỏ thêm gì nữa ngoài việc bổ túc sau đó là việc này đã xẩy sau cuộc họp của Kissinger với Đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin vào ngày 27 tháng 9 năm 1969 mà các kết quả tiêu cực đã khiến Nixon rất giận dữ.

Ghi chú 7

Biên bản Thảo luận tại Văn Phòng Hành Pháp mang số 332-35, Nixon và Kissinger, 25 tháng 4 năm 1972, Các Băng Thu Âm Tòa Bạch Ốc, NPMP;  Memcon, Buổi họp National Security Council ~ Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, 8 tháng 5 năm 1972, hộp số 998, Haig Memcons [Tháng Giêng tới Tháng Chạp 1972], Các hồ sơ theo thời gian của Alexander M. Haig, Hồ sơ của NSC, NPM. Về các tài liệu này và để có thêm chi tiết về những thảo luận liên hệ, hãy đọc Kimball, The Vietnam War Files, trang 214-217.

Ghi chú 8

Memcon, Kissinger và Thọ, 4 tháng chạp năm 1972, xâp hồ sơ: Sensitive Camp David – Bộ XXII, Biên Bản các Buổi Họp tại Ba-lê từ 4 đến 13 tháng chạp, hộp 859; Về các tài liệu Hồ sơ của Tổng Thống (Winston Lord) — Chuyến công du Trung Cộng / Vietnam, 1972, NSCF, NPM.

Ghi chú 9

Hersh, “Last Stand,” The New Yorker, 10 tháng 7 năm 2006.

Ghi chú 10

Lake, phỏng vấn qua điện thoại bởi J. Kimball,  14 tháng chạp năm 2005; Laird, phỏng vấn qua điện thoại bởi W. Burr, 1 tháng chạp năm 2005.

Ghi chú 10

Cả hai tập bìa tóm lược các tài liệu đều có thể đã cùng là những bản sao đang được soạn thảo, mà một thì do Kissinger dự trù sẽ đệ trình Nixon. Số vừa mới được xuất bản của Foreign Relations of the United States, 1969-1976, Bộ VI, Vietnam, Tháng Giêng 1969 – Tháng 7 Năm 1970 (Washington, D.C., Government Printing Office, 2006), trang 418-420, đã đăng lại bản tường trình thứ nhì, dài hơn như đã được tìm thấy trong các giấy tờ của Kissinger tại Thư viện Quốc Hội. Các biên tập viên của FRUS dù sao cũng có ghi nhận là tài liệu này đã không hề được gởi tới Nixon. Do đó, có thể là cả hai bản tài liệu này đều đã không hề gởi tới được cho Nixon hay là bản tường trình thứ nhất chỉ là một bản sao và ngay cả chính báo cáo đó, có đã quả thật được đệ trình Nixon hay không?

*******

5/

http://uselectionatlas.org/FORUM/index.php?topic=80341.0

Nixon launches Operation Duck Hook

August 06, 2008, 04:48:39 am

Trong suốt năm 1969, chính quyền Nixon đã chuẩn bị cho kế hoạch Duck Hook ~ Móc Vịt.

Các chiến dịch được đề xuất sẽ gồm việc Mỹ đánh phá tan hoang các mục tiêu kinh tế và quân sự ở Bắc Việt, chính yếu là chung quanh Hà Nội và hải cảng Hải Phòng. Chính quyền Nixon đã hy vọng là nếu chiến dịch được phát động vào đầu năm 1970 thì sẽ buộc được Bắc Việt tới bàn hòa đàm. Tuy nhiên, do áp lực từ ngay các Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird và thậm chí cả Cố vấn An ninh Quốc gia thân cận của Tổng thống Nixon là Henry Kissinger, Tổng thống Nixon đã bắt buộc phải từ bỏ kế hoạch đó vào tháng 10 năm 1969.

Tuy nhiên, liệu đã sẽ ra sao nếu Tổng thống Nixon đã không bao giờ từ bỏ kế hoặch Duck Hook ~ MócVịt  trong tháng 11 năm 1969 và chiến dịch đã thực sự khởi đầu vào đầu năm 1970?

Liệu mưu tính của Tổng thống để buộc Bắc Việt đến bàn hòa đàm qua việc gia tăng leo thang quân sự có sẽ thành công hay không? Liệu cuộc chiến tranh Việt Nam đã có thể khác hẳn nhờ việc sử dụng các vũ khí hạch nhân chiếu theo đề nghị của Kissinger hay ngay cả chính Tổng thống Nixon? Các câu hỏi liên quan đến kế hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt quả  là vô tận nhưng cũng không kém phần thú vị .

*******

6/

www.tclementrobison.com  hay www.amazon.com

image004 

Operation Duck Hook

 By T. Clement Robison

Tiểu thuyết xuất bản ngày 12/26/2012

 image007

Tác giả T. Clement Robison là một quân nhân giải ngũ vì lý do phế tật. Sau đó, ông đã trở thành luật sư, giáo sư luật và điều hành tòa án. Năm 2005, ông được đề cử vào U.S. Army Ranger Hall of Fame at Trại Fort Benning Gạieorgia. Ông có ba người con trai và sống với vợ ở Nam Carolina. Ông đã viết ba cuốn sách.

Trong một nỗ lực để kết thúc chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Richard M. Nixon đã hoàn thành một kế hoạch kinh khủng và đã từng đặt quân đội Hoa Kỳ trong một tình trạng báo động chiến đấu cao độ nhất nhân khi phát động một diển tiến nguy hiểm nhất  mà từng được quyết định chỉ bởi một nhà lãnh đạo của một quốc gia nào đó trên thế giới. Cường độ hiểm nguy đã tới mức có thể gây ra một cuộc thế chiến.

Để tránh được thảm họa, bây giờ thì chỉ còn trong tay của duy chỉ một người.  Nhưng không còn thể nào chần chờ. Khi phải đối mặt với khã năng làm được hay không một việc gần như hoàn toàn không làm được và lại bị phản bội bởi chính những người mà mình từng tin tưởng, John Coletrane đã được yêu cầu để vừa bảo toàn được bí mật mà lại đồng thời giúp được cho chính phủ Hoa Kỳ khỏi phải hủy diệt biết bao là sinh mạng. Và chỉ nhờ lòng can đảm cùng quyết tâm mà người cựu chiến binh đã hoàn thành được nhiệm vụ của mình, vừa bảo vệ được bí mật, trong khi cố gắng cầm cự để không bị quá khứ phá nát định mệnh mình.

Dựa vào những sự kiện thực tế, chuyện kể này đầy căng thẳng và sôi động quả đã là một tường trình về các âm mưu quốc tế hay tuyệt nhất.

*******

7/

http://archives.econ.utah.edu/archives/marxism/2003w31/msg00295.html

 DMS đã viết:

Nó đã không thể nào kể xiết nổi tàn bạo của cuộc chiến.

Tại Tòa Bạch Ốc, việc chuẩn bị cho cú đấm quyết định của Nixon đã vẫn được xúc tiến.

Qua trung gian ngõ hậu tiếp xúc với các sĩ quan hải quân Mỹ, Kissinger đã yêu cầu họ soạn thảo nghiên cứu một kế hoặch tối mật với cái tên mật mã khá kỳ lạ là “Duck Hook ~ Móc Vịt”. Cuộc nghiên cứu đã được hoàn tất mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird hoàn toàn không hề biết gì cả. Họ đã đề nghị không tạc nặng nề các trung tâm dân cư và mục tiêu quân sự Bắc Việt; phong tỏa bằng thủy lôi các hải cảng và các sông ngòi; bỏ bom hệ thống đê điều và hỏa xa của Bắc Việt nhằm nối liền với Trung cộng; đổ bộ  xâm chiếm miền Bắc và phá hủy, có thể bằng các thiết bị hạt nhân với năng suất thấp các đường đèo chính dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Một bản nghiên cứu khác đã nhằm dùng vũ khí hạch nhân chiến thuật để phá hủy hệ thống hỏa xa. Kế hoạch được dự trù sẽ kéo dài trong bốn ngày và có thể được lặp đi lặp lại, nếu cần thiết.

Các mẫu đối thoại đã đều rất cứng rắn. Roger Morris có nhớ lại là “Savage ~ Khốc liệt đã là một danh từ cứ được sử dụng đi sử dụng lại”.

Kissinger chỉ thị cho một nhóm “Top Secret – Sensitive ~ Tối Mật – Nhạy Cảm” mà ông đã thành lập để phân tích nghiên cứu về khã năng quân sự hầu lập một kế hoạch chi tiết cho một chiến dịch “khốc liệt để trừng phạt”.

“Tôi không thể nào chấp nhận được là một quyền lực vào cở hạng tư như Bắc Việt mà sẽ không thể bị khuất  phục được”, đó đã là phán đoán của Kissinger đối với nhóm này.

*******

8/

http://news.google.com/newspapers?nid=437&dat=20060802&id=RkMzAAAAIBAJ&sjid=ASUMAAAAIBAJ&pg=2327,7788604

Nixon cân nhắc giải pháp hạch nhân ‘Duck Hook ~ Móc Vịt’ ngõ hầu tìm giải pháp cho Việt Nam vào năm 1969 (AP Washington)

Gần đây các tài liệu giải mật đã cho thấy là trong năm đầu tiên nhiệm kỳ của mình, vì nôn nóng muốn kết thúc một cuộc chiến mất nhân tâm mà đã cướp đi mạng sống của cả hàng chục ngàn binh sĩ Mỹ, Tổng thống Nixon đã có nghỉ tới việc sử dụng vũ khí hạch nhân chống lại Bắc Việt.

Chiếu theo một bản phân tích trong các tài liệu Văn Khố Lưu Trữ của Hội Đồng An ninh Quốc Gia thì cho đến giữa năm 1969, Nixon và Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger đã quyết định cùng thi hành một chiến lược là cùng phối hợp vận động ngoại giao quốc tế song song với việc đe dọa dùng vũ lực để đối phó với giới cầm quyền cộng sản miền Bắc trong một nỗ lực để buộc họ phải nhượng bộ.

Kissinger và ban tham mưu bắt đầu soạn thảo kế hoạch quân sự dự phòng dưới tên mật mã “Duck Hook ~ Móc Vịt”. Ông cũng thành lập một ủy ban trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) để đánh giá các kế hoặch bí mật được chuẩn bị bởi Ban Tham Mưu các Tham Mưu Trưởng Liên Quân thuộc Ngũ Giác Đài và các nhà hoạch định quân sự ở Sài Gòn.

Các tài liệu được giải mật đã nêu lên câu hỏi liệu vũ khí hạch nhân có đã được quyết định sẽ sử dụng trong chiến dịch đánh Bắc Việt hay không?

Một tài liệu đề ngày 2 tháng 10 năm 1969 là một bản ghi nhớ Kissinger đệ trình Nixon, nhằm báo cáo một phúc trình của ban tham mưu Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) về tiến trình của việc soạn thảo kế hoạch quân sự “Duck Hook ~ Móc Vịt”. Báo cáo cho biết mục tiêu căn bản của chiến dịch là nhằm ép buộc Hà Nội “phải chấp nhận thương thuyết bằng một loạt hoạt động quân sự khốc liệt”, mà sẽ rất là tế nhị như phải đi dây giữa việc giáng xuống “một thiệt hại mà đất nước họ không thể nào chịu nổi” và gây ra “sự tàn phá hoàn toàn của quốc gia hay chế độ đó”.

Nhưng Nixon đã loại bỏ Duck Hook ~ Móc Vịt gần sau ngày 2 tháng 10. Cả hai vị bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại Giao của ông, Melvin Laird và William Rogers, đều cùng phản đối kế hoạch này. Ngay Nixon thì cũng dường như bắt đầu nghi ngờ liệu mình sẽ có thể duy trì được sự hỗ trợ của công chúng trong suốt giai đoạn ba đến sáu tháng mà kế hoạch có thể sẽ đòi hỏi. Ông cũng kết luận ra là những đe dọa về quân sự chống lại Bắc Việt đã không có hiệu quả gì cả.

*****

 

 

Một phản hồi to “Kế Hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt”

  1. BRNN 10/05/2013 at 03:59 #

    Chiến dịch Duck-Hook~Móc Vịt không thể thực hiện vì Hoa Kỳ ngại đối đầu với Tàu Cộng như đã từng xảy ra trong chiến tranh Cao-Ly 1953.Vả lại sau khi Kissinger đã đi đêm với Chu ân Lai thì Hoa Kỳ đã giao số phận Việt Nam cho Tàu Cộng rồi !….Nếu không vì vụ Watergate buộc Nixon phải từ chức thì có thể chiến dịch này sẻ được mang ra áp dụng khi Cộng sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris 1973 ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 36 other followers

%d bloggers like this: